“Tòng Đón - Ăm Ca” của người Thái Tây Bắc từ góc nhìn văn hóa

Truyện thơ “Tòng Đón - Ăm Ca” được xem là một viên ngọc quý trong kho tàng văn học dân gian vốn rất phong phú của dân tộc Thái, mang đậm bản sắc văn hóa của người Thái Tây Bắc.

Vài nét khái quát về người Thái Tây Bắc

Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, trong đó có vùng Tây Bắc Việt Nam. Người Thái cư trú ở các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa, Hòa Bình, Yên Bái, hầu khắp tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, ngoài ra còn có mặt ở các tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên. Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số 01/4/2019, người Thái ở Việt Nam có dân số khoảng 1.820.950 người, là tộc người có dân số đông đứng thứ 3, sau người Việt và người Tày.

Địa bàn cư trú của người Thái là vùng rừng núi trùng điệp, rộng bao la. Họ sống xen kẽ, đoàn kết, gắn bó với các tộc người khác. Trải qua trường kỳ lịch sử, người Thái có sự giao thoa, thẩm thấu với các dân tộc khác về phong tục tập quán, tín ngưỡng, văn hóa, văn nghệ...

“Tòng Đón - Ăm Ca” của người Thái Tây Bắc từ góc nhìn văn hóa - 1

Phụ nữ dân tộc Thái

Ngày nay, có một số dân tộc tự nhận mình là người Thái, họ ăn mặc như người Thái, sử dụng tiếng Thái trong giao tiếp hàng ngày (trường hợp một số nhóm người Khơ Mú, La Ha, Xing Mun). Ngược lại, một số người Thái cũng không nói được tiếng Thái, sinh sống, phong tục tập quán giống như người Việt. Phụ nữ Thái Đen rất ít người còn “tẳng cẩu” (búi tóc gọn gàng trên đỉnh đầu và một chiếc trâm bạc điểm xuyết) khi đã lấy chồng, không mặc áo cóm, váy đen, thắt lưng xanh (trường hợp những người trẻ tuổi, sống ở thị trấn, thị xã, thành phố). Tuy nhiên, qua hàng nghìn năm lịch sử, phần lớn tộc người Thái vẫn giữ được bản sắc dân tộc trong tính cách, phong tục, văn hóa, văn nghệ. Có được điều này là bởi sự đóng góp công sức không nhỏ của các nghệ nhân dân gian, của những người làm công tác văn hóa, văn nghệ, trong bảo tồn, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

Có thể có những cách hiểu khác nhau về văn hóa, nhưng cách hiểu chung nhất thì văn hóa “là một khái niệm mà con người dùng để biểu thị những sự vật, hiện tượng đã được nhận thức, cải tạo hoặc sáng tạo” (Cầm Trọng, Phan Hữu Dật - Văn hóa Thái Việt Nam - NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội - 1995). Với cách hiểu như vậy, văn hóa Thái có đầy đủ các thành tố của một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc.

Người Thái vẫn thích ở nhà sàn truyền thống bởi sự thoáng mát, tiện lợi trong sinh hoạt. Các cô gái Thái vẫn thích mặc bộ váy, áo “cóm” để làm nổi lên những đường cong tuyệt đẹp của thân thể khỏe mạnh. Vào những ngày lễ tết, công việc nông nhàn, họ vẫn tổ chức các lễ hội, say sưa với vòng xòe vui bất tận; hò theo những điệu “khắp” mượt mà thâu đêm; Những kinh nghiệm tích lũy qua hàng nghìn năm về vật nuôi cây trồng vẫn giúp họ chăn dắt, canh tác trên những thung lũng hoặc triền đồi thoai thoải. Hàng đêm, bất kể già trẻ, gái trai, vẫn say sưa dõi theo các nghệ nhân dân gian kể hát những bản tình ca, những truyện thơ dài hàng nghìn câu; Trai gái hào hứng tung những quả còn cho bạn tình bắt, những trận cười sảng khoái với trò chơi “tó mák lẹ”, đánh đu, đẩy gậy...

Đặc biệt dân tộc Thái có chữ viết riêng từ lâu đời nên lưu giữ được gần như nguyên vẹn các bộ sử thi Táy pú xớc, Quám tô mương; Những truyện thơ Tản chụ xống xương, Tản chụ xiết xương, Xống chụ xon xao, Khun Lú - Nàng Ủa, Tòng Đón - Ăm Ca...

Người Thái quan niệm, “con người là chúa tể của muôn loài, là cây hoa trần gian” (phủ côn lỏ chảu chom sắt sính mạy tók, lỏ co bók mương lum), như vậy con người là tinh hoa muôn loài, được “Me Bảu” (Bà Then Đúc) chế tạo ra từ các chất tinh túy nhất. Họ cũng cho rằng, tất cả các bộ phận trên cơ thể con người đều có “hồn” (phi khuôn). Có 80 hồn “xam xíp khuôn mang nả, hả xíp khuôn mang lăng” (ba mươi hồn đằng trước, năm mươi hồn đằng sau), có thể còn nhiều hơn.

Hồn chính ở trên đầu là quan trọng nhất, hồn chủ này cũng thường hay đi chơi, lang thang khắp đó đây, nhiều khi không chịu về, làm con người ốm đau, bệnh tật. Những lúc như vậy, người thân phải tổ chức “panh khuôn” (sửa hồn”  hay “hịa khuôn” (gọi hồn) để hồn khỏe mạnh, không còn dời xa nữa. Khi chết thì phần hồn, chất khí mà mắt ta không nhìn thấy, lìa khỏi xác và được cúng bái, đưa tiễn lên trời bằng những nghi lễ chu đáo, cẩn thận. Sau đó, nếu là người chết già thì hồn được rước về trú ngụ ở “hóng” thành “đẳm đoi” (tổ tiên), thường xuyên được cúng giỗ. Còn phần xác, là vật chất mắt ta nhìn thấy, được chôn cất hoặc hỏa táng nơi nghĩa địa “pá heo” và dường như ít được quan tâm.

Vũ trụ quan của người Thái có nhiều tầng, khoảng không trên cùng là nơi trú ngụ của các Then, một thế giới tưởng tượng. Các Then cũng có cuộc sống riêng, họ nắm giữ các quyền lực siêu phàm, họ “sinh” ra và nắm giữ số mệnh  con người, vạn vật, có thể chở che cũng có thể làm hại muôn loài. Trên mặt đất là nơi sinh sống của con người và vạn vật, là thế giới thực.

Ở đó còn “tồn tại” một thế giới ảo, đó là thế giới của các “phi” (ma). Các “phi” sống lẫn với thế giới con người, sống trong tưởng tượng, lẩn quất nơi rừng núi, nơi bóng tối, hang động...Có “phi” tốt và có rất nhiều “phi” xấu, các “phi” cũng có quyền lực cao siêu, hô mưa, gọi gió, điều khiển thiên tai, đổi thay hoặc giết chết muôn vật. Con người muốn được bình an, muốn được phù hộ thì phải chăm cầu cúng các “phi”. Chuẩn bị lễ cúng phải hết sức cẩn thận, đầy đủ và phải thành tâm.  

Đặc biệt, cũng như một số dân tộc khác, còn một thế giới nữa dưới nước, đó là thế giới của các loài thủy quái, với người Thái, đáng sợ nhất và cũng đáng nể phục nhất là thuồng luồng. Đây là loài vật trong trí tưởng tượng của con người, được hình dung na ná như cá sấu, thân hình to lớn dữ tợn, có mào đỏ trên đầu, có vòng màu đỏ quanh cổ. Trong các truyền thuyết cổ xưa, Thuồng luồng thường sống dưới nước, nơi vực sâu, bơi lội rất giỏi, có khả năng siêu phàm. Bình thường, loài vật này sống thân thiện, giúp đỡ con người, được con người thờ cúng, kêu cầu. Một số nghĩa binh xưa, khi ra trận còn vác theo lá cờ có thêu hình thuồng luồng màu đen, coi như một sức mạnh vô địch.

Tuy nhiên, thuồng luồng sẽ trở nên hung dữ, phá hoại hoặc giết chết nhiều người, nếu xâm phạm lãnh thổ hoặc giết chết đồng loại của nó. Cũng như Thuồng luồng, trong tưởng tượng, còn có nhiều loại “phi” khác như “phi pá”(ma rừng), “phi cướt” (ma hại bà đẻ), “phi phống” (ma cà rồng)... Các loài “phi” này, có lúc là “bạn” của con người, có lúc là “thù” của muôn loài.

Truyện thơ “Tòng Đón - Ăm Ca” là bài ca ca ngợi người phụ nữ Thái 

Cũng như nhiều truyện thơ Thái khác, “Tòng Đón - Ăm Ca” là tác phẩm thơ hóa truyện cổ tích. Điều này thấy rõ khi so sánh câu chuyện cổ tích với cách khai thác của truyện thơ. Tác giả dân gian đã kể lại câu chuyện cổ bằng lời thơ có vần điệu. Trong các truyện thơ, hơn bao giờ hết, chúng ta thấy rõ khả năng diễn đạt thật phong phú, tinh tế của ngôn ngữ dân tộc Thái. Từ những vấn đề phức tạp như lời thoại hoặc tâm trạng phức tạp của các nhân vật, đều được tác giả diễn đạt bằng thơ rất trau chuốt.

“Tòng Đón - Ăm Ca” của người Thái Tây Bắc từ góc nhìn văn hóa - 2

Truyện thơ “Tòng Đón - Ăm Ca” ca ngợi người phụ nữ Thái

Các truyện thơ Thái khác, phần nhiều là đẫm tràn nước mắt của những mối tình tan vỡ, của những cái chết để lại bao đau xót, của những sự phụ thuộc vào quy định xã hội đương thời... Ở tác phẩm “Tòng Đón – Ăm Ca” thì khác, chúng ta lại thấy mối tình rất đẹp, lãng mạn của đôi trai tài, gái sắc. Họ vượt ra khỏi những điều cấm kỵ, thực hiện được những điều kỳ lạ, vượt ra khỏi kuôn khổ của xã hội tiền phong kiến, với những luật lệ hà khắc, kể cả luật thành văn và bất thành văn. Chúng tôi cho đây là những “điều lạ”:

“Điều lạ” thứ nhất, nàng Ăm Ca xinh đẹp, tài giỏi đứng ra giúp cha cai quản bản mường, việc này được Phìa cha và Hội đồng bô lão nhất trí cho phép. Sau này, ông phìa Cầm Coong còn giao hẳn việc cai quản bản mường cho nàng và chồng nàng - tạo Tòng Đón.  Điều này “lạ” vì trong khi luật mường xưa không cho phép người phụ nữ tham gia vào công việc triều chính. Thậm chí không được bàn luận đến công việc bản mường. Xã hội xưa, phụ nữ muốn đi học, con gái muốn thay cha đi “chầu”, người phụ nữ muốn đi đánh giặc… còn phải đóng giả trai mới được. Họ cũng phải “tam tòng”, ở nhà phải phụ thuộc vào cha, lấy chồng phải theo chồng. Thân phận của họ là gắn với nương rẫy, đồng áng, dệt vải, thêu thùa...

Tác giả dân gian giải thích điều “lạ” này là do tài năng xuất chúng của Ăm Ca, vậy cũng là hợp lý. Chúng tôi muốn nói ở đây là quan điểm của tác giả dân gian truyện thơ này rất tiến bộ, vượt ra khỏi thói thường, vượt ra khỏi những điều cấm kỵ của xã hội phong kiến.

“Điều lạ” thứ hai, lệ bản luật mường xưa cấm con cái của tạo phìa, quý tộc không được kết hôn với trai gái con nhà thường dân. Ấy vậy mà nàng Ăm Ca lại yêu, rồi kết hôn với chàng Tòng Đón mồ côi cha từ nhỏ, nghèo khó, ăn mặc rách rưới. Hơn thế, mối tình của họ lại được Hội đồng bô lão, ông phìa, bà nàng ủng hộ, đồng ý. Mặc dù truyện thơ đã biện minh cho mối tình này là do Then trên trời  se duyên, sắp đặt nhưng chúng ta vẫn có thể nói rằng sức mạnh tình yêu đã vượt lên tất cả. Mối tình của họ thật đẹp, ngay từ lần gặp gỡ đầu tiên, họ đã mất ăn, mất ngủ vì nhớ nhung. Trong tình yêu, nàng Ăm Ca luôn chủ động cả lời nói và hành động. Cách thể hiện tình cảm của họ cũng thật nồng thắm và táo bạo, vượt qua mọi ngăn cản của lễ giáo phong kiến. Đó là một tình yêu tự do, phóng khoáng, không có sự toan tính,  bất chấp mọi hoàn cảnh.

“Điều lạ” thứ ba, Tòng Đón - Ăm Ca sẵn sàng từ bỏ cuộc sống giầu sang, vương giả, cuộc sống trong nhung lụa để ra đi khai hoang, mở đất, đắp phai, đào mương... Họ cùng sống kham khổ, làm lụng vất vả với những người lao động nghèo khác. Ý định khai khẩn đất hoang thành ruộng đã được nàng ấp ủ từ thời con gái, trong những cuộc dạo chơi. Hình ảnh Ăm Ca đi chơi đến đâu, nàng đánh dấu, đặt tên cho những vùng đất đến đấy thật đẹp và hiếm thấy trong xã hội xưa! Phải chăng nàng sinh ra là để làm việc khai hoang, mở đất, lập nên những bản làng mới? Khi lấy chồng, nàng đã cùng chồng thực hiện ước mơ mở mang bản mường, chăm lo cho cuộc sống của những người dân nghèo.

Một “điều lạ” nữa, trong cuộc sống lao động sản xuất, khi gặp khó khăn không thể vượt qua thì Tòng Đón - Ăm Ca lại nhờ cậy đến thần linh (thần thuồng luồng) giúp đỡ. Lẽ đương nhiên, thần linh đã giúp thì mọi việc đều được giải quyết. Thậm chí, một mong ước mới chỉ đến trong suy nghĩ của Tòng Đón mà thần thuồng luồng đã biết và giúp chàng thực hiện được mong ước đó! (khi Tòng Đón ước mơ đào ao thả cá, thần thuồng luồng đã giúp chàng có “nong mon ngựa tánh”).

Qua đây, chúng ta thấy nét đời sống tâm linh của tộc người Thái, họ tưởng tượng có một thế giới dưới nước. Ngự trị thế giới này là thần thuồng luồng, có sức mạnh vô địch khi giúp con người đắp phai, khơi mương, đào ao. Dường như thuồng luồng rất thân thiết với con người, sẵn sàng giúp đỡ con người. Nhưng khi đồng loại bị ăn thịt, cuộc sống của chúng bị xâm phạm thì chúng nổi giận và tàn phá ghê gớm, dìm cả bản xuống vực nước sâu. Điều này cũng chứng tỏ người Thái sống gần gũi, hòa hợp với thiên nhiên và cũng rất sợ sức tàn phá khi thiên nhiên nổi giận. 

Về nghệ thuật, truyện thơ “Tòng Đón - Ăm Ca” thành công lớn trong việc miêu tả tâm trạng nhân vật. Lần đầu tiên gặp Tòng Đón, chàng trai nghèo khổ, quần áo sờn rách, vá chằng vá đụp vậy mà nàng Ăm Ca đã đem lòng yêu thương. Trở về nhà, cả hai nhớ nhau đến không ăn, không ngủ, hai người yêu nhau cả trong giấc mộng, mặc dù họ chưa nói với nhau câu nào. Rồi tâm trạng háo hức gặp lại nhau tại điểm hẹn (được báo mộng trước) của đôi trai gái. Những tâm trạng ấy, được tác giả dân gian miêu tả bằng hàng loạt câu thơ tình tứ, giầu sức biểu cảm. 

Truyện thơ cũng rất thành công khi miêu tả thảm cảnh của dân bản Chiềng On, vô tình ăn thịt hoẵng trắng (đồng loại của thần thuồng luồng biến thành). Cả bản bị nhấn chìm xuống vực, trở thành hồ sâu thả cá. Đó phải chăng là biểu tượng tàn phá ghê gớm của thiên nhiên khi bị con người xâm phạm. “Tòng Đón - Ăm Ca” đã miêu tả rất thành công sức mạnh của thiên nhiên khi “giúp đỡ” con người, cũng như sức mạnh khủng khiếp khi thiên nhiên “nổi giận”.

Truyện thơ “Tòng Đón - Ăm Ca” đã sử dụng rất nhuần nhuyễn thể thơ cổ và ngôn ngữ Thái cổ. Rất tiếc bản dịch, tuy đã rất cố gắng nhưng đã không chuyển tải được hết cái hay, cái đẹp của thể thơ và ngôn ngữ đó.

Trong quá trình sưu tầm, dịch và tìm hiểu về truyện thơ “Tòng Đón - Ăm Ca”, chúng tôi đã tham khảo nhiều tài liệu có liên quan, cũng như sự giúp đỡ rất hiệu quả của các nghệ nhân dân gian. Chúng tôi trân trọng sự giúp đỡ đó và xin giới thiệu cùng bạn đọc gần xa một viên ngọc quý trong kho tàng văn học dân gian vốn rất phong phú của dân tộc Thái.

Lò Bình Minh

Tin liên quan

Tin mới nhất

Bài hát nổi tiếng của những nhạc sĩ... tay ngang

Bài hát nổi tiếng của những nhạc sĩ... tay ngang

Họ không phải là người cầm bút chuyên nghiệp bởi sáng tác không phải là công việc họ chuyên tâm hàng ngày. Không phải ai cũng là hội viên một hội văn học, nghệ thuật nào. Số lượng tác phẩm của họ ít ỏi, có người cả đời chỉ viết một bài thơ, một truyện ngắn hoặc một ca khúc. Lâu nay, ta vẫn quen gọi họ là những người cầm bút “tay ngang”. Lĩnh vực văn nghệ nào cũng có, nhưng

Kết quả thi đấu tennis đơn nam Wimbledon 2026 mới nhất

Kết quả thi đấu tennis đơn nam Wimbledon 2026 mới nhất

Cập nhật kết quả thi đấu đơn nam Wimbledon 2026 nhanh chóng và chính xác nhất. Tổng hợp tỷ số tennis trực tuyến, bảng xếp hạng và diễn biến mới nhất của các siêu sao Djokovic, Sinner hôm nay tại giải quần vợt All England Club.

Lịch thi đấu tennis đơn nam Wimbledon 2026 mới nhất

Lịch thi đấu tennis đơn nam Wimbledon 2026 mới nhất

Cập nhật chi tiết lịch thi đấu đơn nam Wimbledon 2026 mới nhất. Theo dõi hành trình của Jannik Sinner, Carlos Alcaraz và Novak Djokovic tại giải Grand Slam sân cỏ khởi tranh từ ngày 29/6 đến 12/7 để không bỏ lỡ các trận cầu kịch tính.