Về nơi cả làng làm thơ
Giữa nhịp sống đô thị hóa đang lan nhanh về các vùng ven Hà Nội, có một ngôi làng vẫn lặng lẽ giữ cho mình một mạch nguồn văn hóa riêng. Ở đó, thơ không phải thú vui tao nhã của số ít người, mà trở thành ký ức chung, thành cách làng tự kể câu chuyện của mình suốt hơn ba mươi năm qua. Hưng Giáo, “làng thơ - thơ làng” ven đô Hà Nội, đang gìn giữ hồn quê bằng những vần thơ mộc mạc mà bền sâu như mạch nước ngầm.
Con đường dẫn vào Hưng Giáo vẫn mang dáng dấp của một làng Bắc Bộ điển hình, hàng tre, trúc già đổ bóng, cổng làng mới xây dựng lại, đứng uy nghi đưa du khách về nơi cánh đồng mở ra theo nhịp gió, mái đình bên mái chùa trầm mặc sau lớp rêu phong. Nhưng ẩn sau vẻ bình dị ấy là một chiều sâu lịch sử đáng tự hào.
Nếu có ai đó rời Hưng Giáo từ thuở ban đầu CLB Hoa Quê ra đời, rồi nay trở lại, hẳn sẽ ngỡ ngàng trước những con đường bê tông rộng mở, nhiều ngôi nhà lộng lẫy khang trang, chùa, đình xây, sửa nguy nga, con người hào hoa phong nhã… thay cho lối ngõ gạch vỡ lô nhô, những con đường đất lầy lội rêu phong, trước sự vắng bóng của tiếng mõ trâu chiều lẫn trong mùi rơm rạ ngày xưa. Nhưng giữa bao đổi thay ấy, làng vẫn còn nguyên những gương mặt quen, những cái bắt tay chặt, những tiếng cười mộc hậu và đặc biệt là những câu thơ đi cùng năm tháng.


CLB Hoa Quê
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và đô thị hóa đang làm mờ dần nhiều bản sắc văn hóa truyền thống, hành trình của CLB Hoa Quê có thể được nhìn như một sự “giữ lửa” bền bỉ. Mỗi nhà thơ làng, theo nghĩa ấy, không chỉ là người sáng tác, mà còn là một “nhà văn hóa” góp cho mỗi “làng thơ” là một “thành trì văn hóa” nhỏ, kiên trì gìn giữ hồn cốt quê hương trước những cơn sóng lớn của thời cuộc. Và Hoa Quê Hưng Giáo sau hơn ba mươi lăm năm xây dựng và trưởng thành, đã chứng minh mình là một thành trì như thế.
Thơ Hoa Quê, nhìn từ góc độ văn hóa, giống như những trang nhật ký tập thể được “vần điệu hóa”. Qua nhịp cầu thất ngôn, qua dòng kênh lục bát, hàng nghìn bài thơ trong trẻo như lời ca đã được viết nên bởi hàng trăm tác giả thuộc nhiều thế hệ. Ở đó, hiện lên một làng quê thanh bình đang chuyển mình từng ngày, với đường làng, bờ ruộng, hàng cây, luống cày, và cả những nỗi buồn rất khẽ, rất người, rất tao nhã.
Điều đáng quý là đội ngũ hội viên nòng cốt của CLB suốt nhiều năm qua phần lớn là người cao tuổi, những lão nông từng “tay cày tay cuốc”, những cựu chiến binh, cựu thanh niên xung phong đã đi qua bom đạn chiến tranh, nếm trải gian khó và mất mát, khi buông súng, rời chiến hào, họ lại gặp nhau trong một không gian khác, không gian của chữ nghĩa. Mang theo ký ức oai hùng và đau đớn, gian khổ mà vẻ vang, họ cùng nhau viết nên những vần thơ đầy nhân hậu, coi thơ như một cách lắng lại đời mình, gìn giữ ký ức và trao gửi tình yêu quê hương.
Ba mươi năm, từ những “mầm thơ” ban đầu, Hoa Quê đã trở thành một khu vườn đủ hương sắc. Nhiều tác giả có thơ đăng trên báo chí trung ương và địa phương, nhiều cơ quan báo chí, truyền hình đã tìm đến, giới thiệu CLB với bạn đọc cả nước. Bốn tập thơ chung ra đời không chỉ là thành quả sáng tác, mà còn là những mốc văn hóa đánh dấu hành trình bền bỉ của một cộng đồng yêu thơ.
Trong mỗi trang thơ ấy, người đọc bắt gặp tình làng nghĩa xóm, tình người dung dị, những vui buồn đời thường được chưng cất bằng giọng điệu chân thành mang nhiều tầng ý nghĩa. Đó vừa là lời nhắn gửi, vừa là sự sẻ chia tâm tình với thế hệ mai sau về một thời Hoa Quê đã lặng lẽ gìn giữ “hồn quê” trên cánh đồng làng và cánh đồng thơ. Thời gian rồi sẽ cuốn trôi nhiều thứ, nhưng tình người, khi được neo lại bằng thơ, vẫn có khả năng ở lại lâu dài. Không ít tác giả Hoa Quê đã đi xa, nhưng những câu thơ của họ vẫn còn đó, in trên trang sách, lưu trong ký ức của người ở lại, trở thành một phần di sản tinh thần của làng. “Cánh đồng Hoa Quê” đã tỏa hương trên từng trang thơ, từng câu chữ. Đó không chỉ là những bài thơ đi cùng năm tháng, mà là kết tinh của ký ức, của nhân nghĩa, của tình yêu làng, yêu quê được chưng cất qua thời gian Hưng Giáo vốn được biết đến như một miền quê “văn võ song toàn”.
Trong ký ức nhiều thế hệ, làng không chỉ có truyền thống hiếu học, trọng chữ nghĩa, mà còn giàu tinh thần quật cường trong những năm tháng giữ nước. Bao người con đã rời lũy tre làng ra trận, góp máu xương cho độc lập dân tộc. Sự kiên trung ấy không chỉ là niềm tự hào, mà trở thành cốt cách. Điều đáng nói là khi đất nước bước vào thời bình, cốt cách ấy không mất đi. Nó chuyển hóa thành ý thức gìn giữ nếp làng, bảo tồn phong tục, nuôi dưỡng đời sống tinh thần. Trong dòng chảy ấy, văn chương, đặc biệt là thơ làng đã tìm được chỗ đứng tự nhiên.
Không phải ngẫu nhiên mà người ta gọi Hưng Giáo là “làng thơ”. Danh xưng “thơ làng” ấy không đến từ những giải thưởng rực rỡ, mà từ sự bền bỉ của một cộng đồng yêu chữ suốt hơn ba thập kỷ.

CLB Hoa Quê diễn thơ trong lễ khánh thành cổng làng Hưng Giáo năm 2025.
Câu lạc bộ Hoa Quê Hưng Giáo ra đời. Không ồn ào phô trương, chỉ là những buổi gặp gỡ giản dị của những người yêu thơ trong làng. Họ mang theo vốn sống, ký ức, tình làng nghĩa xóm gửi vào từng câu chữ.
Ba mươi năm trôi qua, Hoa Quê đã trở thành một không gian văn hóa đặc biệt. Ở đó có tiếng nói của các bậc cao niên, từng trải, đằm sâu; có những người trung niên chắt chiu từng vần thơ giữa bộn bề mưu sinh... và có cả lớp trẻ đang học cách yêu quê hương bằng ngôn từ. Thơ ở Hưng Giáo không tách khỏi đời sống. Nó ghi lại mùa lúa trổ đòng, phiên chợ quê còn vương mùi rơm rạ, buổi tiễn con ra trận hay ngày đoàn viên trở về. Mỗi bài thơ giống như một mảnh ghép ký ức, góp phần tạo nên “biên niên sử” bằng cảm xúc của làng.

Buổi sinh hoạt CLB thơ Hoa quê luôn ấm áp, vui vẻ, nhẹ nhàng.
Ở nhiều nơi, ký ức được lưu giữ bằng bia đá, bằng sắc phong, bằng tư liệu. Ở Hưng Giáo, ký ức còn được lưu trong thơ. Thơ giúp người xa quê chùng lòng, giúp người ở lại thêm yêu mảnh đất mình đang sống. Chính ở điểm này, Hoa Quê không chỉ là một câu lạc bộ văn nghệ. Nó trở thành nơi kết nối các thế hệ, nơi quá khứ và hiện tại đối thoại bằng ngôn từ.
Thơ Hoa Quê không cầu kỳ, không triết lý cao siêu. Đó là những câu chữ giản dị về mái đình, giếng nước, bờ tre; về lời mẹ dặn, về nếp sống nghĩa tình. Chính sự mộc mạc ấy tạo nên sức bền. Nó khiến thơ gần gũi, dễ đi vào lòng người.
Có người từng nói: nếu không có những bài thơ đi cùng năm tháng, Hưng Giáo sẽ nói gì khi trò chuyện với du khách? Quả thật, thơ đã giúp làng tự kể câu chuyện của mình, về cội nguồn, phong tục, về một miền quê không ồn ào nhưng đằm thắm.
Trong những buổi sinh hoạt, người ta không chỉ đọc thơ, mà còn chia sẻ chuyện làng, chuyện đời. Thơ trở thành cầu nối, làm mềm đi những khác biệt thế hệ, giúp cộng đồng gắn kết hơn. Ở một góc nhìn văn hóa, đó chính là giá trị cốt lõi thơ góp phần duy trì cấu trúc tinh thần của làng.

Giải thưởng những bài thơ hay được trao tặng hàng năm với rất nhiều quà tặng thiết thực, cuốn hút nhiều bà con tham gia.
Ba mươi năm, xét trong lịch sử hàng trăm năm của một ngôi làng, chỉ là một lát cắt ngắn. Nhưng với Hoa Quê, đó là ba mươi năm thanh xuân văn hóa được lặng lẽ bồi đắp. Điều đáng trân trọng không chỉ là số năm tồn tại, mà là sự kiên trì. Giữ một câu lạc bộ thơ ở vùng ven đô suốt ba thập kỷ không phải điều dễ dàng. Nó đòi hỏi tâm huyết, sự đồng thuận và tình yêu bền bỉ với chữ nghĩa.
Từ mảnh đất này đã bước ra nhiều người con thành đạt trên khắp mọi miền. Dù đi xa, họ vẫn hướng về quê bằng niềm tự hào và tình cảm sâu nặng. Những vần thơ của Hoa Quê, vì thế, không chỉ dành cho người ở lại, mà còn là sợi dây nối những người xa quê với nguồn cội.
Ở góc nhìn rộng hơn, câu chuyện của Hưng Giáo cho thấy một điều: bảo tồn văn hóa không nhất thiết phải bắt đầu từ những dự án lớn. Đôi khi, nó bắt đầu từ một không gian nhỏ, nơi con người gặp nhau bằng tình yêu chung với quê hương Hưng Giáo hôm nay vẫn đổi thay từng ngày. Đường làng mở rộng hơn, nhà cửa khang trang hơn, nhịp sống nhanh hơn. Nhưng giữa những chuyển động ấy, vẫn có một không gian mà ở đó, hồn quê lắng lại trong từng câu chữ. Hoa Quê, cái tên mộc mạc như một lời nhắc nhở, hoa của quê hương có thể không rực rỡ, nhưng hương thơm thì bền lâu. Thơ ở đây không nhằm tạo danh tiếng, mà để giữ lại những gì dễ bị lãng quên nhất , ký ức, nếp sống, nghĩa tình.
Ba mươi năm chỉ là một mốc nhỏ. Nhưng từ mốc nhỏ ấy, người ta có quyền tin rằng chừng nào còn những người yêu làng, yêu chữ, chừng đó Hưng Giáo còn giữ được căn cước văn hóa của mình
Giữa dòng chảy hối hả của thời gian, có những giá trị không ồn ào mà vẫn bền bỉ tồn tại. Làng thơ ven đô ấy là một minh chứng. Và trong những buổi chiều yên ả, khi tiếng ngâm thơ vang lên dưới mái đình, ta có thể cảm nhận rõ hơn bao giờ hết… hồn quê vẫn ở đó, lặng lẽ, thiết tha, ấm áp khôn nguôi.

Thơ Đường ảnh hưởng sâu sắc đến thi ca Việt Nam từ thời trung đại đến những năm thế kỷ XX. Bầu trời Đường thi...
Bình luận