“Con lạc đà” xứ Quảng

Mỗi nhà văn hóa lớn thường có một cách thức riêng để kiến tạo hình ảnh của mình. Chưa có may mắn được tiếp xúc với Lê Trí Viễn ngoài đời, nhưng qua công trình đồ sộ gồm cả sáng tác lẫn nghiên cứu của ông, người viết rất ấn tượng với câu nói tự trào nhưng đầy nghiêm túc, một cái “slogan” gắn liền với chân dung kẻ sĩ xứ Quảng này: Tôi là con lạc đà!

“Con lạc đà là tôi” 

Trong những lời tâm tình thành thực cùng bạn đọc mở đầu Toàn tập Một đời dạy văn, viết văn, Lê Trí Viễn rất tâm đắc với hình tượng con lạc đà trong tục ngữ Algeria và tự thấy mình có những phẩm tính của… con vật này: “Trong sa mạc, khi đã đánh hơi có nước ở gần thì không gì ngăn cản nổi đà bươn tới của nó”. Ý chí, và sức mạnh kiểu… lạc đà đó đã giúp cậu bé nghèo đất Quảng vượt mọi khó khăn, trở lực để chạm tới ước mơ: từ một người chỉ học hết cấp 2, rất cừ toán pháp, yếu văn chương thành một cán bộ đầu đàn trong giáo dục cũng như trong nghiên cứu phê bình văn học; từ một thầy giáo dạy tiểu học ở một vùng quê chó ăn đá gà ăn sỏi thành giáo sư, nhà giáo nhân dân với lượng công trình tầm cỡ, đào tạo rất nhiều thế hệ học trò tinh hoa cho nước nhà; từ chú bé chăn trâu vùng trung du heo hút trở thành nhà văn hóa với Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật,… 

Bên cạnh sức mạnh tự thân, một phẩm tính rất… lạc đà của ông là tinh thần hợp tác với đồng nghiệp, học trò, biết học hỏi, tiếp biến, tri ân người trước. Có con lạc đà nào lại đơn độc trên sa mạc. Để tồn tại trong môi trường khắc nghiệt ấy, nó cần một chỗ dựa tập thể, một sức mạnh cộng đồng. Sự thủy chung với quê hương, mối thâm tình với bè bạn cố xứ, bốn phương, sự cởi mở, hòa đồng trong tiếp nhận thành quả khoa học của người đi trước, dù họ không tiếng tăm vượt trội… là những phẩm tính dễ thấy ở ông, góp phần kiến tạo hình ảnh đẹp của Lê Trí Viễn trong cuộc sống đời thường, trên bục giảng và trong cõi chữ kì thú nhưng cũng đầy gian nan, vất vả, rất dễ giữa đường đứt gánh.

“Con lạc đà” xứ Quảng - 1

GS.NGND Lê Trí Viễn

Từ “củi đá” “cù lần” đến trầm ngọc sáng thơm

Trong bài thơ Tổng kết – như một sự nhìn lại, tự định vị mình, bằng cách ví von rất Quảng Nam, Lê Trí Viễn tự đánh giá bản thân là người “cù lần như củi đá”.

Vậy điều gì đã khiến cho “củi cong bốc lửa thẳng”? Theo chúng tôi, một trong những nhân tố làm nên phép màu ấy là khí chất xứ Quảng ở con người này. 

Trước hết, đó là một khát vọng, đam mê mãnh liệt với văn chương và quyết tâm đạt được, sống trọn với ham muốn tột bậc của mình. Đây là mấu chốt, là điểm xuất phát vô cùng quan trọng, quyết định hết thảy. Nó giúp ông, tự thời niên thiếu, đã có một bản lĩnh, một tinh thần thép, chín chắn, già dặn so với tuổi, không bị vướng vào bất cứ một thói ăn chơi nào, kể cả chuyện yêu đương trai gái để dốc hết tâm sức đạt được mơ ước lớn của mình. Nhìn lại tuổi trẻ giàu đam si, nhiều sôi nổi, ông không khỏi nhận ra cái sự “ngông cuồng”, “ngây thơ” trong tham vọng. Nhưng cũng như nhân vật Pantagruel với khẩu hiệu mê đời, khỏe khoắn và vô cùng hăng say, chàng trai xứ "Núi Chúa Sông Thu" ấy vẫn khôn nguôi mong muốn hưởng cho hết mọi thú vui của cuộc sống, biết cho hết tri thức khoa học của loài người – một biểu hiện của nhân sinh quan Phục hưng đầy mới mẻ, tích cực.

Ở Lê Trí Viễn, truyền thống hiếu học của đất Ngũ phụng tề phi luôn thường trực. Đây là con đường để ông hiện thực hóa lí tưởng: “Tôi học để có vốn làm văn nghệ”. Nửa đầu thế kỉ XX, với một cậu bé sinh ra và lớn lên ở một vùng đất khổ nghèo, không được ai định hướng, quan tâm, khích lệ, chia sẻ, chỉ có lòng khát học tột cùng mới mong tìm được “đường về với Mẹ Chữ” (Vi Hồng), mới chiến thắng được kẻ thù nguy hiểm nhất của tuổi trẻ là chính bản thân mình. Luôn tự ý thức mình là con nhà nghèo, vì thế, với ông, muốn đổi thay số phận chỉ có cách thức khuya dậy sớm. Nhờ xác định mục tiêu rõ ràng, cộng với phương châm đúng đắn, khoa học: “tự học là việc suốt đời”, “vừa làm vừa học”, “biết đến đâu nói đến đó”, ông đã vượt qua nghịch cảnh, đi dài với những buồn vui của nghiệp gieo trồng chữ nghĩa.

Nếu hiếu học là đóm lửa diêm thì sự cần cù, cố gắng hết mình là nhiên liệu giữ cho ngọn lửa ấy luôn đượm nồng trong Lê Trí Viễn. Chỉ riêng Toàn tập Một đời dạy văn, viết văn với gần 6000 trang cỡ lớn, bao gồm rất nhiều lĩnh vực: giảng dạy, nghiên cứu, phê bình, sáng tác, dịch thuật văn học nước ngoài và văn học dân tộc, sưu tầm văn học dân gian,… cũng đủ cho thấy sức làm việc, nghị lực đáng nể phục của “con lạc đà” gốc Việt này. Đó là “sự hóa thân của một nhà giáo tâm huyết và tài hoa dành trọn cả cuộc đời cho công việc rèn cặp, dạy dỗ con người. Nếu nói văn tức là người thì ở đây có sự ứng hợp kì lạ ấy! Ông viết như ông sống, như ông nghĩ, như ông dạy học và như ông tâm tình với bạn bè, đồng nghiệp”. Sự tự ý thức phải luôn “noi ong kiến”, lao lực không ngơi nghỉ đã thành sức mạnh lớn để ông không nản lòng, không cảm thấy đơn côi, vô hướng giữa biển học mênh mông, không để “gót rỗ” trên đường đời, đường văn nhiều khó khăn, vất vả, mãi thủy chung với nghiệp chữ cho đến tận cuối đời. Bằng nghị lực, ý chí, sự cần mẫn, ông đã tự học ngoại ngữ, chữ Hán để sử dụng được tiếng Pháp thành thạo, đọc và viết tốt tiếng Anh, am hiểu sâu sắc Hán ngữ,… Đến với sự nghiệp văn chương của Lê Trí Viễn, ta vô cùng bất ngờ, thú vị, bởi bên cạnh những tác phẩm dịch từ chữ Hán sang quốc ngữ, ông cũng là dịch giả của các tuyệt phẩm văn chương nhân loại: Thần khúc của Dante, Những người khốn khổ của Victor Hugo, Cesar Birotteau của Honoré de Balzac, Nỗi đau của người thiếu nữ của Catherine Arley. Từ thuở hoa niên, ông đã không ngừng luyện viết chính tả và phát âm - hai điểm yếu lớn của người Quảng, càng bất lợi hơn đối với người Quảng dạy văn, làm văn. Không ngừng học hỏi, không ngừng trải nghiệm để làm giàu vốn sống, mài sắc năng lực cảm xúc - đó là những yếu tính của một thầy giáo văn chương, nhà nghiên cứu văn học đích thực. 

Hiểu mình, thấu người, không ảo tưởng, kiêu căng “gà vườn” cũng là cốt cách Quảng Nam đáng trân trọng ở Lê Trí Viễn. Người Quảng trực tính, cực đoan, hay cãi, nhưng không bảo thủ, “dĩ ngã vi trung”. Hơn ai hết, ông luôn biết rằng cái sự gian nan cũng như thành quả lao động của bản thân đã thấm vào đâu so với những tấm gương hiếu học, yêu nước của dân tộc nói chung, quê xứ mình nói riêng. Đây cũng là lí do để ông tránh được tâm lí “mục hạ vô nhân” vốn thường hay xuất hiện ở người trót đa mang chữ nghĩa và ít nhiều có chút danh với nó (văn nhân tương khinh, tự cổ thường nhiên). Ở ông, ý thức sâu sắc về con người cá nhân luôn song hành với thức nhận thấu suốt về con người công dân, xã hội. Cái nhìn khoa học, sắc sảo, sâu rộng, tâm lí cởi mở, tri ân người trước giúp tác giả có sự thoải mái, linh hoạt trong sẻ chia, tiếp biến tri thức của những người cùng vất vả trên đường đời “kì khu” như mình.

Khi viết Thơ văn Quảng Nam (Phần cổ), tác giả - lúc ấy đã là một tên tuổi, một “đa”, “đề” trong làng nghiên cứu, giảng dạy văn học - đã tham khảo nhiều công trình: Quảng Nam đất nước và nhân vật của Nguyễn Q. Thắng, Lịch sử Đà Nẵng của Võ Văn Đật;… Điều này cho thấy sức đọc, sự trân quý, liên tài của một người cởi mở, khiêm cung, ân nghĩa,... Đây là một trong những lí do để Trần Hữu Tá có nhận xét tinh tế, công bằng về thầy mình: “Sẽ là thiếu sót nếu không nhắc đến thực tế này: con người tưởng như khô lạnh ấy lại là con người rất coi trọng lối sống nghĩa tình và đối xử với mọi người chí tình chí nghĩa”.

Cũng nhờ thoát vượt tâm lí, nhận thức “gà vườn”, cái nhìn về văn học địa phương của ông khá hiện đại, sát đúng, cho đến nay vẫn không hề lạc điệu: 1) Văn học địa phương là thơ văn của người dân xứ đó (có thể còn sinh sống tại quê nhà hay đã tha hương) viết về nơi chôn nhau cắt rốn của mình; 2) Sáng tác của những người nơi khác về vùng miền đó với sự ưu ái đặc biệt. Đây là cơ sở để ông trân trọng những áng văn chương của bao tài danh khắp mọi miền đất nước (Thích Đại Sán, Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, Cao Xuân Dục, Cao Bá Quát, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Thượng Hiền,…) và xem đó là một phần quan trọng trong di sản văn học quê mình mà không bị mang tiếng “thấy người sang bắt quàng làm họ”.

Ngoài sự thủy chung với quê nhà, lối sống trước sau như một của ông cũng thể hiện rõ ở lương duyên cùng chữ nghĩa: “Đã chọn văn chương gửi một đời, Mưa sa gió táp dám quên lời” (Cảm thuật). Nỗ lực phi thường để có thể thuộc tác phẩm, để sống trọn với ý tình người viết ở Lê Trí Viễn là một bài học quý cho những người học văn, dạy văn. Không đọc kĩ, đọc sâu thì làm sao yêu, làm sao khiến người khác cũng yêu thích như mình. Nhiều quan niệm về dạy văn, sáng tác văn chương và mối quan hệ giữa chúng không chỉ là kim chỉ nam cho riêng tác giả mà còn hữu dụng, thấm thía cho bao người trót mang lấy nghiệp giảng dạy, nghiên cứu văn chương: “Trong dạy có văn và trong văn có dạy. Nhà giáo văn chương và nhà sáng tác, trong nghề nghiệp của mình có chỗ lồng vào nhau”; “Dạy giảng văn đúng với nghĩa của nó đã chừng nào sống cái sống của nhà văn, không những ở tâm hồn mà còn ở ngòi bút khi giảng văn đã viết thành bài”; “Dạy văn, dạy nghĩa, dạy tình, Dạy văn mà cũng dạy mình dạy ta”…

Nhờ thế, những bài giảng, những công trình nghiên cứu của Lê Trí Viễn không khô khan mà hòa kết đầy mĩ cảm giữa văn phong khoa học và văn phong nghệ thuật. Sự nghiêm cẩn trong việc sử dụng tư liệu cụ thể, chính xác làm chỗ dựa cho mọi lập luận, biện giải, phẩm bình cũng là tố chất thường thấy ở các bậc trí giả xứ Quảng xưa nay, và Lê Trí Viễn cũng không là ngoại lệ. 

 Ý chí, tinh thần hiếu học, sự độc lập trong nhận thức, hành động, tính cách cứng cỏi, quyết liệt nhưng cầu tiến, linh hoạt,… đã giúp con người với vóc dáng khiêm tốn này làm được cùng lúc nhiều công việc: dạy học, nghiên cứu văn học, sáng tác văn chương; và việc nào cũng đến nơi đến chốn. Một người bình thường chỉ gắng làm một việc chưa chắc đã chu toàn. Đằng sau cái vẻ khiêm tốn, nhún mình, kín đáo một cách nghệ sĩ của ông, người ta thấy thấp thoáng chút kiêu hãnh ngầm rất đặc trưng của bao nhân tài đất Quảng.

Thương nhớ quê xưa mãi hiện về

Cái “mác” Quảng Nam thứ thiệt của Lê Trí Viễn dễ nhận ra ở sự đau đáu quê nhà thường trực. Dẫu cuộc đời đưa đẩy ông bén duyên với nhiều vùng đất (Huế, Hà Nội, Sài Gòn, miền Tây sông nước,…), nhưng cố quận vẫn là nẻo về cả trong hiện thực lẫn tâm tưởng của người con Sông Thu Núi Quế này. Từ trong nghiên cứu đến sáng tác của tác giả, người ta vẫn thấy giọng quê qua rất nhiều thơ ca của đất mẹ nghĩa tình: “Lỗi lầm vì cá trích de/ Vì rau muốn vượt, vì mè trộn măng; Ai về nhắn với bạn nguồn/ Mít non gởi xuống, cá chuồn gởi lên; Ngó lên Hòn Kẽm Đá Dừng/ Thương cha nhớ mẹ quá chừng bậu ơi; Quảng Nam vốn đất Chiêm Thành/ Lí Trần thuở trước đánh giành đã lâu”;… Đó đâu chỉ là thanh âm, con chữ, chúng là tiếng gọi tha thiết của quê nhà, hóa thành máu thịt trong bao kẻ li quê. Chính những câu ca dao, những bài vè thân thương đó đã sớm ươm mầm nghệ thuật cho tác giả. Sau này, những lúc mệt mỏi, nản lòng, những vần thơ quê xứ như một lời động viên, khích lệ: “Trăng trên trời có khi tròn khi khuyết, người ở đời sao khỏi tiết gian nan"… để chàng trai quê giữ mãi mộng đầu với văn chương: “Hồn như choáng rượu mắt nồng mơ”.

Trong công việc nghiên cứu, dù đa mang, đắm đuối với nhiều đối tượng (văn học dân gian, văn học viết, văn học truyền thống, văn học hiện đại, văn học trong nước, văn học nước ngoài), nhiều vùng miền (Bắc, Trung, Nam), nhưng nặng nợ nhất, dài sâu nhất vẫn là văn chương xứ Quảng. Tình điệu cố quận, nỗi hoài hương trở thành chủ âm trong nghiệp văn Lê Trí Viễn. “Trên một trăm tác phẩm, trừ văn học dân gian, hàng mấy mươi tác giả, thời nào cũng có. Vậy mà lướt qua tình cảm quê hương in sâu trong từng ống xương, thớ thịt như trên đây, lắng nghe giọng điệu bấy nhiêu thơ văn, đều là tiêu biểu cả, thì cung nam bi hay nam hùng cũng vậy, dường như lấn lướt điệu khách, dù khách vui hay khách mạnh”. Năm 2000, khi đã 82 tuổi, ông còn mê mải dịch hai truyện ngắn từ chữ Hán của Phan Khôi – một danh sĩ đồng hương, ra Quốc ngữ: Mộng trong giấc mộng (Mộng trung mộng) và Sóng gió bể hoạn (Hoạn hải ba đào). Ngoài nghị lực phi thường, đam mê mãnh liệt, nghĩa cử này cũng cho thấy trách nhiệm, tình cảm sâu nặng đối với di sản văn chương nơi cắt rốn chôn nhau.  

Dù chưa có một công trình toàn vẹn, dài hơi về văn học Quảng Nam, nhưng công phu sưu tầm tỉ mỉ, lòng mến phục sâu xa, cách đánh giá thấu đạt của tác giả dành cho văn học quê nhà trong Thơ văn Quảng Nam (Phần cổ) (Tập 3) là một điều đáng trân trọng. Người nghiên cứu đã dành sự ưu ái đặc biệt cho những nhân vật văn hóa – lịch sử kiến tạo gương mặt tinh thần xứ sở: Phạm Phú Thứ, Hoàng Diệu, Ông Ích Khiêm, Nguyễn Duy Hiệu, Nguyễn Hiển Dĩnh, Trần Cao Vân, Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Khôi,… Nhiều người trong số đó là đồng hương với tác giả – huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam bây giờ. Điểm chung ở họ là “thừa cứng cỏi, thiếu mềm dẻo”, “chân chất, thật tình nhưng đầy cương trực, tiết tháo”, “đem tính mạng mình đổi lấy hai chữ nghĩa trung bất khuất của truyền thống dân tộc”. Đó là những người thiết tha với cái đẹp trong lí tưởng sống của trai thời loạn: không tham địa vị, chẳng màng danh lợi, không học cái “khôn”, cái “thức thời” của bọn “liếm gót giày Tây, béo mượt đầu” (Tố Hữu), mà chịu tiếng “ngu”, tiếng “khùng”, không cam tâm cúi đầu làm nô lệ mà hết mình lo cho nước, cho dân, có tư tưởng hiện đại, cởi mở, có sự kết hòa trọn vẹn giữa con người công dân và con người cá nhân, phận vị nam nhi và cái tôi nghệ sĩ… Trong rất nhiều mẫu hình để tự hào, noi tiếp, ông dành phần lớn tình cảm yêu thương, trân quý cho Huỳnh Thúc Kháng. Điều này cũng dễ hiểu, bởi giữa hai người có sự gặp gỡ ngẫu nhiên trong đời riêng, lí tưởng, tính cách. Ông chủ báo Tiếng Dân cũng là “một anh học trò, gốc sanh trưởng nhà nông nghèo trong thôn quê, đã là cái hoàn cảnh phác dã thô vụng, khô khan, quê kệch, gia dĩ trời phú ham mê về sự học”.  

Phần viết về lịch sử văn học xứ Quảng đã cho thấy hiểu biết thấu đáo về lịch sử, văn hóa, văn học quê nhà, không bị sự cảm tính “yêu nên tốt” chi phối. Đây cũng là biện chứng pháp hiện đại: nghiên cứu văn học sử phải đặt nó trong mối tương quan đa chiều với lịch sử, xã hội, chính trị, kinh tế, văn hóa, tôn giáo… dân tộc, vùng miền. Nhà nghiên cứu phải có sự tỉnh táo, khách quan của lí trí đi kèm với lòng yêu mến, thấu cảm. Nhờ thế, dẫu khiêm tốn, nhưng cho đến nay, đây là một công trình tích cực góp phần để thế hệ con cháu Quảng Nam hiểu thêm, tự hào và yêu mến, gắn bó hơn với quê hương, nguồn cội, giúp họ có cơ hội quý giá để “lắng nghe ở phía sau chữ nghĩa ấy những hơi thở, những nỗi lòng của ông cha từ ngàn năm trước”.

Dựng chân dung văn học quê nhà là một cách để người con xứ Quảng tìm về, trả nợ ân tình với đất mẹ thiêng liêng. “Viết về vùng đất mình sinh ra là chọn con đường đi đúng hướng, để qua đó sống lại với đời sống tâm linh nguồn cội”. Bằng tình yêu, niềm tự hào, sự sắc sảo, tinh tế, Lê Trí Viễn đã nhận ra được “một mùi vị quê hương” trong thơ văn quê xứ qua chất liệu khó lẫn: ngôn ngữ Quảng Nam. “Mùi vị ấy ngang ngang, thẳng đuột, có khi thô thô, nhưng khí phách thì thế núi Ấn biển Đà, còn to nhỏ trữ tình thì chẳng kém thấm đượm “chưa mưa đã thấm” và chẳng “rượu hồng đào” nhưng cứ “chưa nhắm đã say”. Nặng lòng với di sản tinh thần của cha ông, con người ấy đã có những phát hiện bất ngờ, thú vị về văn chương đất mẹ: “Ca dao xứ Quảng có câu: “Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm…”. Ý ông bà ta cho người đất Quảng thông minh đoán trước được ý nghĩ, tình cảm của người khác, không đợi người ta nói ra…”. Có thể những kiến giải của ông về tiến trình, đặc trưng văn học xứ Quảng chưa được tất cả độc giả đồng thuận, thỏa mãn, nhưng đó vẫn là những nét riêng khá đậm, khó lẫn, gợi nhớ gợi thương cho bè bạn xa gần. Con mắt xanh, tấm lòng thành trong thẩm văn, nghiên cứu văn chương của Lê Trí Viễn giúp người đọc thêm hiểu biết, thêm yêu thương con người, văn hóa, văn học,… Quảng Nam.

Của tin để lại…

Với người khác, nợ nần là bất hạnh; nhưng với Lê Trí Viễn, nợ văn chương, nợ đất mẹ ân tình lại là một may mắn, hạnh phúc. Bởi càng cao niên, càng cố trả, món nợ đó càng thêm nặng; và nhờ thế ông càng thấy tự hào mình là người xứ Quảng. Cả cuộc đời, ông chẳng khác con lạc đà thồ ân nặng tình sâu của chữ nghĩa, của miền quê Sông Thu Núi Chúa. Con người ấy đã tự thắp sáng đời mình bằng những phẩm tính ưu việt của căn cốt văn hóa vùng miền. Chính khí chất Quảng Nam đã góp phần định hình tính cách, thân phận nhà văn hóa này; ngược lại, những hằng số bất biến, đậm chất Quảng trong nhận thức, tính tình, khí phách của tác giả Tinh sương cũng là minh chứng cho một “thương hiệu” người - xứ - Quảng đích thực.

Chất Quảng tạo cho ông khí trong văn, phách trong đời - nghĩa là một Người Văn đúng điệu. Vọng từ trang viết là tiếng nói yêu thương, tâm tình tha thiết của người con tha hương luôn hướng vọng quê nhà. Hậu thế, nhất là con dân xứ Quảng, đến với di sản văn chương nặng kí - theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng - của ông, không chỉ được mở rộng kiến văn mà còn được nhiều bài học quý giá về nghị lực sống, về ân nghĩa cuộc đời. Với những người gốc Núi Chúa Biển Đà ít nhiều dang díu chữ nghĩa, không được may mắn sống trên đất mẹ nghĩa tình, trang viết của Lê Trí Viễn vừa là tiếng gọi của cố hương, vừa khơi dậy niềm hãnh diện, đồng thời là nguồn động viên, khích lệ không hề nhỏ. 

Bùi Thanh Truyền

Tin liên quan

Tin mới nhất