Mùa đông này, Cao lại về Hà Nội

“Không thể nào/Có ngày/Thăng Long/Biền biệt/Bạn!...” (Nguyễn Thị Hồng)

Thế là tôi đã không thể làm kịp tập thơ của Đỗ Nam Cao để anh được đọc trước khi đi xa. Mọi việc diễn quá nhanh. Đầu tháng 9, được tin Cao lâm trọng bệnh phải vào điều trị ở bệnh viện Chợ Rẫy, từ Quảng Ngãi, nhà thơ Thanh Thảo đã điện hối thúc tôi cố gắng làm kịp tập thơ cho Cao, đừng để phải hối hận như trường hợp nhà thơ Chim Trắng, đến khi mất vẫn chưa thể nhìn thấy tập thơ mà bạn bè định làm cho ông.

Ở Hà Nội, các nhà thơ Nguyễn Thụy Kha, Nguyễn Thị Hồng gặp tôi cũng nhắc phải gấp gấp lên. Nhà thơ Nguyễn Hoa, Trưởng ban Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam nói Hội Nhà văn sẽ tài trợ ở mức cao nhất cho việc in tập thơ Đỗ Nam Cao. Bạn bè thân quen ai cũng biết Cao là một tài thơ độc đáo, thơ Cao rất nhiều, rất hay nhưng được công bố rất ít. Tuy vậy, tập hợp đầy đủ thơ Cao không dễ. Nhiều trường hợp, Cao ngẫu hứng, thơ chợt đến, anh chép tặng ngay bạn bè mà không hề lưu giữ bản thảo.

Biết tôi đang làm tập thơ cho Cao, bạn bè đã gửi đến hơn 20 bài thơ như thế, riêng Nguyễn Trọng Tạo có hơn 10 bài. Sau hơn 2 tháng, tập bản thảo Đỗ Nam Cao – Thơ vừa được tôi sơ bộ hoàn thành với non 150 bài thơ và trường ca Hỡi cô cắt c” thì từ TP Hồ Chí Minh, Vũ Ân Thi điện ra báo tin: Đỗ Nam Cao đã vĩnh viễn ra đi vào 10h45 ngày 8/11/2011. Thanh Thảo, Nguyễn Thụy Kha, Nguyễn Thị Hồng trích giới thiệu ngay tập bản thảo trên các trang mạng Hội Nhà văn Việt Nam, Lê Thiếu Nhơn và Trần Nhương. Còn tôi thì bay vào TP Hồ Chí Minh đặt tập bản thảo in vi tính lên bàn thờ Cao ở 12B Nguyễn Thị Huỳnh, quỳ lạy bạn, mong bạn tha thứ cho sự chậm trễ bất khả khảng. Mới đó mà đã 11 năm…

Mùa đông này, Cao lại về Hà Nội - 1

Nhà thơ Đỗ Nam Cao

Cao và tôi cùng học khóa 11 khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội) cùng với Bế Kiến Quốc, Nguyễn Thị Kim Cúc, Vũ Ân Thi, Lê Quang Trang, Nguyễn Thị Hồng, Nguyễn Hiếu, Vũ Dũng, Trần Bảo Hưng...

Năm 1970, vừa tốt nghiệp chúng tôi cùng xung phong đi chiến trường và được đưa về khóa IV Trường Bồi dưỡng viết văn trẻ Hội Nhà văn Việt Nam, khóa đào tạo nhà văn nhà báo cho chiến trường miền Nam. Tháng 4/1971, chúng tôi chia tay nhau, Cao và Lê Quang Trang, Vũ Ân Thi, Trần Thị Thắng, Hà Phương, Phạm Quang Nghị, Phan Xuân Biên, Phan An… đi chiến trường Nam Bộ còn tôi thì về Khu 5 với Nguyễn Trí Huân, Trần Vũ Mai, Nguyễn Khắc Phục, Ngô Thế Oanh, Vũ Thị Hồng, Nguyễn Đức Hạt...

Năm 1975, gặp nhau tại TP Hồ Chí Minh sau ngày đại thắng, Cao đã có tập thơ Những cánh cò lửa (Nhà xuất bản Văn nghệ Giải phóng), in chung với người bạn khóa IV Nguyễn Khắc Thuần.

Đọc tập thơ, tôi biết trong 4 năm ở chiến trường Nam Bộ, Cao đã đến Đồng Tháp Mười, rồi về trụ bám khá lâu ở vùng chiến sự ác liệt nhất, vùng ven Sài Gòn với những địa danh nổi tiếng: Lộc Ninh, Bến Cát, Trảng Bàng, Củ Chi… Hơn 20 bài thơ của Cao trong tập như các ký sự thơ về những cảnh sắc, những con người, những khoảng khắc không thể nào quên mà anh đã gặp trong những năm tháng sống và chiến đấu ở đây: Qua sông Sài Gòn, Đêm trảng cỏ,  Màu xanh vùng ven, Cô gái thợ cày, Tiếng xay lúa trong đêm, Ớt Trảng Bàng, Gặp người bắn “cá rô” ở Củ Chi, Đêm đột ấp, Những chiếc lá và cái tổ chim, Trăng địa hình, Hương sầu riêng, Con sinh ở rừng, Những căn hầm bí mật… Thơ Cao đã ghi lại được nhiều nét bình dị và kỳ vĩ của chiến tranh nhân dân ở Nam Bộ và rực cháy ngọn lửa của lý tưởng cách mạng.

Những cánh cò lửa, bài thơ hay nhất trong tập thơ, phần nào nói lên điều ấy: “Ô! Con cò, con cò bay/Con cò mà bỗng mê say lạ lùng/Xa trông như đốm lửa bùng/Cánh con cò cháy rực vùng trời cao…/Xuồng đi mây ửng ngọn sào/Tôi mang đôi cánh lửa vào tiền phương”.

Cùng với Những cánh cò lửa, Cao giới thiệu với tôi bạn gái của anh, Trần Thu Hồng. Gặp người con gái xứ Quảng tuổi 20 nhỏ nhắn, xinh đẹp và sắc sảo này, tôi không ngờ chị từng là biệt động thành Đà Nẵng, tù binh nhiều năm trời ở “địa ngục trần gian” Côn Đảo. Cao gặp Hồng mùa xuân năm 1973 tại Lộc Ninh trong chuyến anh đi viết về những tù binh Côn Đảo vừa được trao trả tại đây. Hồng là nhân vật của Cao và một tình yêu đẹp đã nảy sinh giữa họ, một mối tình sẽ tạo nên hạnh phúc lớn cùng bất hạnh khủng khiếp trong cuộc đời Cao…

Mãi đến 25 năm sau Những cánh cò lửa, Đỗ Nam Cao mới cho in tập thơ riêng đầu tiên của mình, tập thơ Dính (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2000). Một phần tư thế kỷ cho một tập thơ 48 bài. Quá ít. Nhưng lại… quá hay.

Dính là cuộc trò chuyện của Đỗ Nam Cao với chính mình về “chuyện đời như lửa chuyện mình như sương”, về nỗi ân hận “Ta quên mình đã có một thời/Đã đốt hết một thời lên thành lửa/Trong xác lá phủ dầy ai biết nữa/Hương tro còn ngần ngận ở đâu đâu”, về một thời đây biến động, đảo lộn“Cái thời mình như xiếc leo dây/Thăng bằng là tột cùng bản lĩnh/Trọng tâm rơi di động khôn lường/Khôn hồn thì đừng rơi lộn xuống”, cái thời của những “Linh cảm không tốt lành/Mùa thu này khó nhận biết/Nắng gió khác đi/Các cô gái khác đi”, cái thời mà mỗi buổi sáng thức dậy đã nghe “Báo đây báo đây như hát/Những hung tin” và “Chuyện người vời vợi lẫn với chuyện ma”. Dính trĩu nặng cô đơn, buồn đau, tan vỡ, tuyệt vọng nhưng cũng thăm thẳm tình yêu, niềm tin, là một chuỗi liên tục những “tắt ngấm” và “bừng sáng”, tiếng thét và sự câm lặng “Bất chợt hét toáng lên/Bất chợt ngồi lẳng lặng/Cuộc cãi lộn với chính mình dai dẳng/Như lửa thiêu như rượu đốt chính mình”.

Cần phải nói rằng hầu hết những bài thơ trong Dính ra đời trong những tháng năm Đỗ Nam Cao chìm ngập trong sự đỗ vỡ của tình yêu và bi kịch gia đình. Từ một cán bộ tổ chức Đảng của quận I, Trần Thu Hồng chuyển về Công ty Lương thực TP Hồ Chí Minh, nắm giữ vị trí quan trọng trong doanh nghiệp nhà nước được coi là điển hình của thời kỳ đầu đổi mới, trở thành một doanh nhân nổi tiếng, được khắp nơi săn đón chào mời.

Tuy vậy khi doanh nghiệp này lâm vào khó khăn, đứng trước nguy cơ sụp đổ, như một con tốt thí, Trần Thu Hồng bị quy nhiều trọng tội, bị bắt giam. Cơn chấn động tinh thần quá sức chịu đựng khiến chị chìm sâu vào căn bệnh tâm thần phân liệt. Vụ án Trần Thu Hồng kéo dài hơn 10 năm trời và trong khoảng thời gian dằng dặc này, Đỗ Nam Cao đã luôn theo khắp các bệnh viện trại giam trong nam ngoài bắc để chăm sóc vợ.

Luật sư Phan Trung Hoài, người nhận bảo vệ quyền lợi cho Hồng trong vụ án, kể rằng khi chứng kiến Đỗ Nam Cao để một bên những day dứt và điều tiếng thị phi xung quanh vụ án, kiên trì theo sát “chữa bệnh” cho vợ bằng tình yêu thương không bến không bờ, ông thực sự bất ngờ vì không hình dung nổi một người vốn dĩ vẩn vơ với thơ thẩn như anh lại có một ý chí, sức mạnh khủng khiếp để đương đầu với nỗi thống khổ kéo dài đến thế. Sau hơn 10 năm, Trần Thu Hồng được pháp luật minh oan, được trả lại mọi quyền lợi chính đáng nhưng tình yêu của Đỗ Nam Cao mới giúp chị nghị lực sống để vượt qua kiếp nạn lớn của cuộc đời.

Trong Dính, Đỗ Nam Cao đã hơn một lần nói đến “Cái nùi rơm ngun ngút lửa thâu đêm”. Cái “nùi rơm” ấy chính là tình yêu thầm lặng, khoan dung, bền bỉ như một thứ xạ hương đã giúp Đỗ Nam Cao tỏa sáng trong đời và tỏa sáng trong thơ...

Trong Dính, Đỗ Nam Cao đã bắt đầu nói đến một sự trở về “Thơ tôi đã từng hứng khởi/Đã từng hát khúc hùng ca/Tôi bay lướt đỉnh hào khí/Trường Sơn ngút ngàn mù xa/Để rồi từ từ đáp hạ/Đậu trên đỉnh mái nhà ta/Quê hương ôi rơm với rạ/Mẹ cha vách bùn cột tre”. Trong những tháng ngày tuyệt vọng nhất của cuộc đời, Cao đã tìm thấy niềm an ủi, sự bình tâm trong hình ảnh con cò của làng quê “Thương cò cò đứng một chân/ Đứng một chân cò mỏi gân không cò/Thương mưa dáng bước lò dò/Thương nắng nứt ruộng cò hò khàn hơi/Đẹp như mộng ở lưng trời/Cò bay rát rạt mặt người ngửa lên”, trong mùi ngô nướng thơm lừng trên những hè phố Hà Nội: “Ô ngô lên thắm bãi bồi/Người ơi nhớ nhé mai rồi bẻ ngô/Để thơm hè phố xửa xưa/Lửa than hồng quạt vào mưa lạ lùng”, trước lũy tre làng trầm tĩnh và vững chãi “Nhìn vào bờ tre tĩnh lặng/Bình tâm giông bão đời mình/…Những tưởng thôi về thăm khổ/ Giờ đi lòng bớt nguy nan”…

Và sau Dính, thơ Đỗ Nam Cao là cuộc trở về trọn vẹn với làng quê Việt, với truyền thống nhân văn, văn hóa Việt ngàn năm, một cuộc trở về thật hào hứng, say đắm: “Áo xanh áo đỏ cào cào/Bay trong hương lúa giã chào làng quê/Nhà cao phố rộng tôi về/Thương con săn sắt ngủ mê giếng chùa”, mà cũng thật trân trọng, thiêng liêng: “Làng ơi/Cúi lạy thành hoàng/Cho con được phép khẽ khàng vào quê”.

Và anh liên tiếp có những Về, Ở làng Đại Phùng, Ngõ nhà em, Cốm, Thăng Long, Ngồi bên sông Hồng, Yên Tử, Chiều Hồng Hạc, Quan họ phố… rồi trường ca Hỡi cô cắt cỏ.

Từ năm 2002 đến 2010, năm nào vào mùa xuân Đỗ Nam Cao cũng từ TP Hồ Chí Minh ra Bắc, miệt mài rong ruổi khắp các lễ hội xứ Đoài, Sơn Nam Thượng, Kinh Bắc, Đền Hùng… Khi ở với tôi tại tòa soạn Tạp chí Văn hiến Việt Nam ở phố Chân Cầm, Hà Nội, Cao thường nói với tôi chuyện anh phát hiện ra một cô cắt cỏ được thờ bên Thánh Tản ở đền Dội và truyền thuyết về cuộc gặp gỡ kỳ lạ giữa Thánh Tản và cô cắt cỏ anh nghe được tại đền Và. Cao cũng nhiều lần giục tôi cùng đến thăm đền Chử Đồng Tử ở Hưng Yên và bãi Tự Nhiên giữa sông Hồng thuộc địa phận Thường Tín, Hà Tây cũ.

Với ai đó, những truyền thuyết về Thánh Tản với cô cắt cỏ và mối tình Chữ Đồng Tử - Tiên Dung giữa bãi sông Hồng có lẽ đã rất cũ. Nhưng với Đỗ Nam Cao, khi đắm mình vào không gian văn hóa cội nguồn dân tộc, anh đã cảm nhận được ở chúng nhiều điều mới mẻ. Và những truyền thuyết này đã trở thành “âm hình chủ đạo” cho trường ca Hỡi cô cắt cỏ của Đỗ Nam Cao, một tác phẩm thơ “không thể hay hơn” như nhận xét đầy hạnh phúc của nhà thơ Nguyễn Thụy Kha.

Quả thật, khó có thể viết hay hơn những dòng thơ Đỗ Nam Cao viết về mối tình Chử Đồng Tử - Tiên Dung: “Thì thôi về bãi Tự Nhiên/Để em tắm để thánh hiền lòi ra/Con vua cũng thể đàn bà/Dẫu chàng đánh dậm vưỡn là đàn ông/Ôi Tiên Dung hỡi Tiên Dung/Giọt phù sa mẹ sông Hồng đẻ đau…/Sông dài bãi rộng trời cao/Màn anh đã mắc em vào động tiên” hay những dòng thơ về cô cắt cỏ: “Tứ thời cái áo tứ thân/Hỡi cô cắt cỏ của thần Tản Viên/Còn riêng cái yếm hoa hiên/Thì quên đi nhé bạc tiền quên đi…/Cười lên trăng đã hoa nhài/Yếm em nõn thế lược cài vào đâu”.

Cũng khó có thể viết hay hơn Đỗ Nam Cao về tiếng chày giã gạo ban đêm: “Tiếng chầy thình thịch đêm đêm/Tiếng kêu con vạc kêu mềm bờ ao…/Chợt nghe như tiếng thở dài/Cối khuya ngừng giã gạo ai trắng rồi”, về nhịp đu bay bổng của hội làng mùa xuân: “Hội xuân trống động mái đình/Chân đu đã nhún đã tình lả lơi/Vút lên chóng cả mặt trời/Cho bay đi hết chuyện đời đảo điên/Bay đi cái túi không tiền/Vuông khăn dải yếm chiếc liềm bay đi” hay về sự hoan hỉ ngả nghiêng kỳ lạ của hội Giã La: “Hội giã La hãy mau mau/Mau chân kẻo chậm/Mau tay/Tay ải tay ai/Tay nắm cổ tay/Tay lần giải yếm/Cởi ra hội hè/Nhè nhẹ thôi/Nhẹ/Ngực e ấp ngực/Rất mực thần tiên/Đuốc đèn chợt sáng bừng lên/Trai hoan hỉ gái ngả nghiêng/Rõ hiền”.

Luật sư Phan Trung Hoài cảm nhận Hơi cô cắt cỏ là bản trường ca ẩn mình trong những câu đồng dao tuổi ấu thơ ngân nga ngoài cánh đồng.

Đúng là Hỡi cô cắt cỏ nhiều khi như những khúc đồng dao ngộ nghĩnh tươi vui của con trẻ: “Thôi sao được/Anh đánh cược/Chiếc lược sừng trâu/Một xâu lá bưởi/Một chuỗi hạt cườm/…Một keo đánh vật/Nếu anh thua thật/Anh mất yếm đào/Yếm xanh yếm trắng yếm nào/Một đàn cào cào/Một ao củ ấu/Một đấu tám xoan/Một rằng ngoan hai rằng ngoan/Đòng đong cân cấn khoan khoan mại cờ” nhưng cuối cùng lại là những lời ru đau đáu nỗi niềm của người mẹ: “À ơi ơi hỡi à/Thằng cuội ngồi gốc cây đa/Để trâu ăn lúa gọi cha ời ời/Sao không gọi mẹ cuội ơi/Sao không gọi cái yếm sồi xửa xưa/Mẹ còn ăn bát riêu cua/Thì thừa sữa lạ nuôi vua mọi thời”…

Mùa đông này, Cao lại về Hà Nội - 2

Ảnh minh họa

Lưu Trọng Văn kể với tôi rằng khi bệnh viện Chợ Rẫy trả Đỗ Nam Cao về nhà, ở 12B Nguyễn Thị Hùỳnh, Phú Nhuận, TP Hồ Chí Minh, Văn đến thăm thấy Cao đã rất yếu, nói rất khó khăn. Biết trong Cao lúc nào cũng đầy ắp thơ, muốn Cao vui, Văn hỏi Cao có thơ mới không, đọc cho nghe, Cao nhoẻn cười và gắng sức đọc: “Có không trong cõi vĩnh hằng/Có cô cắt cỏ với trăng lưỡi liềm/Có không trong cõi thần tiên/Rượu ngon lại uống bạn hiền lại chơi/Chỉ còn sờ sợ chút thôi/Có thơ không để tôi rơi xuống trần”. Văn rùng mình nhận ra đây là những lời cuối cùng Cao dành cho thơ và bè bạn nên ghi lại ngay.

Khi nghe Lưu Trọng Văn đọc lại bài thơ này tại một khách sạn ở TP Hồ Chí Minh 3 ngày sau khi Cao mất, cả Lê Quân, Nguyễn Thụy Kha, Lê Xuân Đố và tôi đều bật khóc.

Đỗ Nam Cao là vậy, trọn đời Cao đã sống vói “cô cắt cỏ với trăng lưỡi liềm” với thơ với bạn và trước lúc đi xa, điều “sờ sợ” duy nhất của Cao vẫn là rồi có thể sẽ không còn trăng lưỡi liềm, cô cắt cỏ, không còn bạn, còn thơ. Lê Quân nói rằng suốt mấy ngày anh không thể làm được bất cứ việc gì, trái tim anh như bị ai thò tay vào vò nát. Người nghệ sĩ đa tài, ông chủ của một doanh nghiệp sơn nổi tiếng, một kênh truyền hình và hai tờ báo nghệ thuật với 7000 nhân viên, con người được coi là rắn như thép này mỗi khi nhắc đến Cao đều rưng rưng nước mắt. Với Lê Quân, tuy mới chơi với Cao gần 3 năm, nhưng Cao là một người bạn không thể có lần thứ hai trong đời, một người bạn trong như ánh sáng.

Tôi chợt nhớ những câu thơ Cao: “Ừ như thế có lần tôi thầm nhắc/Ôi bạn bè sao gió cũng lưa thưa/…Ừ như thế có lần tôi bật khóc/Bạn bè ơi bạn bè ở đâu đâu/Ở đâu đâu tìm nhau về tí với”.

Cao ơi! Bạn bè đã nghe được tiếng gọi của Cao và đã tìm về cùng Cao. Một con người khát bạn như Cao, khát thơ như Cao thì dù ở cõi tạm hay cõi vĩnh hằng cũng sẽ có đủ bạn và thơ. Ở cõi bên kia, những người anh, những bạn thơ thân thiết của Cao, các anh Văn Cao, Hữu Loan, Phùng Quán, Hoàng Cầm, Trần Vũ Mai sẽ rất vui mừng khi được đón Cao. Ở cõi bên này, dù Thanh Thảo quả quyết thơ Cao sẽ còn ở lại rất lâu, nhưng bạn bè vẫn không tin Cao đã mãi mãi đi xa, bởi như Nguyễn Thị Hồng: “Không thể nào/Có ngày/Thăng Long/Biền biệt/Bạn!...”.

Tôi lại thấy, như lời hẹn, mùa đông này, Cao lại về Hà Nội để đưa tôi về làng Lịm của anh, về quê hương Lê Quân bên dòng sông Luộc và trở lại đền Hùng. Cao còn nợ những nơi này, mỗi nơi một bản trường ca. Vâng, Cao đã trở về cùng tôi, cùng bạn bè với với nụ cười như khóc và câu nói cửa miệng quen thuộc, đặc sản Đỗ Nam Cao: “Thương mến lắm”, “khổ lắm”…

Một số bài thơ của Đỗ Nam Cao: 

Gửi quần đảo Trường Sa

Trường Sa ư với ngày thường xa thật

Đảo ở đâu tôi có hỏi đâu mà

Điều khốn nạn là chỉ khi máu đổ

Đảo mới gần mới thật đảo của ta

Các anh cắm ngọn cờ tổ quốc gió cuồn cuộn

Sóng lừng ngầu bọt bãi san hô

Kẻ thù muốn nhổ ngọn cờ khỏi ngực

Thì nhận đây dòng máu nóng hực ra

Chính lúc bấy giờ tôi mới hiểu Trường Sa

Hiểu đến xót xa

Tổ quốc là vỏ con ốc biển

Anh nâng niu cất gửi tặng quà

Các anh chết làm gì có mộ

Làm gì có đất cho máu tụ thành hồn

Máu tan loãng thân thể chìm mất dạng

Chỉ còn đảo và cờ tổ quốc giữa trùng dương

Xin cứ giận các anh rồi thứ lỗi

Ôi con tôi sao nó bỗng khóc òa

Tôi hôn con ghì Trường Sa vào ngực

Bãi đá ngầm cào rách thịt da

Mùa đông này, Cao lại về Hà Nội - 3

Đảo Trường Sa lớn

Nhà thơ của một mầu

(Kính tặng nhà thơ Hữu Loan)

Người từng nắm cục than

Gan cóc tía

Để một đời niu niu hoa lúa

Thế giới lắm sắc mầu

Đi tận cùng mầu ấy

Người khóc người vợ chết cực kỳ

Khóc ai còn che dấu

Kìa xem con cá sấu

Nước mắt cũng lắm mầu

Đi tận cùng mầu ấy

Người giữ lửa

Nùi rơm ngun ngún cháy

Có một chiều mưa nào chạnh thấy

Mống cụt cũng bẩy mầu

Đi tận cùng mầu ấy

Người câm như hạt thóc

Ba mươi năm

Ba mươi năm là mấy

Bỗng nẩy mầm

Òa lên mùa màng con gái lúa ứa sữa

Người hư thực bên tôi

Mái tóc bạc ảo mờ sương dĩ vãng

Bất chợt

Chảy nhểu ra từ bên con mắt lớn

Giọt nước mắt mầu sim

Về

Cho chân vào cái cối đời

Niềm tin ra bã lại vời đến quê

Cổng làng

Như lá bùa mê

Chợt kinh hoảng sợ

Chợt tê tái buồn

Làng ơi

Cúi lạy thành hoàng

Cho con được phép khẽ khàng vào quê

Ngõ quen trâu dẫn lối về

Vườn xưa mất dấu trăng thề vườn xưa

Bẻ gai bưởi để nhể chưa

Ruột con ốc vặn cay chua với gừng

Ngẫm mà kinh

Nghĩ mà mừng

Xắn tay áo vặn sợi thừng cột trâu

Ao tình quẳng hết lưỡi câu

Chụm tay hớt bống bế bầu bạn xưa

Bà còng đi chợ trời mưa

Con xin làm gậy đi đưa bà còng

Đụng non xanh mấy quả bòng

Nhả nhơi mấy sợi tơ hồng nhả nhơi

Lăn vào rơm rạ mà chơi

Còn mê hồn trận dạ thôi xin chừa

Đầm đìa bụi duối mưa mưa

Nơi chôn nhau đất giun vừa đùn lên

Dậy trời sấm sét vang rền

Mẹ ru con

Trôi đêm đêm sông Hồng

Nghe cuồn cuộn chảy mạch làng

Trong ràng rịt rễ những hàng tre xanh

Mùa đông này, Cao lại về Hà Nội - 4

Ảnh minh họa 

Những nhà thơ đột tử

Bỏ lại những bông hồng

Bỏ lại

Cao vọng hình vỏ ốc

Quyến rũ sắc mầu vỏ ốc

Thoi thóp thở trên bùn

Cá ao tù kiệt nước

Giẫy lên khát thèm

Người mẹ nằm ru con

Chim sẻ ru mái ngói

Mái ngói ru trời xanh

Trời xanh ru hiểm họa

Trời xanh ru rú lên

Lối mòn chân quen bước

Tia mắt nhìn dựng đứng gốc thông

Có một người đàn ông

Trong một người đàn ông khóc

Chết như chạy trốn

Những người đau đớn yêu

Cốm

Tuổi mười hai tắm ao sen

Hồn nhiên như chuối lột vỏ

Tới thì thơm thấm qua lá

Ngu ngơ ngã vào cối đá

Thành hoàng chày giã nên em

Cốm xinh núm vú cô mình

Tuổi mười hai mười tám tuổi

Chiếc lá sen xanh tở mở

Sợi rơm vàng buộc lại nhanh

Yếm trắng đeo trăng đụn địn

Chít khăn mỏ quạ quần thâm

Theo đòn gánh tre vồi vội

Qua Ô Quan Chưởng nhập thành

Một gánh cốm đi lủi thủi

Một tôi mừng tủi theo sau

Mau mau qua Hàm Cá Mập

Mau mau qua tháp Hỏa Lò

Deo dẻo chân về Hàng Quạt

Hàng Cót, Hàng Nón, Hàng Bồ

Áo nâu non màu phố cổ

Lưa thưa trưa khói thuốc lào

Vài ba lá vừa rơi rớt

Cọ lên mái cũ thì thào

Chợt tôi tiếc mùa thu gốc

Níu vào quang gánh và em

Hỡi mùa thu như mắt liếc

Khứa lên da thịt quả hồng

Những no tròn đang ưng ửng

Lên môi lên mắt biết cười

Lên mười hai mười tám tuổi

Đuổi đeo bóng mùa đắm đuối

Tôi van người nghỉ ngơi chân

Miếu xưa em vừa đặt gánh

Cốm còn lên gác Khuê Văn

Rồi mùa thu sướng âm ỉ

Gió lật lưng lá sen xanh

Sợi rơm cởi vàng ong óng

Kìa trăng màu áo nâu non

Ngả dần dà sang sắc cốm

Còn em sao chẳng rao hàng

Đổi đòn hai vai lăn lẳn

Quảy mùa thu đi nhẹ nhàng

Mùa đông này, Cao lại về Hà Nội - 5

Ảnh minh họa 

Mùa thu

Đi dọc đường Nguyễn Du

Lẽo đẽo mùa thu theo cùng phố

Một người dắt con chó

Đi cùng

Linh cảm không tốt lành

Linh cảm mất

Mùa thu này khó nhận biết

Nắng gió khác đi

Các cô gái khác đi

Trong mắt tôi nhìn lá vàng chạy trốn

Những khúc ngoặt hết bất ngờ

Sững người không phải thu

Đã có nhiều cái mới hiện ra

Và mùa thu teo lại

Linh cảm xa mãi mãi

Làm kinh sợ

Hồn tan sóng

Một cuộc đời nữa làm sao kham nổi

Hà Nội trong đê

Nghiêm mật

Canh phòng

Lũ sông Hồng cuồn cuộn

Cốm mềm mềm

Mùa thu thơm dẻo mãi

Thu vĩnh viễn 

(Tặng vợ tôi)

Hà Nội chiều nay lòng nhao nhác nhớ

Đường sấu mùa thu xanh tận cuối đời

Heo may nắng hoe vàng rơm rớm khóc

Đẹp ướt mi ai hè phố mùa thu

Nâng chén men say nhẹ mảnh lá chiều

Gió bỗng phiêu diêu kìa ai đứng lại

Một cô áo vàng trong cõi thu riêng

Bóng ngả dài theo mùa thu vĩnh viễn

Mùa hạ sấu

Vọt từ đông sang hạ sấu chín rồi

Mùa hạ đấy tiếng ve sầu đâu mất

Tiếng chuông tầu đâu nữa gõ leng keng

Rồi tất cả sẽ trôi vào quên lãng

Sẽ trôi vào tất cả hả em

Lá day dở gió đùa lên xào xạc

Thời gian chao tao tác những mảnh đời

Qua khe khắt ngày thường phơi trần trụi

Ta quên mình ngốc nghếch tuổi hai mươi

Ta quên mình đã có một thời

Đã đốt hết một thời lên thành lửa

Trong xác lá phủ dầy ai biết nữa

Hương tro còn ngần ngận ở đâu đâu

Và nắng nóng rộp lưng người rôm đốt

Vị nước rau chua mát giữa trưa hè

Cây trút xuống sục chân vào lá sấu

Se sẽ về đầu mùa hạ năm sau

Đời đâu để nuông chiều anh bị quất

Em đôi lần có được đòn đau

Thật là tiếc chúng mình không ở cạnh

Nhưng đâu còn bé bỏng để ôm nhau

Nhưng vẫn còn một chút gì thăm thẳm

Bừng sáng lên đường sấu mỗi ban mai

Từng chùm quả mắt nhìn chua cả gió

Thổi lang thang suốt tháng năm dài

Hà Nội mùa đông 

Yêu sao Hà Nội những quán nước chè mùa đông

Người im xe điếu tay cầm

Nuốt vào khói nước trầm trầm trông mưa

Tường rêu góc phố ai chờ

Cành bàng khô những gió mùa lượn quanh

Hồ Gươm ghế đá vắng tanh

Chiều Cổ Ngư nắng tắt nhanh trên đường

Sông Hồng

Ô ngô lên thắm bãi bồi

Người ơi nhớ nhé mai rồi bẻ ngô

Để thơm hè phố xửa xưa

Lửa than hồng quạt vào mưa lạ lùng

Nhà ai quấn chiếc chăn bông

Dấu trong chăn ấm lòng không nghĩ nhiều

Mênh mông góc phố buổi chiều

Tôi đi qua gió

Thổi nhiều hơn lên

Nguyễn Thế Khoa

Tin liên quan

Tin mới nhất