Người viết những trường ca
Tôi sống cùng cơ quan với nhà thơ Thu Bồn nhiều năm. Nhắc tới Thu Bồn, ngoài những kỷ niệm, ngoài thơ và tiểu thuyết, tôi nhớ đến những trường ca.
Năm 1999, Thu Bồn có tặng tôi một tuyển tập trường ca của riêng ông. Một tuyển tập trường ca đồ sộ, cộng thêm cả những lời tự bạch về nghề, về mình, dày 500 trang. Bìa ngoài tập sách là ảnh tác giả và kèm theo dòng chữ: “Kính tặng Tổ quốc”.
Bài ca chim Chơ-rao là trường ca đầu tay Thu Bồn viết năm 1963 (được giải thưởng văn học Bông Sen của Hội Nhà văn Á Phi năm 1973) và cũng là trường ca đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trường ca này Thu Bồn viết theo lối truyền thống, có cốt truyện, có nhân vật. Người đọc bị cuốn hút, rung động bởi lối dẫn chuyện, bởi nhịp thơ, bởi ngôn ngữ, hình tượng. Ở những trường ca khác, Thu Bồn không chịu đi theo lối mòn, ông có một cuộc cách tân bứt phá, tự vượt lên mình. Bứt phá cả trong cách cấu trúc, trong thể loại thơ, trong cách biểu đạt:
“Quê hương tôi bé nhỏ đẹp xinh
có đá trong mưa
lửa trong nắng
…
người miền Nam hào phóng
người miền Bắc cần cù
đất nước tôi có Biển Đông
vừa đủ mặn mồ hôi bốn ngàn năm lao động
đất nước tôi có núi cao
vừa đủ trèo lên để ngắm hết lãnh thổ mình
...
dân tộc tôi da vàng
không màu da nào hợp hơn
đất vừa đen vừa đỏ
vừa thẫm vừa nâu
mẹ sinh con ra màu da như thế vỏ địa cầu…
(Quê hương mặt trời vàng)
Trường ca của Thu Bồn nói về quê hương, đất nước, về mẹ, về cuộc chiến tranh thổi dọc đời mình. Từ hồi nhỏ, Thu Bồn đã là thiếu sinh quân, vào chiến trường miền Nam, ông là quân giải phóng. Chiến tranh đã để dấu trên cơ thể ông những vết sẹo, những cơn sốt rét. Chiến tranh đã để dấu trong gia đình ông: vợ chồng ông lấy nhau ở chiến trường, hai con ông sinh ở chiến trường đều bị di chứng chiến tranh, một cháu qua đời vì máu trắng, một cháu mắc bệnh tâm thần. Chiến tranh để dấu trong thơ ông, ông đau xót vì thiếu quê hương, thiếu mẹ: “Trời xanh che hộ mầu tóc mẹ/ Con vẫn muôn đời thiếu cố hương”. Với ông, chiến tranh có ngay từ lúc ông mới lọt lòng:
“Mẹ sinh con ra vào năm tuổi Hợi
cắt rốn cho con bằng một mảnh bom
dúm nhau mẹ và rốn con chôn một chỗ
máu bào thai mẹ và máu con cùng chảy một lần”.
Sau hòa bình năm 1975 được mấy năm, Thu Bồn lại khoác ba lô đi theo đoàn quân tình nguyện Việt Nam sang Campuchia. Ông có viết hai trường ca về đất nước Campuchia trong thời kỳ bóng đêm của nạn chết chóc, diệt chủng. Ông ca ngợi những người lính quân tình nguyện Việt Nam:
“Qua năm tháng rừng già thay lá
xe như rang khô khốc những luống cày
tôi bỗng nhớ các anh trong đất ngủ
người tình nguyện quân ngã xuống nơi này”.
(Campuchia hy vọng)
Trong những chuyến đi nằm vùng nhiều ngày, Thu Bồn hiểu thêm về đất nước, về con người Campuchia. Ông ca ngợi dòng sông, đỉnh núi, và những tượng đá, đền đài tạc vào thế kỷ. Ông nói về vẻ đẹp ngàn đời của hàng cây thốt nốt:
“Cái rừng thốt nốt lưa thưa
mùi thơm da diết, gió đưa khắp đồng
cứng hơn trắc, bền hơn thông
cao hơn gỗ tếch bóng không hợp vườn
cây là hình bóng quê hương
khổ đau lận đận càng thương cây nhiều
rượu vàng gửi tặng em yêu
trái cây đọng lại nắng chiều ngẩn ngơ
quê hương lẩn khuất bụi bờ
bóng trâu đủng đỉnh sương mờ dần buông
chùa cao thánh thót hồi chuông
nghe trong im lặng, nỗi buồn Ăngko
ơi rừng thốt nốt tự do
con thuyền nan - một chuyến đò sang sông”.
(Campuchia hy vọng)
Tôi muốn dẫn chứng nhiều câu hay, đoạn hay mà tôi nhớ, tôi thuộc trong những trường ca của Thu Bồn. Cùng với thể loại thơ tự do, thơ văn xuôi, Thu Bồn còn sử dụng các thể loại thơ khác trong trường ca. Ngoài Bài ca chim Chơ-rao, Quê hương mặt trời vàng, Campuchia hy vọng, Oran 76 ngọn... các trường ca khác của Thu Bồn như: Chim vàng chốt lửa, Người gồng gánh phương Đông, Bazan khát... đều có những đoạn hay, câu hay, đều có những khám phá, sáng tạo.
Thu Bồn quan niệm về trường ca là một kiến trúc tổng hợp của thơ ca. Với kinh nghiệm của bản thân, ông tâm sự: “Trong thơ trữ tình, khuynh hướng hiện thực cũng được phản ánh, nhưng tính lãng mạn hầu như bao trùm và có những lúc bị quần lại trước những hiện thực dữ dội. Thơ trữ tình thường né tránh những đề tài quá ư phức tạp trong đời sống và nếu có thể hiện thì phần nhiều sử dụng phương pháp lãng mạn. Trường ca có thể xông vào hiện thực cuộc sống với tất cả sức mạnh của nó, giống như một người công binh đào hầm lại có đủ cả xẻng, cuốc, khoan máy, thuốc nổ... Trường ca dám xông vào những chỗ hóc búa, những vỉa đá ngầm của cuộc sống...”.
Đúng vậy, bằng sự đa dạng phong phú trong thể loại, trường ca có sức ôm trùm, khái quát và giàu chất sử thi. Ở giai đoạn chống Mỹ cứu nước, có nhiều trường ca hay, Thu Bồn là một cây bút tiên phong, có nhiều thành quả rất đáng ghi nhận trong thể loại này.
Bây giờ ông đã vĩnh biệt chúng ta, nhưng qua những trường ca, tôi vẫn hình dung ra ông rất rõ, tôi vẫn nghe tiếng chim Chơ-rao, tiếng gió thổi trên nóc rừng, tiếng suối, tiếng thác, tiếng dòng sông ì ầm dội lại...

Các nhà thơ thời Thơ Mới 1930 - 1942 tôi yêu nhất Chế Lan Viên, tôi yêu chất trí tuệ, tầm khái quát rộng và sâu… Từ yêu...
Bình luận