Nhựa sống trong những trang tiểu thuyết Chu Lai
Đại tá, nhà văn Chu Lai sinh năm 1946, quê gốc Hưng Yên, nổi tiếng là một người viết khỏe - cứ nhìn số đầu sách đủ loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, bút ký, kịch bản phim truyện và kịch bản sân khấu mà ông đã xuất bản thì biết - và nói cũng khỏe. Không những khỏe, còn đầy sức hấp dẫn công chúng. Chẳng thế mà lâu nay, trên sóng của nhiều kênh truyền hình từ trung ương xuống địa phương, Chu Lai đã trở thành một gương mặt rất đỗi quen thuộc, nhất là vào những dịp kỷ niệm 30 tháng 4, 27 tháng 7, 2 tháng 9 và 22 tháng 12.
Ông nói về chiến tranh và những người lính cầm súng chiến đấu. Ông nói về những người đã chết trong chiến tranh và những người còn sống để trở về. Ông nói về lý tưởng cộng sản, chủ nghĩa anh hùng cách mạng của tuổi trẻ một thời và những mất mát, đau thương không thể tính đếm được mà chúng ta đã phải trả cho hòa bình, thống nhất đất nước và độc lập dân tộc. Ông nói về tình yêu, tình đồng đội, phẩm giá con người và cả sự phản bội, tính vị kỷ, sự hèn nhát mà phải nhúng trong dung dịch cường toan của chiến tranh nó mới bộc lộ nguyên hình. Ông nói bằng ngôn ngữ lời nói, bằng nghệ thuật đài từ điêu luyện của người nghệ sĩ sân khấu: có ngưng nghỉ, có nhấn nhá, có lúc buông thật thấp, có khi vọt đến cao trào. Nhưng trên hết và quan trọng nhất, ông nói bằng nhiệt huyết của một người lính đã được tôi luyện trong trận mạc, thứ nhiệt huyết luôn âm ỉ và đã thực sự trở thành nhựa sống chảy trong những trang tiểu thuyết đã đóng “mác” Chu Lai.

Nhà văn Chu Lai
“Mác” Chu Lai là những dấu hiệu nhận diện của một kiểu thuyết chiến tranh - và phần kéo dài tiếp theo của nó: hậu chiến - với đầy những chi tiết, sự kiện, biến cố, khúc rẽ, bước ngoặt bất ngờ; nó là hiện thực trần trụi khắc nghiệt nhưng cũng không thiếu chất melodram mùi mẫn, thương cảm, có khả năng nhanh chóng lấy được sự đồng cảm sẻ chia của phần đông công chúng độc giả. Đặc điểm ấy trong tiểu thuyết Chu Lai được tạo thành từ hai nguồn: thứ nhất, ông vốn là một nhà văn thuộc thế hệ chống Mỹ, người đi ra từ chiến tranh với tư cách một người lính, lính dã chiến, người luôn phải đối mặt với địch quân và lằn ranh sinh tử trong từng giờ từng phút.
Thứ hai, trước khi là nhà văn, thậm chí trước cả khi là người lính chiến đấu ở vùng rừng giáp ranh sông Sài Gòn, Chu Lai vốn là một diễn viên kịch của Đoàn văn công Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Một nhà văn - kịch sĩ mang theo tính kịch vào những trang tiểu thuyết của mình, điều ấy có lẽ cũng dễ hiểu.
Tóm lại đặc điểm ấy xuyên suốt trong nghiệp văn Chu Lai, từ tiểu thuyết Nắng đồng bằng (1978) của thời tráng niên kiêu hãnh, đầy những tiếng reo vui chiến thắng khi chiến tranh vừa kết thúc, đến tiểu thuyết Mưa đỏ (2016) ông viết ở tuổi bảy mươi, hắt cái nhìn ngược về tuổi trẻ của chính thế hệ mình, thế hệ chống Mỹ, những người lính trẻ măng, giàu mộng mơ và tràn đầy niềm tin vào lý tưởng ngay cả khi chắc chắn sẽ trăm phần tan thây dưới bom đạn ở Cổ thành Quảng Trị mùa hè năm 1972 (Mưa đỏ còn được chuyển thể thành kịch bản phim truyện, kịch bản kịch nói, kịch bản chèo, được dàn dựng, công diễn và góp phần không nhỏ vào sự quan tâm trở lại đầy hào hứng với lịch sử chiến tranh cách mạng trong giới trẻ mấy năm gần đây).
Tuy nhiên, đạt đến độ chín muồi, chín nục của tiểu thuyết Chu Lai, ra chất nhựa sống trong tiểu thuyết Chu Lai nhất, phải là những tác phẩm ông viết trong khoảng hai mươi năm, từ 1990 đến 2010: Phố (1993), Ba lần và một lần (1999), Cuộc đời dài lắm (2001), Khúc bi tráng cuối cùng (2004), Chỉ còn một lần (2006)... Và, như một tất yếu, không thể bỏ qua cuốn tiểu thuyết đã “đóng đinh” tên tuổi Chu Lai trong lịch sử tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ Đổi mới: Ăn mày dĩ vãng (1991).

Một số tác phẩm của Chu Lai
Câu chuyện trong tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng được kể lại chủ yếu theo hai dòng tự sự, bởi hai người kể chuyện khác nhau. Thứ nhất là truyện kể ở thời hiện tại với người kể truyện là nhân vật xưng Tôi, một cựu đội trưởng trinh sát đặc nhiệm từng chiến đấu nhiều năm ở rừng miền đông, vùng giáp ranh sông Sài Gòn. Sau ngày đất nước thống nhất, anh ra quân về Bắc, lên voi xuống chó suốt thời hậu chiến, tưởng đã yên phận với tuổi tri thiên mệnh nhưng rồi anh vẫn một mình lặn lội vào Nam, trở lại chiến trường xưa, tìm lại những mảnh ký ức cá nhân về đất và người thời chống Mỹ, ăn mày dĩ vãng của chính mình.
Cũng chẳng còn cách nào khác, vì ngoài dĩ vãng, anh không có gì thuộc về mình: không gia đình vợ con, không hiện tại, không tương lai. Thứ hai là truyện kể của nhân vật người kể chuyện toàn tri về quá khứ sống và chiến đấu của nhân vật xưng Tôi kia, tên Hai Hùng, người lính cách mạng được mô tả như một chiến thần vùng rừng thưa giáp ranh Sài Gòn, đầy mưu trí và cực kỳ dũng cảm khi đánh giặc, nỗi khiếp sợ mang danh “ác ôn Việt cộng” với cả lính Mỹ lẫn lính Việt Nam cộng hòa (Trong tiểu thuyết còn có hai nhân vật người kể chuyện xưng Tôi khác, là Tường, viên đại úy chế độ cũ trong chương Lời kể của viên đại úy; và cô Ba Sương, tức Tư Lan ở thời hiện tại, trong Chương chót cùng. Hai dòng tự sự của hai nhân vật này mang ý nghĩa mở nút, làm sáng tỏ toàn bộ những sự thật bị che giấu hoặc vô tình mờ khuất trong diễn biến cốt truyện).
Cùng một nhân vật Hai Hùng nhưng ở hai hoàn cảnh sống khác nhau. Quá khứ thì trẻ trung, cường tráng, kiêu hãnh, hiên ngang, thậm chí có phần ngông ngạo trong mắt của các cấp chỉ huy vốn ưa kỷ luật và sự chỉn chu, biết phận, biết nghe lời. Hiện tại thì trắng tay, thất thểu, nát tướp cả thân thể lẫn cõi lòng giữa “một nền hòa bình thản nhiên” - chữ của Nguyễn Minh Châu, bậc đàn anh văn chương cùng “nhà số 4” với Chu Lai - như chưa từng biết có xương rơi máu đổ.
Tuy nhiên, ngay cả trong vầng hào quang kiêu hùng thời chiến thì Hùng cũng đã là một nhân vật “cả nghĩ” rất phức tạp. Hùng kiên gan bám trụ trên chiến trường khốc liệt, chiến đấu hết mình, sẵn sàng hy sinh vì lý tưởng, nhưng anh tự nhận thức mình không phải là một cái máy cầm súng, nên anh kinh sợ chiến tranh. Kinh sợ chiến tranh bởi bộ mặt tử thần với những khía cạnh tàn bạo, vô nghĩa, phi lý của nó. Đội đặc nhiệm của anh bao nhiêu lần được bổ sung quân thì bấy nhiêu lần chết quân, quanh đi quẩn lại cũng chỉ có bảy, tám chiến sĩ còn sống để bám đất, bám dân. Không ai sống quá ba tháng, trừ Hùng. Anh như thể phải sống để chứng kiến đồng đội mình chết, từng người. Có những cái chết do đối chiến, lại có những cái chết “lãng xẹt”: chết do một trái pháo mồ côi rơi vu vơ, chết do mải đánh nên quên chưa đóng chốt quả lựu đạn, chết do đồng đội lỡ tay cướp cò khẩu B41... Với Hùng khi ấy, còn sống, là cả một sự phi lý, là việc phải gánh vác mặc cảm tội lỗi trước những người đã chết. Không chủ thuyết nào có thể biện minh nổi cho điều đó.
Nhưng sự tàn phá, hủy diệt của chiến tranh không chỉ là cái chết. Theo một cách quỷ quyệt, chiến tranh còn âm thầm gây nên những chấn thương ở bề sâu tâm lý, tính cách, bản sắc giới... Cặp tình nhân Hai Hợi - Tám Tính chẳng hạn. Hai Hợi, một phụ nữ xinh đẹp, phóng túng đã vì lo lắng bảo vệ cho cô em họ Ba Sương của mình mà từ thị xã vô cứ, làm đội trưởng đội du kích, đánh giặc rất hăng hái. Nhưng đó cũng là quá trình cô bị nam tính hóa: nhìn từng phần thì rất đàn bà nhưng tổng thể thì lại chẳng khác đàn ông là mấy. Đã thế cô lại còn thêm thói quen muốn tận mắt quan sát bác sĩ phẫu thuật cho thương binh, những chàng trai măng tơ bị thương ở phần ổ bụng. Còn Tám Tính, người đàn ông cường tráng, gan lỳ, đến trời sập cũng không ngán ấy nếu chỉ xông lên giết giặc thì không thể sử dụng hết sức vóc đàn ông của mình. Nên anh phải làm một con cọp: cứ hễ “lên cơn” là chẳng nói chẳng rằng, vồ ngay lấy “con mồi” mà hành sự theo đúng cách của một chúa sơn lâm.
Thật ra đó đều là những trường hợp bệnh lý tâm thần bắt nguồn từ hoàn cảnh chiến tranh. Và nó chỉ có thể được chữa khỏi hoặc thuyên giảm nhờ vào phép màu của tình yêu. Mối tình mãnh liệt, man dại nhưng cũng “quá đỗi con người” của Tám Tính - Hai Hợi là như thế. Và đương nhiên, không thể không nói đến tình yêu định mệnh của Hai Hùng - Ba Sương và cái lần đầu tiên, cũng là lần duy nhất, đôi tình nhân trao thân cho nhau trong căn hầm bí mật. Đây là một hiện thực đầy góc cạnh, khốc liệt nhưng cũng đầy lãng mạn và giàu chất thơ trong toàn bộ cuốn tiểu thuyết. Một dĩ vãng mà sau đó, thời hậu chiến, nhân vật Hùng không thể không ăn mày. Ăn mày để tìm lấy một chút hơi ấm từ ký ức mà nương tựa, mà tiếp tục sống.
Ở đây cần phải nói ngay về một đặc điểm: Viết tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng, dường như nhà văn Chu Lai có chủ ý sinh tạo những con người khác thường chứ không phải những người lính cách mạng, những chiến sĩ bộ đội Cụ Hồ bình thường như ta vẫn hình dung. Những nhân vật mang tính chất grotesque (nghịch dị), có thể nói như vậy. Cặp tình nhân Hai Hợi - Tám Tính là một ví dụ. Về sau, khi Tám Tính bị thương nặng và chỉ còn nằm chờ chết, thì anh đã tỉnh lại và dần phục hồi là nhờ nhìn ngắm, hít ngửi bộ ngực vĩ đại của cô y tá đang chăm sóc thương binh. Hết chiến tranh, hai người kết vợ chồng và sinh một lèo mười hai đứa con. Ba Sương - Hai Hùng là một ví dụ khác. Hai Hùng, ngoài phẩm chất yêng hùng của một anh hùng, còn là người có con mắt bạc đi mỗi khi khác ý. Còn Ba Sương, riêng cái chết hai lần của cô - một lần chết (hụt/ giả) trong chiến tranh, khi bị địch xoi trúng hầm; một lần chết (thật) thời hậu chiến, khi vết thương ở não cô không chịu đựng nổi sự kích động trước màn kịch thú tội - là đủ rõ.
Cũng không thể bỏ qua nhân vật cựu bác sĩ quân y Ba Thành, người đàn ông Nam Bộ “rặt”, thẳng thắn đến mức lỗ mãng, luôn miệng chửi tục hoặc ăn nói móc máy nhưng trượng nghĩa và hết lòng hết dạ với bạn bè, đồng đội chiến đấu cũ thì không ai bằng. Có thể nói, khi khắc họa những nét grotesque (nghịch dị) này trên chân dung các nhân vật, nhà văn Chu Lai đã đưa hình tượng người lính cách mạng từ bục bệ sử thi vào dòng chảy của cuộc sống đời thường, khiến họ từ đối tượng chỉ thuần được ca ngợi trở thành đối tượng của sự chất vấn và tự vấn liên tục. Đây là cả một bước tiến về tư duy tiểu thuyết đề tài chiến tranh cách mạng thời kỳ Đổi mới.
Trong những chương kết của tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng, hồi ức và lời kể, lời tự thú của các nhân vật lần lượt phơi bày những điều bí mật được giấu nhẹm lâu nay: sau khi bị địch xoi trúng hầm, Hai Hùng chạy thoát, Ba Sương chạy theo không kịp, bị bắn chết. Nhưng thật ra cô không chết, mà thân thể cô đã được đánh tráo bằng cái xác của Hai Hợi đã bị hiếp và giết chết trước đó. Hai Hùng cướp xác người yêu đem chôn, chính là cướp cái xác đã bị đánh tráo này. Sau giải phóng, Ba Sương về miền Tây với một lý lịch mới, hết sức phấn đấu trong công việc và đã liên tục lên các chức danh trong hàng ngũ lãnh đạo tỉnh với cái tên Tư Lan.
Đúng lúc đó, mười sáu năm sau ngày giải phóng, Hùng từ Bắc vào Nam “ăn mày dĩ vãng”. Gặp Ba Sương anh đi từ nỗi ngờ vực đến sự quyết chí tìm ra đáp án cho cái nghi vấn phi thực của mình... Một câu chuyện được đan cài giữa ký ức chiến tranh với sự đối mặt trước những vấn đề của hiện tại. Chiến tranh kéo dài, thời hậu chiến còn dài hơn và càng ngấm hơn với những chấn thương mà chiến tranh đã để lại. Con người đã ra khỏi chiến tranh nhưng chiến tranh chưa ra khỏi con người. Đó dường như là định mệnh của những người lính thực sự cầm súng chiến đấu trên các chiến trường thời chống Mỹ. Và đó cũng là thế mạnh vô song của các nhà văn - người lính thuộc thế hệ chống Mỹ như Chu Lai.
Ảnh: Nhà văn Chu Lai
Bình luận