Bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội truyền thống gắn với thương cảng Phố Hiến trong giai đoạn phát triển hiện nay

Phố Hiến - lịch sử vùng đất gắn với môi trường văn hóa vùng sông nước và sự giao thoa giữa các nền văn hóa.

Phố Hiến nằm bên tả ngạn sông Hồng, cách thủ đô Hà Nội hơn 50km. Phố Hiến trước đây vốn là cửa biển, nơi hội tụ của 3 dòng sông: sông Hồng, sông Luộc và sông Vị Hoàng. Cư dân sinh sống đầu tiên ở vùng đất này là vạn chài, sau này khi đắp đê trị thủy cư dân bắt đầu làm nông nghiệp khai phá vùng châu thổ được bồi đắp. Vào thế kỷ XVI-XVII, Phố Hiến được coi là trung tâm đường thủy của vùng châu thổ sông Hồng với ngược sông Hồng đến kinh thành Thăng Long, xuôi sông Hồng ra ngã ba Tuần Vường (cửa Luộc) đi về Thái Bình cũ, Nam Định cũ là ra đến biển. Từ ngã ba Tuần Vường theo sông Luộc đi Ninh Giang (Hải Dương cũ) sang Kiến An ra cảng Hải Phòng. Đây chính là những con đường song huyết mạch chiến lược và là điều kiện quan trọng để Phố Hiến trở thành một thương cảng lớn ở phía Bắc nước Đại Việt xưa.

Bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội truyền thống gắn với thương cảng Phố Hiến trong giai đoạn phát triển hiện nay - 1

Khi đã trở thành cảng thị, cư dân ở Phố Hiến rất đa dạng với nhiều thành phần và nguồn gốc khác nhau. Người Hoa đến vùng đất này sớm nhất, đông nhất và cư trú lâu nhất. Người Nhật đến vùng đất này sau người Hoa, sau đó là người Bồ Đào Nha đến để truyền đạo, người Hà Lan, người Anh, Pháp đến Phố Hiến lập thương điếm. Thời kỳ thịnh đạt của cảng thị có 23 phường trong đó có 11 phường làm nghề thủ công truyền thống.

Từ thế kỷ XVIII, do nhiều nguyên nhân, Phố Hiến không còn giữ được vị thế của mình. Từ năm 1997 - 6/2025, thành phố Hưng Yên (địa giới thương cảng Phố Hiến cũ) trở thành đô thị trung tâm của tỉnh Hưng Yên, có tổng diện tích là 46,80km2, chia thành 12 đơn vị hành chính, gồm 7 phường và 5 xã. Từ ngày 1/7/2025, khu vực Phố Hiến xưa thuộc phường Phố Hiến, Sơn Nam, Hồng Châu và xã Tân Hưng hiện nay. 

Lễ hội truyền thống vùng thương cảng cổ Phố Hiến 

Phố Hiến có mật độ di tích và lễ hội tương đối đậm đặc, điều này đã phản ánh đời sống tín ngưỡng của người dân nơi đây. Là cư dân nông nghiệp gắn liền với hệ thống sông Hồng, tín ngưỡng thờ thủy thần và lễ hội liên quan đến tín ngưỡng này chiếm số lượng lớn đó là tục thờ nước, cầu mưa. Các vị thủy thần được thờ tại khu vực này là Trương Hống, Trương Hát (Ông Dài, Ông Cụt) trong lễ hội đình Cửa Càn, các vị thần rắn trong lễ hội đình Đào Đặng, lễ hội Quan Lớn đệ tam đền Quan Lớn, tục thờ Bát Hải đại vương - người đứng đầu hệ thống các thủy thần trong lễ hội đình Đa Phú…

Bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội truyền thống gắn với thương cảng Phố Hiến trong giai đoạn phát triển hiện nay - 2

Tục thờ nữ thần là thủy thần ở khu vực Phố Hiến cũng khá dày đặc với lễ hội đền Bảo Châu thờ Trần Mã Châu, nữ tướng dưới thời Hai Bà Trưng, lễ hội đền Nễ Châu thờ vợ Vua Lê Hoàn là Nguyễn Thị Ngọc Thanh, lễ hội đền Bà Chúa Kho thờ bà Lê Bạch Lương, mẫu Liễu Hạnh... Trong đó, mẫu Liễu Hạnh giữ một vai trò đặc biệt quan trọng. Mẫu Liễu ở khu vực này là thuỷ thần, mẫu còn phù trợ cho những người làm nghề đi biển, được cư dân vùng sông nước thờ cúng.

Các lễ hội và tín ngưỡng về các vị thần là nhân vật lịch sử cũng cho thấy được vị trí chiến lược về quân sự cũng như giao thương của vùng đất qua các thời kỳ như: thần Cao Sơn, Trần Lữu, Linh Lang đại vương, Đinh Điền, Phạm Phòng Át, Đoàn Thượng, Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn, Phạm Ngũ Lão…

Trong các nghi lễ, nghi thức rước nước được thực hành hầu hết trong lễ hội (Lễ hội đền Tiên La tổ chức lễ hội vào rằm tháng ba âm lịch, lễ hội được tổ chức nhằm tưởng nhớ đến bà Vũ Thị Thục - là vị tướng dưới thời kỳ Hai Bà Trưng với các nghi lễ: mộc dục, phong y, rước kinh Phật… Lễ hội đền Đinh Điền, hội đền Mây cũng có nghi thức thỉnh kinh rước nước trên sông Hồng).

Trên địa bàn Phố Hiến, theo khảo sát nhà nghiên cứu Nguyễn Duy Hinh ở xã Liên Phương xưa vốn thuộc cửa Càn có đền thờ Bạch Mã với truyền thuyết “vết chân to”. Các nhà nghiên cứu Phật học cho rằng, tục thờ dấu chân mang dấu ấn của Phật giáo sớm. Có lẽ vì thế mà lễ hội trong các ngôi chùa ở Phố Hiến vẫn mang đậm tính chất dân gian với tục lễ dâng hương, tế lễ và các trò diễn dân gian (Đây cũng là một trong những nghi lễ đặc trưng của các ngôi chùa tiền phật hậu thánh thể hiện sự giao thoa tín ngưỡng bản địa và Phật giáo du nhập vào Việt Nam).

Văn hóa của người Hoa ở Phố Hiến vẫn được bảo lưu khá đậm nét như lễ hội Võ Miếu được tổ chức vào ngày 24/6 và ngày mùng 4/9 âm lịch, lễ hội đền Mẫu tổ chức từ ngày mùng 10 /-13/3 âm lịch, lễ hội đền Thiên Hậu tổ chức vào ngày 23/3 và ngày mùng 9/9 âm lịch hàng năm, lễ hội Đông Đô Quảng Hội tổ chức ngày mùng 3/1 và ngày mùng 10/10 âm lịch. Lễ hội của người Hoa ở Phố Hiến về cơ bản đã giao thoa với văn hóa bản địa với những nghi lễ mộc dục, rước nước, rước kiệu thần, phụng chầu, tế lễ dâng hương và diễn ra các trò chơi dân gian như tổ tôm điếm, chọi gà, cờ bỏi, biểu diễn ca trù, hát chèo vào các buổi tối. Sự khác biệt đó là chủ thể hạt nhân tham gia thực hành các nghi lễ chính vẫn là người Hoa, đồng thời có sự tham gia người Việt vào trong các nghi lễ, các đội múa rồng, lân trong đám rước có sự khác biệt từ điệu múa đến cách trang trí rồng lân, sự lựa chọn lễ vật dâng cúng như bánh sìu châu, lợn quay trong buổi tế chính cũng là những điểm đặc sắc trong lễ hội. Những ngày lễ hội người Hoa ở các tỉnh lân cận đều về dự lễ hội để cầu phúc, cầu buôn bán thuận lợi. Đặc biệt là họ về dự hội để cầu thần phù trợ cho mình tai qua nạn khỏi trong công việc và cuộc sống.

Mỗi lễ hội cũng có những đặc trưng riêng, ví dụ với nghi lễ rước thần Lâm Tức Mặc du ngoạn thăm phố phường. Cộng đồng người Hoa lựa chọn các nữ đồng trinh đội mâm giầy, mâm hài đi trước, kế đó là bát bửu, lộ bộ, tàn lọng cùng với kiệu đức bà, đi sau là các chức sắc, bô lão và dân làng, khách thập phương về dự hội. Đám rước khởi hành từ đền Thiên Hậu ở phố Bắc Hòa rước quanh phố phường, hồ Bán Nguyệt rồi đến đền Thiên Hậu tế lễ. Lễ hội đền Võ Miếu thường tổ chức diễn tuồng theo điển tích Trung Hoa: Lưu Quan Trương, Lã Bố hí Điêu Thuyền, Khổng Minh, múa võ. Lễ vật đặc trưng bánh Tô Châu, kẹo lạc sìu châu, bánh khảo phục linh… Như vậy, sự có mặt của người Hoa ở vùng đất này đã tạo cho lễ hội Phố Hiến có sắc thái văn hoá riêng, đặc biệt so với các vùng đất ở khu vực châu thổ sông Hồng. Ngoài ra, sự ảnh hưởng của văn hoá Phương Tây với vùng đất này thông qua lễ hội chỉ còn lại những dấu ấn khá mờ nhạt vì từ năm 1954 phần lớn đồng bào thiên chúa giáo đã di cư vào Nam.

Định hướng và giải pháp phát huy giá trị lễ hội truyền thống trong bối cảnh đương đại

Từ đặc trưng văn hóa vùng đất cảng thị Phố Hiến, cùng với những chủ trương đầu tư và phát triển của tỉnh Hưng Yên, mà cụ thể là đề án “Xây dựng và Phục dựng phố Hiến cổ” trên địa bàn các phường Minh Khai, Hiến Nam, Lam Sơn, Hồng Châu và xã Quảng Châu, Hoàng Hanh, Tân Hưng, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên với mục tiêu: Xây dựng Phố Hiến trở thành điểm đến văn hóa - lịch sử tầm cỡ quốc gia và quốc tế, hướng tới đề nghị UNESCO công nhận Phố Hiến là di sản văn hóa thế giới. Với việc phục dựng các khu phố cổ, thương cảng, thuyền cổ, văn hóa giao thoa và phát triển kinh tế - xã hội bền vững và bảo tồn phát huy giá trị di sản văn hóa cho các thế hệ mai sau.

Bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội truyền thống gắn với thương cảng Phố Hiến trong giai đoạn phát triển hiện nay - 3

Các hạng mục sẽ được thực hiện là: Xây dựng Phố Hiến cổ trở thành công trình văn hóa - lịch sử mang tầm cỡ quốc gia và quốc tế; Khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị đô thị cổ Phố Hiến; Phục dựng không gian giao thương quốc tế với khu phố cổ và thương cảng Xích Đằng; Bảo tồn phục dựng văn hóa giao thoa đa quốc gia; Phát triển kinh tế - xã hội tạo công ăn việc làm; Bảo vệ môi trường và phát triển sinh thái; Định vị Phố Hiến là điểm đến du lịch tầm cỡ quốc gia và quốc tế; Tạo lập cộng trình di sản cho thế hệ mai sau, chúng ta cần phải định hướng và đưa ra các giải pháp bảo tồn giá trị di sản văn hóa cụ thể, thiết thực và hiệu quả. 

Với chiều dài lịch sử, lễ hội nói riêng và di sản văn hóa nói chung là sự tích hợp và tái hiện những sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước, những truyền thuyết dân gian, những tri thức dân gian. Các nghi lễ, thực hành di sản chính là sự biểu hiện giữa quá khứ và hiện tại, sự cố kết cộng đồng không chỉ ở một làng một xã, liên làng liên xã mà còn là cả vùng đất, quốc gia, dân tộc. Các di sản văn hóa có ý nghĩa giáo dục vô cùng sâu sắc về lịch sử, sứ mệnh dựng nước, giữ nước, chấn hưng, phát triển và tự chủ dân tộc. Di sản văn hóa được sinh ra từ trong cộng đồng, vì vậy, để bảo tồn và phát huy giá trị, chúng ta phải khơi dậy ý thức của cộng đồng. Cộng đồng là chủ thể văn hóa, sáng tạo và duy trì, đồng thời là khách thể, thụ hưởng những giá trị văn hóa đó.

Vì vậy, muốn bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa cần phải tuân thủ nguyên tắc cơ bản đó là: 

Bảo tồn và phát huy giá trị di sản dù quy mô cấp làng/thôn xóm, xã/phường, tỉnh/thành phố hay quốc gia, chúng ta phải xác định chủ nhân của di sản văn hóa, đặc biệt là vai trò của những người có uy tín - những người được nhân dân tín nhiệm, vai trò của dòng họ đối với việc huy động nguồn nhân lực tham gia vào nghi lễ, tham gia vào thực hành di sản. Điều này đảm bảo tính bền vững trong cộng đồng đối với đối với di sản. Bên cạnh vai trò của cộng đồng, sự quản lý của Nhà nước cũng đóng vai trò then chốt trong bảo tồn và phát huy giá trị di sản, nhất là giai đoạn đầu. 

Bảo tồn di sản văn hóa cần dựa trên những cứ liệu lịch sử cụ thể, khoa học, khách quan, tránh gây những tranh cãi không cần thiết. Chúng ta cần hiểu rằng, việc bảo tồn, phục hồi lễ hội hay các di sản văn hóa không phải là phục hồi nguyên vẹn hay phục hồi bất cứ những gì chúng ta thấy được từ văn bản cũ mà bảo tồn cần dựa trên những căn cứ, văn bản, tư liệu sưu tầm, văn bản Hán Nôm, văn bản cộng đồng, ký ức của người dân nhưng nó vẫn phải mang hơi thở của ngày hôm nay, thể hiện những dấu ấn của thời đại Hồ Chí Minh kết hợp với truyền thống của cha ông.

Bảo tồn di sản văn hóa phải coi trọng tính đặc thù, tính độc đáo, nhận diện đầy đủ giá trị văn hóa đặc trưng của lễ hội nhất là đối với lễ hội liên quan đến các vị thần chủ của vùng đất, các vị vua, tướng lĩnh, anh hùng dân tộc trong các thời kỳ lịch sử dựng và giữ nước của dân tộc.

Với các nguyên tắc như vậy, khi bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa nói chung và lễ hội nói riêng chúng ta cần làm rõ các vấn đề sau: 

Nhận diện giá trị di sản văn hóa đặc trưng với các giá trị lịch sử, giá trị văn hóa, giá trị khoa học, vai trò của lễ hội trong đời sống cộng đồng;

Đánh giá thực trạng và sự biến đổi của lễ hội trong đời sống đương đại từ lễ tục cho đến các trò chơi dân gian;

Xây dựng mô hình không gian thực hành di sản văn hóa lễ hội;

Phục dựng lễ hội gắn kết giữa di sản văn hoá với cộng đồng để phát triển kinh tế du lịch bền vững tại địa phương;

Khai thác tiềm năng và phát huy vốn di sản văn hoá của lễ hội trong phát triển kinh tế du lịch; 

Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá lễ hội gắn với phát triển du lịch bền vững. Trong đó, tăng cường xã hội hóa là một vấn đề thiết thực và cần được bàn đến nhất là trong thời điểm hiện nay không chỉ đối với tỉnh Hưng Yên mà là vấn đề đối với tất cả các địa phương trong cả nước.

Chúng ta cần phải có những biện pháp cụ thể đối với hoạt động xã hội hóa công tác bảo tồn di sản, đó là: Đánh thức tiềm năng sáng tạo của quần chúng; Đầu tư để quần chúng tham gia vào việc bảo tồn di sản; Khi lựa chọn di sản để tiến hành xã hội hóa, cần thiết phải có hoạch định chiến lược cụ thể, nên lựa chọn lĩnh vực nào là cần thiết ưu tiên trước, tập trung đầu tư nhiều hơn, tránh xã hội hóa một cách tràn lan sẽ kém hiệu quả; Đa dạng hoá xã hội hóa; Các hình thức đầu tư bảo tồn di sản cần phải thông qua các cơ quan quản lý văn hóa mới mang lại hiệu quả tốt, đáp ứng được các nguyên tắc trong quản lý di sản, tránh xã hội hóa tràn lan theo ý kiến chủ quan của nhà đầu tư làm sai lệch di sản, nhất là việc không có sự tham gia của cộng đồng - chủ nhân của di sản văn hóa.

Hay nói một cách khác, khi chúng ta thực hiện xã hội hóa cần phải rất thận trọng, cần phải trả lại sáng tạo của cộng đồng về cho cộng đồng  bằng mọi phương tiện, mọi biện pháp, sẽ khiến cho cộng đồng tự cảm nhận giá trị của di sản và như thế thì di sản văn hóa phi vật thể mới sống trong cộng đồng tạo ra sinh kế, phát triển kinh tế - xã hội.

Đó là cái đích mà chúng ta hướng tới.

Vũ Diệu Trung

Trong quỹ đạo mùa xuân...
Trong quỹ đạo mùa xuân...

"Năm anh em trên một chiếc xe tăng" (Nhạc Doãn Nho, thơ Hữu Thỉnh) là một ca khúc thuộc về giai điệu tự hào, đi cùng...

Tin liên quan

Tin mới nhất

Lịch thi đấu cúp bóng chuyền Hoa Lư 2026 mới nhất

Lịch thi đấu cúp bóng chuyền Hoa Lư 2026 mới nhất

(Tin thể thao, tin bóng chuyền) Cúp bóng chuyền Hoa Lư 2026 quy tụ 12 đội mạnh của bóng chuyền Việt Nam, tranh tài từ 18/3 đến 23/3 tại Ninh Bình. Kết quả bốc thăm chia bảng hứa hẹn nhiều trận đấu hấp dẫn ngay vòng bảng.