Bảo tồn văn hóa dân tộc trong thời toàn cầu hóa

Đây có lẽ là vấn đề khiến các quốc gia đang phát triển như Việt Nam - những nước khá khiêm tốn về tiềm lực kinh tế - phải đau đầu tìm lời giải.

Bảo tồn ông thầy cúng

“Đã bảo tồn thì phải bắt đầu bảo tồn từ ông thầy cúng”. Câu khẳng định này là của TS Trần Hữu Sơn, một trong những nhà nghiên cứu văn hóa văn nghệ dân gian uy tín hiện nay. Nguyên do là ở việc, cách đây không lâu, ông Trần Hữu Sơn có đăng trên trang facebook cá nhân một status nêu thắc mắc về vấn đề thần điện của người Dao - ở Trung Quốc, Việt Nam và một số nước Đông Nam Á khác - như nó thể hiện trên các bộ tranh thờ của họ. Ông cho rằng thần điện này liên quan chặt chẽ với tín ngưỡng Đạo giáo, mà Đạo giáo thì các kết quả nghiên cứu ở nước ta từ trước đến nay khá sơ sài, nên để hiểu, phải có sự liên kết để tham khảo từ giới nghiên cứu Đạo giáo cũng như giới Dao tộc học bên Quảng Tây, Trung Quốc. 

Câu chuyện về tranh thờ người Dao gợi cho tôi một kỷ niệm liên quan: cách đây đã lâu, khi làm một bộ phim tài liệu về tranh thờ của người Dao ở Lào Cai, xuống thực địa ghi hình tôi mới biết rằng ngay trong nhà các ông thầy cúng người Dao, tranh thờ cũng chẳng còn bao nhiêu. Nhiều người dưới xuôi đã lùng mua và mua được từ lâu rồi. TS Trần Hữu Sơn cho biết: tranh thờ vốn là của báu truyền đời trong các gia đình thầy cúng người Dao, khi nào hành lễ họ mới mang ra treo, lúc bình thường thì họ cất rất kỹ. Thế nhưng có một thời gian dài ở ta, việc hành lễ của các thầy cúng người Dao bị coi là mê tín dị đoan, bị cấm tiệt, bản thân các ông thầy cũng phải “chuyển ngạch” sang nghề làm nương, cày ruộng, quét chợ hoặc gác cổng cho các cơ quan, công sở để kiếm cơm. Tranh thờ chẳng biết dùng vào việc gì, lại có người đến hỏi mua, thậm chí mua với giá cao, thì họ bán. Cho nên muốn bảo tồn di sản tranh thờ của người Dao, thì phải bảo tồn ông thầy cúng người Dao.

Bảo tồn văn hóa dân tộc trong thời toàn cầu hóa - 1

Ảnh minh họa

Nhìn rộng ra, không chỉ tranh thờ của người Dao, mà rất nhiều thứ được gọi là di sản văn hóa cổ truyền/ truyền thống trên đất nước chúng ta đều có cái gốc, hoặc có sự liên quan rất chặt chẽ với tôn giáo hoặc với những thực hành mang tính tín ngưỡng, tâm linh. Ở đó chúng ta có thể nhận thấy vai trò rất quan trọng của những người nắm được tri thức, và tự họ cũng chính là người chủ trì việc thực hành các nghi thức tôn giáo hoặc thực hành các tín ngưỡng, tâm linh. Diễn xướng then của người Tày, Nùng, Thái là như vậy. Tín ngưỡng Tam phủ của người Việt là như vậy. Hát xoan, thờ Hùng Vương ở Phú Thọ cũng có cái gốc là như vậy v.v... Các ông Pụt, ông Tào, bà Then, ông Then, bà Mo, ông Mo, các ông các bà thầy cúng ấy chính là những con người như thế. Họ nắm cái gốc, cái lõi của di sản. Từ vốn tri thức và sự thực hành tôn giáo hoặc tín ngưỡng, tâm linh của họ, những di sản văn hóa truyền thống kia mới thực sự vận hành bằng tất cả tính chất sống động của nó. Không có họ, di sản văn hóa chỉ còn là phần vỏ, là những yếu tố biểu hiện bề ngoài mà thôi. Cho nên nói như TS Trần Hữu Sơn rằng muốn bảo tồn thì phải bắt đầu bảo tồn từ ông thầy cúng, là vì thế. Nếu không sẽ sai lạc hết.

Ví dụ ở nhiều nơi thuộc khu vực miền núi phía Bắc hiện nay, người ta phát động phong trào “bảo tồn và phát huy di sản hát then đàn tính”, rầm rộ thành lập các câu lạc bộ hát then đàn tính, mở lớp truyền dạy hát then và chơi đàn tính cho nam nữ thanh niên và trẻ nhỏ, tổ chức nhiều cuộc thi hay liên hoan hát then đàn tính, đưa hát then đàn tính lên sân khấu như những tiết mục biểu diễn văn nghệ dân gian v.v... Nhưng thật ra cái sự đàn hát ấy vốn chỉ là một phần, và thuộc lớp vỏ của di sản then mà thôi. then đích thực phải diễn ra ở không gian đặt bàn thờ then, nơi ông thầy then hành lễ bằng cách vừa đàn, vừa rung xóc nhạc, vừa hát các bài ca then. Mà các bài ca then này, cũng giống như mo Mường vậy, là cả một khối folklore ngữ văn rất lớn, chứa đựng thế giới quan, nhân sinh quan, những huyền thoại và truyền thuyết về sự hình thành thế giới và lịch sử tộc người, những tri thức về giới tự nhiên, những bài học về đạo đức v.v... của người Tày, Thái, Nùng, Mường... Cái gốc ấy thì người ta không bảo tồn, chỉ đi lo việc bảo tồn cái ngọn kia.

Câu chuyện từ lon Coca-Cola

Nhưng mặt khác, những ai thường đi công tác ở các tỉnh miền núi phía Bắc, và thường có mặt trong các lễ cúng của nhiều người tộc người thiểu số ở những nơi này, thì sẽ thấy: không có lễ cúng nào là không có rượu để dâng trời đất, thần linh, ma quỷ hay các bậc tổ tiên. Cái đáng chú ý nhất ở đây, là thứ rượu cúng đặt trên ban thờ ấy không đựng trong be sành, vò đất hay ống tre ống nứa - như cách người dưới xuôi thường hình dung về đời sống sinh hoạt gắn nhiều với tự nhiên của người miền ngược - mà đựng trong các vỏ chai, bằng nhựa hoặc thủy tinh, mang nhãn Coca-Cola (hay Pepsi và nhiều loại khác nhãn mác khác). Vì nó sẵn và tiện, chắc vậy. Nhưng sự sẵn và tiện ấy cũng chứng tỏ một thực tế rằng ở những vùng núi non ấy, thậm chí có những chỗ đúng là thâm sơn cùng cốc, món đồ uống Coca-Cola xuất xứ từ nước Mỹ đã kịp xuất hiện và đi vào cuộc sống của người dân. Xem các phim tài liệu về Tây Tạng hoặc về những cộng đồng ít người ở các đảo Thái Bình Dương hay cao nguyên Nam Mỹ, chúng ta cũng thấy y hệt thế: Coca-Cola xuất hiện ở khắp nơi. Và không chỉ Coca-Cola, mà rất nhiều sản phẩm hàng hóa khác của Mỹ, rộng ra, của thế giới phương Tây hiện đại, dường như cũng đã phủ sóng toàn cầu.

Xem ra, chính những cái “bé bé” ấy mới là minh chứng hùng hồn cho điều mà vài chục năm nay đã trở thành một chủ đề rất lớn, được cả thế giới quan tâm, trong đó tất nhiên có Việt Nam: toàn cầu hóa. Có thể khẳng định thời đại này là thời đại của toàn cầu hóa, được đặc trưng bằng sự tồn tại và phát triển của những công ty đa quốc gia hùng mạnh, những thể chế kinh tế tài chính khổng lồ, những thị trường chung rộng lớn, những sản phẩm hàng hóa mang tính toàn cầu. Và những cái đó, như đang hiển hiện phổ biến, chủ yếu xuất phát từ phương Tây, nhất là từ Hoa Kỳ.

Còn văn hóa thì sao, trong làn sóng toàn cầu hóa? Đây có lẽ là câu hỏi khiến các quốc gia đang phát triển như Việt Nam - những nước khá khiêm tốn về tiềm lực kinh tế khi tham gia toàn cầu hóa - phải đau đầu tìm lời giải. Bởi thực tế nhãn tiền là lối sống và các sản phẩm văn hóa đại chúng của Mỹ và phương Tây đang từng bước, từng nhịp, chiếm lĩnh toàn bộ phần còn lại của thế giới. Phim ảnh của Hollywood thì cả thế giới hân hoan thưởng thức. Hip-hop, rap không còn là thứ nghệ thuật underground nữa, mà nó đàng hoàng trở thành nội dung của các gameshow lớn trên sóng Đài Truyền hình Việt Nam, thu hút một lượng khán giả kỷ lục, các rapper ăn khách khi hứng lên còn có thể mời cả dàn nhạc giao hưởng đến phụ trợ cho mình đọc rap thì cũng là chuyện bình thường v.v...

Không nói đâu xa, ngay các ngày lễ - dịp để người ta có thể nghỉ ngơi, vui chơi và tham gia các hoạt động văn hóa, giải trí - thì các ngày lễ xuất xứ phương Tây cũng đã và đang xâm nhập rất sâu và đậm trong đời sống của người Việt Nam, đủ cả: lễ Tình nhân, ngày của Mẹ, lễ Giáng sinh v.v... Những hiện tượng văn hóa mang tính toàn cầu này chưa chắc đã phải là kết quả kéo theo của làn sóng toàn cầu hóa về kinh tế. Đây là vấn đề phức tạp, nên hãy tạm gác lại để nêu một câu chuyện khác: đổi lại thì văn hóa Việt Nam, với tất cả sự dồi dào phong nhiêu và các giá trị đặc sắc từ truyền thống đến hiện đại của nó - tranh thờ của người Dao chỉ là một trong số đó - đã có cái gì đó trở thành thứ mang tính toàn cầu tương tự hay chưa? Câu trả lời hiển nhiên là “Chưa”, và cũng chưa thấy có một manh mối tín hiệu nào về hiện tượng văn hóa toàn cầu made in Vietnam. Muốn phát triển công nghiệp văn hóa mà không tạo được những giá trị văn hóa mang tính toàn cầu, thì quả thật là điều khó hình dung.

Chưa hết đâu. Đấy là nói về việc “ra với thế giới”. Còn ở trong nước, sự phủ sóng xâm nhập và lấn lướt của các giá trị văn hóa mang tính toàn cầu từ nước ngoài (phương Tây và Mỹ) còn có nguy cơ làm thu hẹp, thậm chí làm mai một, tiêu biến các giá trị văn hóa Việt Nam. Lớp trẻ Việt Nam bây giờ, mấy ai còn xem tuồng, chèo, cải lương, nghe hát xẩm, nghe hát ví dặm, hô bài chòi, nghe ca Huế, nghe kể khan Tây Nguyên, hay thưởng thức một đêm hát xoan thờ Hùng Vương (hoặc tìm hiểu cái đặc sắc từ một bộ tranh thờ của người Dao)? Mà không có khán giả, không có người nối nghề cổ truyền, thì những giá trị văn hóa bao đời ấy quả rất khó sống.

Xin mạnh dạn nói rằng để giải quyết được những vấn đề ấy, thì những người sáng tạo văn hóa, các nghệ sĩ, các nghệ nhân là không đủ. Phải học cách người ta quản lý văn hóa nghệ thuật, học cách người ta bảo tồn, phát huy để khai thác thế mạnh của văn hóa Việt Nam, học cách quảng bá, phát hành các sản phẩm văn hóa. Ít nhất, cũng như cách người Mỹ quảng bá và bán sản phẩm Coca-Cola trên toàn thế giới này.

Hoài Nam

Tin liên quan

Tin mới nhất

Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV

Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV

Sáng 13/4, tại Hà Nội, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị. Thời báo Văn học nghệ thuật trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư,

Hội nghị quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2: Về Quy định thi hành Điều lệ Đảng

Hội nghị quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2: Về Quy định thi hành Điều lệ Đảng

Sáng 13/4, tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương trình bày Chuyên đề “Quy định thi hành Điều lệ Đảng”.

Hành động đột phá, biến quyết sách thành kết quả

Hành động đột phá, biến quyết sách thành kết quả

(Chinhphu.vn) - Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đặt ra yêu cầu nghị quyết không chỉ đúng, mà phải được thực hiện bằng hành động quyết liệt, hiệu quả thực chất, kiên quyết chống hình thức, không để xảy ra “độ trễ” nghị quyết. Trả lời phỏng vấn Báo Quân đội nhân dân, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương nhấn mạnh tinh thần ph