Kỷ niệm Võ An Ninh
Nghệ sĩ nhiếp ảnh Võ An Ninh đã sống trọn một thế kỷ lẻ ba năm với đất nước này và đã cầm máy ảnh, nếu tính từ khi khởi đầu cho đến lúc không còn chụp ảnh nữa, cũng trọn 80 năm. 80 năm đó ông đã đi khắp cùng đất nước, từ Lũng Cú, Mèo Vạc, Sa Vĩ ở đỉnh đầu phía Bắc đến Hà Tiên, chót mũi Bãi Bùng, Cà Mau của cực Nam Tổ quốc. Thủy chung với chiếc máy ảnh Zeiss Ikon thế hệ máy cơ đầu tiên rất đơn sơ, ông đã ghi lại, sáng tác hàng vạn tác phẩm bằng máy này. Ông là một nghệ sĩ tài ba, có nhiều công lao với đất nước. Ông đã để lại cho đời, cho đất nước một kho tàng quý báu những tác phẩm ảnh.
Tôi đã cùng ông trên mọi nẻo đường, tính ra cũng hơn 40 năm, gần một nửa thế kỷ. Võ An Ninh lớn tuổi hơn ba tôi, chúng tôi vẫn gọi ông bằng bác nhưng ông luôn coi tôi là một người bạn của ông. Ông nói: “Bạn bè không kể tuổi tác, nghệ thuật càng phải thế.
Tôi gặp ông lần đầu năm 1964, lúc đó tôi mới được phân công phụ trách Phòng Văn hóa thông tin thị xã Móng Cái. Ông ra Móng Cái để sáng tác. Tôi tiếp ông và vui vẻ đi với ông. Tôi đã có một đêm nghỉ cùng ông trên bờ biển Trà Cổ và đón bình minh lên. Trà Cổ là nơi đã cho ông tác phẩm Bình minh trên bãi biển Trà Cổ được giải thưởng ở Liên Xô. Ông nói với tôi: “Muốn có những đường vân cát trên biển, mình phải chộp đúng lúc nước biển rút xuống, mỗi tháng chỉ có vài ngày triều xuống để cho ta những nét đẹp tạo hóa như thế này, và lúc đẹp nhất của biển vẫn là bình minh”.
Võ An Ninh trong đợt “Điện Biên Phủ trên không” ở Hà Nội tháng 12/1972.
Tôi với ông cùng đi Sa Vĩ và buổi chiều từ Sa Vĩ, doi cát cuối cùng nối sang Trung Quốc, chúng tôi quay về mũi Ngọc. Tôi nói với ông về việc người ta cứ lấy mũi Ngọc làm mốc cuối cùng của biển Việt Nam. Ông nói: Vậy là họ bỏ Trà Cổ ra ngoài, cái mảnh đất tuyệt vời cho tôi một tác phẩm bình minh lên phải không? Trong lần đến Trà Cổ, Sa Vĩ đó, Võ An Ninh hỏi tôi: Bao giờ chúng ta đến Cà Mau? Ngày ấy đất nước còn chia làm 2 miền, cái ý tưởng ấy cao đẹp lắm, chúng tôi chỉ biết cười trong ước nguyện. Vậy mà thần kỳ thay, tôi đã 2 lần đưa bác Võ An Ninh đến Cà Mau và đến tận mũi cùng tổ quốc, mũi Bãi Bùng.
Lần đầu là cuối năm 1975, khi miền Nam vừa giải phóng. Tôi và ông đi trên chiếc FIAT đen bóng lộn. Khi đến Cà Mau, có một đoàn nhạc sĩ đến bảy, tám người đi trên chiếc Commangca Rumani đi từ Hà Nội vào, trong đó có Phạm Tuyên, Hồ Bắc rất thân quen. Ông cười nói: Mình oai ra phết, cứ như nghệ sĩ xứ Tây vậy. Võ An Ninh vốn giản dị, bình dân nhưng ông vẫn có nét của xứ Tây nên thích những cái “oai” đời thường. Lần đó chúng tôi chỉ vào đến rừng đước Năm Căn với sự “hộ tống” kiêm “người mẫu” của mấy nữ du kích nay làm ở ngoại vụ tỉnh. Võ An Ninh vì chỉ còn một chân trụ, còn chân kia bị tai nạn mất bàn chân nên chỉ ngồi trên thuyền vỏ lãi để chụp các nữ du kích áo bà ba đen, khăn rằn quấn cổ, tay cầm AK tuần tra canh gác trên rễ đước. Ông thích thú với những hàng đước giao nhau như thành lũy và con thuyền của 2 nữ du kích lướt nhẹ trên dòng kênh thẳng tắp và xa xa một chấm sáng. Võ An Ninh vừa bấm máy vừa reo lên: “Ôi, không gian 3 chiều”.
Tôi cứ nghĩ rằng như vậy là Võ An Ninh đã thỏa chí với lời hẹn từ Trà Cổ địa đầu phía Bắc hơn 10 năm xưa. Vài năm sau, ông bàn với tôi phải đi một chuyến ra đến mũi chót cùng của Cà Mau mà ông vẫn gọi là “mũi Cà Mau”. Lần ấy tôi được Hội Nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam phân công làm Trưởng ban tổ chức lớp nhiếp ảnh nghệ thuật cho các tỉnh miền Nam. Học viên của trên 28 tỉnh về dự và Cà Mau có Võ An Khánh, Kiên Hùng,... Giảng viên chúng tôi mời các bậc trưởng lão như Hà Huy Giáp, Vũ Khiêu, Bảo Định Giang, Võ An Ninh, Đinh Đăng Định... Dự buổi khai mạc có cả đồng chí Vũ Đình Liệu (sau này là Phó Thủ tướng) và một người bạn lớn của tôi và bác Võ là nhà văn Nguyễn Tạo, đảng viên năm ba mươi, nguyên là Tổng Cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp mới nghỉ hưu.
Trong lớp học, nhà thơ Bảo Định Giang nói: “Ngón tay bấm máy của nghệ sĩ nhiếp ảnh cũng giống như ngón tay của nghệ sĩ đàn bầu vậy, chỉ một lần lảy để lại trong lòng người âm hưởng sâu xa và da diết”. Tôi góp trong bài giảng rằng: “Nhiếp ảnh mà không tạo nên đường sáng và người cầm máy không rung cảm thì chỉ là thợ ảnh. Nghệ sĩ nhiếp ảnh phải có trái tim rung động trước vạn vật. Nghệ sĩ nhiếp ảnh là họa sĩ vẽ bằng ánh sáng và người nghệ sĩ phải biết chớp thời cơ, thời khắc để tạo nên tác phẩm và thời khắc đó chỉ là một phần trăm giây”...
Võ An Ninh đồng ý cả 2 ý kiến của chúng tôi, nhưng ông nói thêm rằng: “Nhiếp ảnh là môn nghệ thuật kết hợp bởi tâm hồn, khối óc và đôi mắt: ngón tay bấm máy chỉ là thực hiện mệnh lệnh của tâm hồn. Nếu gọi nghệ sĩ nhiếp ảnh là họa sĩ thì đây là giới siêu họa sĩ vì thực hiện bức họa chỉ một tích tắc. Nếu gọi là nghệ sĩ nhiếp ảnh như nghệ sĩ đàn bầu thì lảy tay của ta (nghệ sĩ nhiếp ảnh) tinh vi hơn lảy tay của nghệ sĩ đàn bầu nên cũng là siêu nghệ sĩ”. Ông tóm lại: “Nhiếp ảnh là tài năng, là đam mê, là tâm hồn và cuối cùng là phán quyết để trong tích tắc bấm máy đúng lúc”.
Chụp ảnh với đoàn nhạc sĩ Việt Nam khi thăm Cà Mau. Trong ảnh: cạnh Võ An Ninh là hai nhạc sĩ Phạm Tuyên (bên trái), Hồ Bắc (bên phải), tiếp đó là tác giả.
Võ An Ninh thường nói với tôi ông là nghệ sĩ từ “cơ sở đi lên” (ý nói là căn bản), lấy thực tế rút ra bài học chứ không phải lấy lý luận đưa vào thực tiễn. Ông bắt đầu cầm máy từ năm 15 tuổi, lúc đầu là chụp chơi, thích chụp. May mắn của ông là được gặp và giao lưu với ông Khánh Ký, người đầu tiên đưa nhiếp ảnh du nhập vào Hà Nội và mở tiệm nhiếp ảnh đầu tiên của Việt Nam ở ngay bên Hồ Gươm. Sau đó ông chụp ảnh gửi cho các báo đương thời. Nghề đầu tiên của ông là chụp ảnh cho đồ bản lâm nghiệp. Ông đi chụp về rừng và yêu rừng từ tuổi mới vào nghề. Nắng trong rừng, nắng nghiêng trên thân tre trúc, trên thân thông tùng rất quen thuộc với ông. Sau lớp học về nghệ thuật nhiếp ảnh ở Cần Thơ, chúng tôi đi mũi Cà Mau. Kỳ đi này có “thổ công” Cà Mau là Võ An Khánh, lúc đó là Phó Trưởng ty Văn hóa thông tin Cà Mau sau này là nghệ sĩ nhiếp ảnh, tất nhiên là học viên của lớp học chúng tôi. An Khánh được bác Võ nhận làm “môn đệ cật ruột” vì có họ Võ An. Võ An Khánh từ bé sống trên sông nước Cà Mau, anh thuộc những đường kinh, cửa lạch như ta thuộc đường thành phố, anh lái vỏ lãi chạy như bay, nhưng lên bộ lại xách dép, anh chỉ mang dép khi tiếp khách, bởi vì như anh nói: “Quanh năm ngồi thuyền, lên bờ phải leo cầu khỉ làm sao mang dép”...
Tôi đã đi như thế với Võ An Ninh ở mọi miền đất nước, biết bao kỷ niệm. Vào thập niên 1980, cụ Võ đã ngoài 70 nhưng lòng nhiệt huyết vẫn như thanh niên, ngồi xe cả ngày nhưng không kêu mỏi. Xe dừng là sáng tác, ông bấm máy say sưa. Sapa ông đã đi đến lần thứ 15 mới vừa lòng với tác phẩm Sapa trong sương sớm mờ ảo.
Một lần tôi đi Côn Sơn với ông, từ thị xã Hải Dương ông đề nghị đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh cho đi Côn Sơn từ 4 giờ sáng để đến nơi trời vừa hừng đông. Nhưng hôm đó đến Côn Sơn trời mưa, ông bảo tôi: “Ta cứ đội mưa phục sẵn. Sau mưa mây sẽ giựt lên, bầu trời sẽ lạ lắm”. Tôi và ông, hai người đội mưa chờ đến trên 60 phút thì trời tạnh và núi Côn Sơn hiện rõ trong lớp mây mù đúng như ông dự đoán, mây đen tan dần, rút lên để lại chân trời sáng trong. Với tiền cảnh những cây thông cổ thụ, chúng tôi có bức ảnh núi Côn Sơn. Thấy bác Võ vui hồ hởi, đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh cùng đi mời vô chùa ăn xôi sáng. Bác Võ đưa tay: “Chưa được, ta phải lên núi ngay, trời mới mưa sẽ có thác reo, lên Thạch Bàn nơi Nguyễn Trãi ngày xưa vẫn ngồi, ta ăn sáng”. Vậy là cả đoàn đi và đúng là có suối chảy. Bác Võ mang giày không lội suối được, đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh ghé lưng cõng Võ An Ninh. Và tôi đã chụp được bức ảnh Phó Chủ tịch cõng Võ An Ninh qua suối cũng như ảnh Võ An Ninh quắc thước chống gậy đứng giữa đất trời Côn Sơn. Chúng tôi ngồi ăn xôi sáng ở Thạch Bàn, nơi xưa Nguyễn Trãi gọi là chỗ tiên đánh cờ và Nguyễn Trãi vẫn thường ngồi ngâm vịnh thơ, ngắm cảnh. Nghe suối chảy róc rách.
Một lần khác khi về Phú Yên, gặp lụt, xe ôtô không thể qua một khe nhỏ được. Tôi vận động các bạn thanh niên đẩy dùm. Mười mấy thanh niên lực lưỡng thấy bác Võ râu tóc bạc phơ ngồi trong xe đang loay hoay cởi giày. Họ bảo cụ cứ ngồi đấy và hè nhau khiêng gọn chiếc Toyota qua khe nước. Khi chúng tôi chuẩn bị lên xe thì ông bước xuống và chắp tay cảm ơn số thanh niên, rồi quay về phía chúng tôi ông nói vui: “Hôm nay tôi làm vua đấy nhé. Có ai đời ngồi trên xe ôtô như ngồi kiệu cho người ta khiêng bao giờ”. Cũng dạo ấy, sau bữa cơm chiều chúng tôi ra bãi biển Mỹ Quang quê tôi ngồi chơi. Ông thoải mái ngả mình trên cát, mấy đứa trẻ con thấy ông già râu tóc bạc phơ kéo đến xem. Ông rủ chúng ngồi quanh mình để trò chuyện. Bỗng một chú bé dưới thuyền chạy lên, cậu này chuyên lặn tôm hùm. Chú liền lách kiếm chỗ ngồi thì đá phải chân bác Võ. Chân bác không có bàn chân nên chiếc giày quay 90°. Bác Võ rất nhanh làm bộ đau, cậu bé và cả đám con nít sợ xanh mặt. Bác làm bộ chịu đau nói: “Này không bẻ lại được chân tớ thì phải đền đấy. Đền gì nào? Một con tôm hùm nhé”. Thằng bé đang sợ, nghe nói một con tôm hùm liền nói: “Dạ, hai con cũng được ạ”. Cụ Võ làm bộ nghiến răng bẻ cho chiếc giày quay về chỗ cũ. Hôm sau thằng bé xách đến mấy con tôm hùm, cụ Võ bảo: “Bây giờ tớ mà ăn thì hết mất, nên cậu xách nó cho tớ chụp ảnh là còn”, và cụ đã chụp tấm ảnh bắt tôm hùm rồi cám ơn thằng bé. Thằng bé xách tôm về thưa với mẹ, mẹ nó không hiểu, lại phân bua với cụ Võ xin đưa thêm, lúc đó ông mới cười giải thích sự thật.
Tôi cũng không bao giờ quên chuyện “ông tiên” cứu người ở Côn Đảo. Lần đó chúng tôi đi sáng tác ảnh về Côn Đảo do đồng chí Lâm Văn Thê, Bí thư Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo mời. Hôm đó tàu của đảo có cả lực lượng võ trang đi cùng ra đảo Hòn Trứng rồi từ đó đi ra Hòn Khoai. Đang đi bỗng đồng chí công an phát hiện ở phía gành đá phía Bắc có bóng người nhấp nhô. Anh nói to “Có vượt biên”, và phát lệnh cho tàu cập vào. Con tàu chúng tôi chạy về phía đoàn người vượt biên. Võ An Ninh liền ra đứng phía khoang mũi, máy ảnh lên cò để sẵn sàng chụp. Khi chúng tôi đến gần còn độ trăm mét thì lạ thay, nhiều người lớn đang đứng bỗng quì rạp xuống lạy, họ lạy trời Phật chứ sao lại lạy chúng tôi? Không, họ lạy Võ An Ninh. Bởi vì họ đi vượt biên, và bị cướp biển. Cả tuần lễ thuyền họ lênh đênh, đói lả, khát nước, người chỉ còn da với xương, có người nói hết được và cuối cùng tàu tấp vào đảo. Cả đêm họ cầu khấn trời phật và đêm đó có người nằm mơ thấy có một ông tiên râu tóc bạc trắng đến cứu họ. Chính vì vậy nên khi thấy Võ An Ninh râu tóc trắng cước đứng ở mũi tàu thì họ nghĩ là tiên hạ giới cứu độ và họ lạy. Chúng tôi đã nhường cả phần cơm nước bữa trưa cho họ và đưa họ về đảo. Cụ Võ thở dài nói với tôi: “Tội nghiệp, họ là nạn nhân, anh đi bàn với công an trên đảo xin tha cho họ”. Ngày đó người vượt biên bị bắt phải lao động cải tạo. Tôi đã gặp đồng chí Bí thư đảo nói ý của bác Võ An Ninh và của đoàn chúng tôi. Đảo đã thu xếp cho phụ nữ, trẻ em nằm viện chữa trị, tất cả nghỉ ngơi dưỡng sức, khai báo với công an. Sau đó Đảo cấp tàu chở cả đoàn về đất liền. Người ngủ mơ thấy tiên ông đến cứu là một người Việt gốc Hoa. Về đất liền, anh đã xin bác cho anh làm con nuôi sau đó họ sống như người trong nhà, khi bác Võ An Ninh qui tiên, nơi yên nghỉ cuối cùng của bác nằm ở phần đất của gia đình anh này.
Tôi đã đi như vậy với ông, đã từng ăn cơm nắm ở Bàu Thiêu giữa rừng Ô Rô của chiến khu Lê Hồng Phong (Bình Thuận), ở thác Xung Quen, ở rừng Gia Lai, ăn cơm cùng anh hùng Núp ở xã Nam, An Khê. Chúng tôi đến Mũi Né khi còn hoang vu vắng lặng chỉ có đồi cát và rừng dừa. Chúng tôi từng cùng Văn Cao, Quang Dũng và nhiều văn nghệ sĩ khác uống rượu bên bếp lửa hồng giữa rừng Cúc Phương của đêm đông giá rét và hơn nữa, giữa những ngày B52 Mỹ trút bom xuống Hà Nội, Võ An Ninh mũ sắt trên đầu máy ảnh trước ngực đạp xe rong ruổi cùng tôi... Chúng tôi đã đi với nhau ở Sapa, Yên Tử, xuyên Tây Nguyên, cưỡi voi ở Hồ Lắc (ĐăkLăk), đến cả cột mốc số không ở biên giới Campuchia và biên giới Trung Quốc...
Ngay sau ngày giải phóng miền Nam, ông có mặt ở Sài Gòn và vẫn chiếc xe đạp mini. Khi ấy tôi được tăng cường công tác ở Ban Biên tập Báo Phụ nữ Sài Gòn. Có khi cả tuần, sáng sớm ông đạp xe từ Phú Nhuận xuống chỗ tôi, chúng tôi thường ăn phở Bình ở đầu đường Lý Chính Thắng bây giờ. Phở Bình có ông chủ là cơ sở của Bộ Tư lệnh Biệt động đội nội thành, quê ở Thái Bình, người nhà cụ Võ quen biết nên ông rất vui. Cụ Võ đưa tôi đến những nơi đã diễn ra những cuộc biểu tình 1950 chống Mỹ mà ông đã ghi lại được. Tôi không thể không nhắc lại về lai lịch căn nhà 174 Ngô Gia Tự nơi ông ở cuối đời với vợ con. Ngày đó tôi công tác ở bộ phận phía Nam của Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam. Chúng tôi đề nghị Thành phố phân cho ông một căn nhà và được giới thiệu căn nhà 174 Ngô Gia Tự, Quận 10. Thủ tục phân nhà đã xong thì có con của một đồng chí cao cấp muốn xin căn nhà đó và có sự tranh chấp. Giám đốc Sở nhà đất mời họp, Sở đề nghị nhường căn nhà ấy cho con đồng chí cán bộ cao cấp có nhiều công lao. Chúng tôi phải phát biểu rằng: một nghệ sĩ tài ba như Võ An Ninh công lao không kém những đồng chí lão thành, nếu nhường cho một đồng chí lão thành cách mạng ở thì có lý, nhưng nếu nhường lại cho con đồng chí ấy thì nghe không ổn. Cụ Võ nói rất gọn: “Tôi đã dọn vô ở rồi, còn anh kia còn ở đâu đâu, giờ bảo tôi đi ra à?”. Có lẽ mái đầu bạc trắng của lão nghệ sĩ và sự thật thà của bác Võ đã gây cảm động nên đồng chí Giám đốc liền đứng lên: “Thôi, tôi hiểu rồi, lão nghệ sĩ cứ ở đấy. Chúng tôi ưu tiên cho nghệ sĩ và sẽ lo nhà khác” và đồng chí Giám đốc bắt tay cụ Võ thắm thiết. Ra về ông nói với tôi vẫn theo kiểu rất Võ An Ninh: “Nghệ sĩ cũng oai ra phết!” và bác ở ngôi nhà đó cho đến khi quy tiên.
Biết bao kỷ niệm, khó mà tả hết, ghi lại đủ đầy được. Giờ hồi tưởng lại càng phục ông, một con người cả một đời vì nghệ thuật nhiếp ảnh với lòng yêu quê hương đất nước tha thiết. Ông say sưa như một bác học, say sưa sáng tác và say sưa phóng ảnh ở buồng tối. Với ông, phóng ảnh cũng là lúc sáng tác nghệ thuật bởi sự che sáng tối, mờ nhạt khi phóng ảnh cũng là ở bàn tay nghệ thuật. Tôi nhớ mãi một lần vào dịp Noel, tôi mời ông đi ăn bít tết, món ông rất thích. Lúc đầu ông chọn tiệm Budaga Tràng Tiền nhưng sau lại đổi ý về Phú Gia. Nhà hàng Phú Gia ngày đó ở ngã ba Hàng Trống - Lê Thái Tổ, sát Bờ Hồ. Tôi và anh Trần Phượng, Trưởng ban miền Nam (Báo Ảnh) đến lấy bàn chờ ông. Đúng giờ, ông lững thững bước vào trước sự ngạc nhiên của mọi người. Ai cũng nhìn ông sửng sốt. Võ An Ninh cứ nghĩ mọi người chiêm ngưỡng nghệ sĩ. Nhưng chúng tôi thì không chịu nổi phải cười phá lên. Lúc đó ông mới nhìn lại mình, thì ra cái tạp dề rách khoác vào để phóng ảnh chống thuốc ảnh không dây vào người, say sưa quá, dừng tay phóng ảnh để đi ra nhà hàng quên cởi bỏ ra, nên trông chẳng giống ai. Ông vội cởi ra, cuộn lại và kêu lên: “Chết tôi rồi, mải mê quá nên quên mất”.
Câu chuyện quên “chết người” này thực ra là nét đặc trưng của sự say sưa hết mình vì nghệ thuật của lão nghệ sĩ. Có thể nói, với ông, chiếc máy ảnh Zeiss Ikon và chiếc xe đạp mini là hai vật bất ly thân, nói cách khác là vô cùng thân thiết với ông. Chiếc xe đạp thì sau này còn đổi thành xe đạp mini gấp, bỏ vô cốp ôtô được rất hiện đại. Riêng chiếc Zeiss Ikon, sau giải phóng miền Nam ông có tìm được chiếc máy mới nhưng vẫn cùng đời với máy cũ. Ông tặng tôi chiếc máy cũ làm kỷ niệm.
Nhân chuyện tôi được giải thưởng của Hội Nhà báo Việt Nam về bức ảnh Đội nữ cứu thương chụp các nữ cứu thương lao qua khói bom để cứu người, tôi chụp bằng chiếc máy “fetđơ” đơn giản của Liên Xô. Ông nói: “Máy móc chỉ là yếu tố phụ, chỉ cần ống kính sắc, máy cơ hoạt động tốt là được. Cái chủ yếu là người chụp, là bố cục, là thời cơ bấm máy, là cái tình của mình với tác phẩm”. Chiếc máy Zeiss Ikon của ông là minh chứng cho sự khẳng định đó.
Võ An Ninh bên cạnh kho quí những tác phẩm ảnh phong cảnh mượt mà, thuỷ mạc hữu tình, ông còn có những bộ ảnh lịch sử có một không hai. Đó là bộ ảnh ghi lại cảnh đói rét làm hai triệu người chết năm 1945, là bộ ảnh Sài Gòn ngày 19 tháng 3 năm 1950 rầm rập xuống đường đuổi tàu chiến giặc ngoại xâm. Đó là những ảnh Bác Hồ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong ngày 2 tháng 9 năm 1945, ngày Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập... Rõ ràng ngoài thiên chức của một nghệ sĩ phong cảnh tài ba, Võ An Ninh còn làm thiên chức của 1 nhà báo. Ông đã ghi lại, tạo nên những chứng tích lịch sử mãi mãi cho đời sau...
Cho đến lúc này, khi ngồi viết những kỷ niệm về ông tôi thấy như Võ An Ninh vẫn rong ruổi trên mọi nẻo đường đất nước với chiếc xe đạp mini và chiếc máy cơ đơn giản Zeiss Ikon. Ông vẫn thả tâm hồn yêu thiên nhiên, sông núi, cỏ cây hoa lá với đất trời Việt Nam yêu dấu.

Nhà báo, Nghệ sĩ nhiếp ảnh Chu Chí Thành (Giải thưởng Nhà nước, Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật) khi...
Bình luận