Khát vọng người xưa và trách nhiệm hậu thế

“Người xưa” mà nhà văn – không thẻ Trần Bảo Định bàn về khát vọng của họ là những tên tuổi nay đã ở “cõi khác” hơn bảy thập kỷ! Có thể gọi họ là nhà cách mạng, là danh nhân; bà góa phụ Trần Văn Sĩ (người bạn cùng chí hướng với Tạ Thu Thâu, đã bị tù Côn Đảo với Nguyễn An Ninh và mất ở đó) còn tôn vinh họ là “vĩ nhân” là “ngôi sao sáng” của dân tộc…

Cũng có thể gọi họ là những người tìm đường, những người đi tiên phong trước Cách mạng mùa Thu. Lịch sử nhân loại cũng như dân tộc ta, mỗi khi bước qua một giai đoạn mới đều có một lớp người tinh hoa, dám quên mình xả thân tìm con đường tốt đẹp nhất cho đất nước, cho dân tộc. Trong lớp tinh hoa ấy, không phải ai cũng đi đến đích như Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh; nhưng những tên tuổi như Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu… trên đường dài đầy những trăn trở và bất trắc tìm lối đi cứu nước đã để lại những bài học quý giá cho đến tận hôm nay.

Cuốn "Dấu thời gian – Khát vọng người xưa" cũng là những câu chuyện tìm đường, mở đường cứu nước của bảy nhân vật tầm cỡ đầu thế kỷ XX. Trần Bảo Định, sau hơn chục tập truyện đậm đà phong vị tính cách con người và sinh thái vùng đất mở phía Nam, lần này cho xuất bản một cuốn sách khá độc đáo - là tác phẩm “2 trong 1” chưa có tiền lệ: mỗi nhân vật đều có bài khảo cứu và tiếp theo là một truyện ngắn, được tác giả xây dựng từ một sự kiện, một kỷ niệm, một con người có quan hệ đến nhân vật vừa được giới thiệu kỹ lưỡng; riêng hai truyện Thất Sơn – Truyền thuyết Ông Ba Mươi và truyện Con trùn đất đồng bằng sông Cửu Long thì ngẫm kỹ mới nhận ra đằng sau câu chuyện ẩn giấu thái độ, tính chất thực của hai nhân vật Nguyễn Hào Vĩnh và Hồ Hữu Tường...

Điều đặc biệt nữa là bảy nhân vật hầu hết là những tên tuổi lừng danh một thời trong lịch sử, nhưng đến nay rất ít được nhắc đến. Nói là “hầu hết” vì trong bảy nhân vật, có hai người chưa bị hậu thế lãng quên, đó là danh nhân Lương Văn Can (1854-1927), người sáng lập Đông Kinh Nghĩa Thục, từng được giới thiệu trên nhiều sách báo. Tuy vậy, những trang khảo cứu của Trần Bảo Định đã nhấn mạnh đến khía cạnh khá thú vị là tư tưởng kinh doanh Lương Văn Can cũng như Trần Chánh Chiếu, đặc biệt ở khía cạnh giáo dục và ý nghĩa văn hoá - xã hội, cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Người thứ hai là nhà cách mạng Nguyễn An Ninh (1900-1943), mấy năm gần đây, Tạp chí Hồn Việt đã đăng một số bài khẳng định ông là “nhà cách mạng chân chính”. Nói vậy, cũng là cách bác bỏ dư luận sai trái một thời gian dài về ông. Bài viết của bà Nguyễn Thị Minh, con gái Nguyễn An Ninh, trên Hồn Việt số tháng 8/2013, đã dẫn ra rất nhiều sự kiện và tài liệu tin cậy về những điều đó. Bài khảo cứu Thanh niên cao vọng Nguyễn An Ninh của Trần Bảo Định dài đến 40 trang, một lần nữa, nêu cao phẩm giá cũng như vài trò to lớn của Nguyễn An Ninh đối với phong trào cách mạng Việt Nam trước 1945, nhất là ở miền Nam.

Một người từng hoạt động với các tên tuổi lớn như Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Tất Thành (tức Nguyễn Ái Quốc) tại Pháp khi đất nước còn chìm trong nô lệ, khi về Sài Gòn, các hoạt động của ông “mang tầm vóc lớn lao” khiến “thực dân Pháp run sợ” và cuối đời đã hy sinh tại Côn Đảo mà còn những nhận định sai lạc, đến mức nhà cách mạng lão thành Hà Huy Giáp, phải đợi sau khi nghỉ hưu, mới “chủ trì cuộc hội thảo khoa học đầu tiên về Nguyễn An Ninh tại Bảo tàng TP Hồ Chí Minh (ngày 15/9/1987).

Tại đây, một vị phó ban nghiên cứu lịch sử Đảng của TP Hồ Chí Minh còn nói: “Nguyễn An Ninh là nhà yêu nước được đồng bào Nam Bộ tôn vinh, nhưng ông có quan điểm quốc gia cải lương vì thế không nên bôi đỏ ông”. Còn anh Dương Đình Thảo lúc đó là Ủy viên Thường vụ Thành ủy, Trưởng ban Tuyên huấn Thành ủy TP Hồ Chí Minh  phát biểu: “Không ai bôi đỏ Nguyễn An Ninh, nhưng không cho phép ai bôi đen Nguyễn An Ninh” (Theo bài của Nguyễn Thị Minh đã dẫn).

Cần nhắc lại những điều trên để thấy trên con đường giải phóng, vì độc lập và tự do của Tổ quốc Việt Nam, còn nhiều nhân vật thuộc loại tinh hoa đã trăn trở, tìm tòi, chịu mọi hy sinh và thậm chí oan trái mà hậu thế có trách nhiệm làm sáng tỏ và “cần ngẫm nghĩ  để kế thừa di sản khát vọng của người xưa” như Lời nhà xuất bản đã viết. 

Khát vọng người xưa và trách nhiệm hậu thế - 1

Cuốn "Dấu thời gian – Khát vọng người xưa" của Trần Bảo Định

Năm nhân vật khác trong cuốn sách mới của Trần Bảo Định không có may mắn như Lương Văn Can và Nguyễn An Ninh. Đó là Trần Chánh Chiếu (1868-1919), Nguyễn Hào Vĩnh (1893-1941), Hồ Hữu Tường (1910-1980), Phan Văn Hùm (1902-1946), Tạ Thu Thâu (1906-1945) - những nhân vật nổi danh, gây sóng gió một thời, bị thực dân Pháp bỏ tù nhưng đến nay sách báo ít nhắc đến. Có lẽ khó kể hết “lý do” về điều đó. Thì lịch sử đất nước ta còn có biết bao anh hùng, liệt sĩ chỉ có tấm bia mộ ghi tên ở các nghĩa trang. Đó là chưa nói đến hàng vạn liệt sĩ “vô danh” nằm lặng lẽ trên Trường Sơn heo hút, trên những đỉnh cao biên giới phía Bắc, nơi núi đá đã biến thành lò vôi!

Trong năm tên tuổi kể trên, hai nhân vật Phan Văn Hùm và Tạ Thu Thâu có nhiều điểm tương đồng. Cả hai chào đời trong mấy năm đầu thế kỷ XX và không may cùng gặp “tai nạn” vào thời điểm ngay trước và sau Cách mạng tháng Tám, ở độ tuổi đang sung sức.

Chỉ cần điểm qua các cột mốc trong cuộc đời hơn 40 năm của chí sĩ yêu nước Phan Văn Hùm đã thấy ông là nhân vật tầm cỡ không chỉ của trí thức Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX. Ông quê làng An Thạnh, quận Lái Thiêu, tỉnh Thủ Dầu Một (nay thuộc tỉnh Bình Dương). Sau khi tốt nghiệp trung học tại Sài Gòn, ông ra Hà Nội học Trường Cao đẳng Công chánh từ 1923-1925.

Từ 1926-1929, ông bắt đầu dấn thân đấu tranh mà đỉnh điểm là vụ Cai Nên ở Bến Lức (trong khi cùng Nguyễn An Ninh tuyên truyền chủ nghĩa yêu nước ngụy trang dưới hình thức phổ biến sách giáo lý tôn giáo, chiều ngày 28/9/1928, khi hai ông đến ga Bến Lức thì bị tên Cai Nên - nhận lệnh mật thám Nam Kỳ - tạo cớ gây khó dễ và dùng vũ lực; hai ông chống đỡ và đánh trả lại. Liền sau đó, cả hai bị bắt giam tại Khám Lớn, Sài Gòn; chúng buộc tội hành hung người thi hành công vụ).

Trong tù, ông viết Ngồi tù Khám Lớn. Ra tù, ông sang Pháp hoạt động và sau 3 năm học (1929-1933), tốt nghiệp Thạc sĩ Triết tại Đại học Sorbonne. Do hoạt động chính trị, ông bị chính quyền Pháp truy lùng, trốn sang Bỉ và năm 1933 trở về Sài Gòn, vừa dạy học vừa cùng bạn bè ra tờ báo La Lutte (Tranh đấu), đồng thời làm chủ bút báo Đồng Nai và cộng tác với báo chí cả nước.

Từ 1936-1939, ông tham gia nghị trường để có tiếng nói mạnh mẽ hơn đấu tranh với bọn thực dân và bênh vực dân chúng; cùng với Tạ Thu Thâu, Nguyễn Văn Tạo, ông trúng cử Hội đồng Thành phố Sài Gòn. Từ 1939-1942, ông bị tù Côn Đảo. Ra tù, bị quản thúc tại Tân Uyên, ông biên soạn, hiệu chú nhiều công trình có giá trị như Nỗi lòng Đồ Chiểu, Biện chứng pháp phổ thông, Triết học Phật giáo, Vương Dương Minh…Vậy mà năm 1946, ông đã bị sát hại, cho đến nay, hơn 7 thập kỷ đã qua, vẫn chưa có cơ quan “chính thống” nào công bố lý do…

Tạ Thu Thâu xuất thân trong một gia đình lao động, đông anh em, quê ở xã Tân Bình, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp. May mắn có người cha làm nghề thợ mộc đi đây đó, sớm nhận ra “Tư Thâu phải là người có học – Tây học – để ngày sau, có thể giúp đời cứu người thoát khỏi cảnh lầm than..” nên anh được lên tỉnh học trung học. Trần Bảo Định dẫn một chi tiết trong cuốn Nhà cách mạng Tạ Thu Thâu của bà Phương Lan Bùi Thế Mỹ (Nhà “Khai Tri” in năm 1974): Lên tỉnh học, “cành người kéo xe tác động sâu sắc đến nhận thức Tư Thâu. Vì sao người cỡi người…” bỗng nhớ đến bức tranh Người kéo xe của Nguyễn Ái Quốc đăng trên báo Le Paria (khoảng từ 1922-1926)…

Tư Thâu là lớp hậu sinh, nhưng từ lúc học trung học đồng thời dạy học kiếm sống ở trong nước, đã chứng tỏ một bản lĩnh và trí tuệ khác thường. Anh đã “tập trung nghiên cứu về mặt lý luận tư tưởng. Trong số đó có cả tư tưởng cách mạng của Tôn Dật Tiên ở Trung Quốc, chủ nghĩa cộng sản qua cách nhìn của Boukharin và Zinoviev, phong trào của Gandhi ở Ấn Độ…”; anh còn tham dự các buổi diễn thuyết về chính trị, xã hội tại “Club đu Faubourg” để “thúc đẩy tư tưởng càng thêm chín muồi, cập nhật các tư tưởng trào lưu mới ở phương Tây, và nhất là phát triển khả năng biện chứng của mình…”.

Một con người với cao vọng giải phóng dân tộc như thế, khi sang Pháp, vừa theo học tại Đại học Paris, vừa tham gia Đảng Việt Nam Độc lập (Parti Annamite de l’ Indépendence – P.A.I.) do Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn An Ninh thành lập; và khi hai ông về nước, đã chọn Tạ Thu Thâu lèo lái P.A.I. theo Trần Bảo Định, mặc dù tư tưởng Tạ Thu Thâu đã tiến xa hơn một bước so với chủ trương của P.A.I, nhưng nể trọng hai người anh đã tác thành ý thức cách mạng cho mình, ông đã dốc tâm huyết làm tròn sự ủy thác.

Ông cũng đã khước từ cơ hội qua Moscow học tập, trước khi lãnh trách nhiệm với P.A.I. bởi khi “vừa đến Paris, Thâu đã dò hỏi chương trình huấn luyện của trường cán bộ ở Moscow rồi… Những sách vở thuộc về chương trình này từ còn ở bên nhà, Thâu đã có dịp đọc kỹ. Lúc  ấy, Thâu muốn nghiên cứu cho thâm viễn hơn…” (Theo tác giả Huân Phong, bài viết từ năm 1965 trên Hòa đồng số 48)…

Nhân đây, cần nhắc lại một sự kiện trong tác phẩm Nguyễn Ái Quốc qua hồi ức của một bà mẹ Nga của nhà văn - anh hùng lao động Sơn Tùng - một “chuyên gia” viết về cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh (NXB Thanh niên, 2007 - tái bản 2008). Do có cơ hội chuyện trò với “bà mẹ Nga” - bà Vêra, “người gần gũi làm việc với Nguyễn Ái Quốc nhiều thời kỳ 1923-1924, 1925-1928 và 1934-1938” - Bà từng làm việc trong “Ban La tinh” Quốc tế Cộng sản rồi chuyên trách công tác của trường Đại học Phương Đông mang tên Stalin, nên Sơn Tùng đã có thể viết: “…Nguyễn Ái Quốc nổi tiếng như thế lại không được mời làm đại biểu chính thức tại Đại hội Quốc tế cộng sản lần thứ 6 và 7, không được giao công tác trong nhiều năm. Mẹ Vêra, nhân chứng thời đó đã kể:

 “… Trong Đại hội 6, những quan điểm của Nguyễn Ái Quốc về vấn đề dân tộc và thuộc địa bị phê phán dữ dội, kết luận Nguyễn Ái Quốc chỉ là người yêu nước nhiệt tình, không phải cách mạng vô sản mà là “Cách mạng nửa vời”, một thứ cách mạng trộn lẫn Cách mạng Mỹ (1776), Cách mạng Pháp (1789) với Cách mạng Nga (1917) thành một cục! Thể hiện ở sách “Đường Cách Mệnh” và ở “Hội Thanh niên Cách mạng đồng chí”. Một số đại biểu còn lên án Nguyễn Ái Quốc xét lại chủ nghĩa Mác, đòi bổ sung học thuyết Mác như “…Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của Chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được…”. Lại nữa: “…Mác đã xây dựng học thuyết của mình  trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn nhân loại…”… Đồng chí Xtalin tỏ vẻ khó chịu nhất là về vấn đề này…”

Khát vọng người xưa và trách nhiệm hậu thế - 2

Nhà văn Trần Bảo Định 

Về giai đoạn đặc biệt này của Nguyễn Ái Quốc, Biên niên tiểu sử Hồ Chí Minh (Tập 2 – NXB Chính trị quốc gia Sự thật) cũng đã tóm lược như sau:

“…Trong việc đấu tranh để xác lập và bảo vệ đường lối cách mạng đúng đắn chống mọi khuynh hướng “tả” và hữu trong Đảng ta và trong Quốc tế Cộng sản, Người đã bình tĩnh, sáng suốt, kiên trì giữ vững quan điểm sáng tạo, đúng đắn của mình….”.

Cần nhớ lại giai đoạn này của Nguyễn Ái Quốc để thấy tầm nhìn xa trông rộng của Tạ Thu Thâu. Sau khi trở về nước, ông tiếp tục tranh đấu trên phương diện báo chí xã hội (1930-1937) và trên nghị trường rồi bị bắt giam (1937-1939); ra tù, ông ứng cử nghị viên và bị tù ở Côn Đảo (1939-1944)… 

Tác giả không nhắc đến sự kiện Tạ Thu Thâu bị thủ tiêu tại Quảng Ngãi năm 1945, sau khi ông được phóng thích từ nhà tù Côn Đảo, chuẩn bị thành lập Đảng xã hội thợ thuyền và xuất bản báo Chiến đấu, vì cho đến nay, chưa có cơ quan nào công bố bằng chứng xác thực. Hơn bảy thập kỷ đã qua, bây giờ đã có thể nói rằng, cũng như Phan Văn Hùm, ông đã bị sát hại bởi một “tổ chức nào đó”, nhưng đây là một “nghi án” có lẽ không bao giờ được làm sáng tỏ?

Tuy vậy, qua bài viết Tạ Thu Thâu – chàng trai Lấp Vò trên đất Pháp dài gần 40 trang, Trần Bảo Định đã giúp bạn đọc thấy rõ “tấm lòng nhân đạo và tình yêu quê hương ngời sáng” của Tạ Thu Thâu. Và với ông, “cách mạng, tức là cách mạng cho nhân dân – những người lao động cùng khổ lầm than […] Ông là nhà cách mạng với trái tim của nhà nhân đạo chủ nghĩa mang tư tưởng (chẳng phải duy tâm hay duy vật) mà là nhà nhân bản luận, thể hiện tính Nam Kỳ rõ nét…”.

Trần Bảo Định có thể “đúc kết” như trên, một phần nhờ được tiếp cận công trình của các tác giả trước 1975 ở miền Nam (như bà Phương Lan Bùi Thế Mỹ và ông Huân Phong…) và mặt khác, còn có sự chiêm nghiệm từ chính cuộc đời hoạt động cách mạng của mình suốt hơn nửa thế kỷ vừa qua. Và với việc tên đường Tạ Thu Thâu đã được đặt tại phường Hiệp Phú, Thành phố Thủ Đức, cuộc đời ông mặc nhiên đã sáng rõ…

Còn trong thời kỳ rối rắm, phức tạp và cả ấu trĩ của buổi đầu cách mạng, sự lầm lẫn đã khiến nhiều người gặp “tai nạn”, chứ không chỉ Phan Văn Hùm và Tạ Thu Thâu! (Như nhà văn, dịch giả nổi tiếng Nhượng Tống (1906-1949) từng tham gia thành lập Quốc Dân Đảng, bị đày Côn Đảo từ 1929-1933, sau khi ra tù dịch sách, viết sách và bị ám sát năm 1949 và mãi đến năm 2021, nhà văn Yên Ba mới có thể viết cuốn sách về ông - NXB Hội Nhà văn, 2021. Cả những người không hoạt động gì đáng kể như em trai nhà thơ Lương An – tác giả Cô lái đò – cũng bị sát hại tại Quảng Trị. Tôi từng sống với nhà thơ Lương An nhiều năm, vậy mà sau khi ông qua đời mới biết câu chuyện đau lòng này!).

Với cách bố cục tập sách, mở đầu là Lương Văn Can và sau cùng là Nguyễn An Ninh, tác giả đã “giúp cho bạn đọc thuận tiện tiếp nhận sự  dịch chuyển quan niệm yêu nước và tư tưởng canh tân đầu thế kỷ XX…”. Cùng với bảy câu chuyện kèm theo sau phần khảo cứu, Trần Bảo Định không chỉ cung cấp rất nhiều kiến thức thông qua “khát vọng của người xưa” mà còn chuyển tải những thông điệp quan trọng về xây dựng chủ nghĩa nhân văn trong sáng, trước tình trạng “ý - tình - lý bị thui chột, biến dạng nhân hình - biến dạng nhân tính, sự vong bản bắt đầu […] Và con người trở thành loài ký sinh tai hại đang ngày từng ngày phá hủy địa cầu” đã được học giả Hồ Hữu Tường cảnh báo từ gần một thế kỷ trước!.... 

Những tên tuổi vừa nhắc đến có vị thế rất đặc biệt, có thể ví họ là nhóm “tiền trạm” hoặc là những hoa tiêu tìm con đường tốt đẹp cho dân tộc thoát khỏi chế độ phong kiến lạc hậu và nô lệ thực dân giữa thời kỳ cả nhân loại đang loay hoay trước các “ngã ba” không dễ nhận ra đâu là “đại lộ”. Vì nhiều lẽ, họ chưa đi tới đích hoặc là đã không may gặp “tai nạn” trên hành trình tìm kiếm, nhưng những hoạt động nhiều mặt liên tục và sổi nổi của họ những năm đầu thế kỷ XX đã góp phần to lớn kích hoạt lòng yêu nước, ý chí đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc của đông đảo quần chúng, nhất là ở Nam Bộ.

Các vị tiền bối ấy lúc sinh thời chẳng cần kể công trạng, huống chi nay đã ở “cõi khác”, nhưng có thể nói, chính nhờ họ mà ngay khi  “lực lượng Việt Minh” còn non trẻ, một trí thức Tây học như bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, thủ lĩnh Phong trào Thanh niên Tiền phong, chỉ trong một thời gian  ngắn, đã tập hợp được hàng vạn thanh niên và quần chúng tại vườn hoa Tao Đàn (Sài Gòn) ngày 2/7/1945, cất cao tiếng hát “Này thanh niên ơi! Đứng lên đáp lời sông núi…”, dẫn đến thành công của Cách mạng tháng Tám tại Nam Bộ…

Phẩm cách cao quý và cả những điều mà lớp người tinh hoa của dân tộc bước đầu khai mở trước thềm cuộc Cách mạng mùa Thu, rất đáng để hậu thế nghiền ngẫm với cả lòng biết ơn sâu đậm…

(Nhân đọc “Dấu thời gian – Khát vọng người xưa” – Khảo cứu & Truyện của Trần Bảo Định – NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2022)

Nguyễn Khắc Phê

Tin liên quan

Tin mới nhất

Kết quả thi đấu tennis đơn nam Wimbledon 2026 mới nhất

Kết quả thi đấu tennis đơn nam Wimbledon 2026 mới nhất

Cập nhật kết quả thi đấu đơn nam Wimbledon 2026 nhanh chóng và chính xác nhất. Tổng hợp tỷ số tennis trực tuyến, bảng xếp hạng và diễn biến mới nhất của các siêu sao Djokovic, Sinner hôm nay tại giải quần vợt All England Club.

Lịch thi đấu tennis đơn nam Wimbledon 2026 mới nhất

Lịch thi đấu tennis đơn nam Wimbledon 2026 mới nhất

Cập nhật chi tiết lịch thi đấu đơn nam Wimbledon 2026 mới nhất. Theo dõi hành trình của Jannik Sinner, Carlos Alcaraz và Novak Djokovic tại giải Grand Slam sân cỏ khởi tranh từ ngày 29/6 đến 12/7 để không bỏ lỡ các trận cầu kịch tính.