Thơ Trịnh Bích Ngân: Sáng tạo trong sự khác biệt
Nhà văn Bích Ngân quê ở Cà Mau. Chị hiện là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, là Chủ tịch Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh, hội viên Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam,… Chị đã in 20 tác phẩm gồm nhiều thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện hài hước, tạp văn, kịch bản sân khấu. Tập thơ đầu tay “Nghiêng về phía nỗi đau” với bút danh Trịnh Bích Ngân chứa đựng nhiều điều mới mẻ của một cá tính sáng tạo độc đáo.
Trong một bài viết giàu tính tư tưởng và sắc sảo về lý luận, nhà văn Bích Ngân chia sẻ: “nhà văn hôm nay sẽ viết khác hơn. Sáng tạo trong sự khác biệt, có lẽ là con đường, là cái đích mà những nhà văn đương đại hướng tới”.

Nhà văn Bích Ngân.
Tập thơ Nghiêng về phía nỗi đau chủ yếu được viết theo thể thơ tự do nhưng có nhiều khác biệt với kiểu thơ tự do làm theo quan niệm của Nguyễn Đình Thi từ thời kháng chiến chống Pháp. Xin đọc:
“Tôi có thú vui
lang thang đây đó
chụp những bức ảnh
rồi tỉ mẩn
bố cục lại
từng tấm một
Bỏ bớt chiều cao, kéo dài chiều rộng
xê trái, dịch phải, cắt trên, xén dưới
lại thu chiều rộng, lại mở chiều cao…
những bức ảnh đẹp hơn
nhờ bố cục…”
(Bố cục, tr52)
Chị có một quan niệm độc đáo về thơ: “…Thơ xa lạ với chiêu trò làm xiếc, ú tim. Thơ mang tố chất của một chiến binh. Gan góc phơi bày. Dũng cảm phơi bày. Chân thành phơi bày. Thơ còn mang phẩm hạnh của Têrêsa. Chia sẻ và lặng lẽ hiến dâng” (Người tình thủy chung, tr5).
Vì thế, thơ Trịnh Bích Ngân là câu chuyện, là lời kể mộc, là những quan sát rất thực, là dòng chảy những nghĩ suy rất tự nhiên, tưởng như không cần phải dụng công câu chữ. Thơ là “dòng ý thức” được gọt giũa hết những lớp vỏ bọc của hiện thực để chỉ còn lại sự tinh khôi tư tưởng.
“Cần gì những diễn ngôn
xa lạ với mỹ từ
cách ly với nhộn nhạo
tung hô…”
(Lặng lẽ, tr144)
Trong thơ Trịnh Bích Ngân, nhân vật “tôi” đắm mình trong hiện sinh để “dòng ý thức”vận động trong không - thời gian miên viễn:
“Tôi chờ từng giọt cà phê
nhỏ xuống lòng chiếc ly sứ
trong tiếng nhạc của trăm năm trước
trong nỗi đau của ngàn năm trước
đặc sánh như giọt đắng tôi uống
mỗi ngày
(Ở cự ly gần, tr48)
Thơ ca Việt có một dòng chảy lớn là thơ hiện thực. Cuộc sống ngoài kia dội vào tâm trí nhà thơ, tra vấn lương tâm, trở thành đối tượng thẩm mỹ. Nhà thơ quan sát những biến cố ấy, nghiền ngẫm những chuyển động lịch sử của thời đại mình và lên tiếng nói. Những nhà thơ lớn của dân tộc đều bày tỏ thái độ minh triết trước thực tại (diễn ngôn). Vì thế thơ có giá trị phản ánh hiện thực (xin đọc Nguyễn Khuyến, Nguyễn Đình Chiểu, Trần Tế Xương, Phan Bội Châu…). Thơ hiện thực thường sử dụng chất liệu đời thường.

Tập thơ "Nghiêng về phía nỗi đau".
Trịnh Bích Ngân đi con đường khác. Nhà thơ không hướng ra bên ngoài mà lắng sâu vào nội tâm, một tâm thức đầy ánh sáng trí tuệ, một thế giới mà cảm xúc vượt thoát khỏi cõi “nhân gian bé tẹo” để đến với cảnh giới của “nhân gian không cùng”. Thơ là “dòng ý thức” về hiện sinh và vượt qua hiện sinh.
Trong 72 bài của tập thơ, có tới 24 bài tác giả viết vào đêm, lúc giữa khuya tới sáng. Có khi là 2 giờ, 3 giờ, 4 giờ sáng, 6 giờ sáng, lúc ban mai. Chẳng hạn: đêm 27.10.2018; khuya 27.7.2019; 3 giờ sáng 20.9.2022; khuya 25.9.2022; 4 giờ sáng 15.11.2022; khuya 28.9.2023; 3 giờ sáng 17.8.2023; 4 giờ 20.8.2023; khuya 4.4.2023; khuya 11.3.2024; ban mai 2.4.2023; sắp ban mai 11.4.2024; và nhiều bài viết về đêm: Chuông điện thoại lúc 3 giờ sáng, Ân ái bóng đêm, Thu thức giấc, Chiếc lược trần gian, Người thắp lửa, Cà phê & Máu, Xin lạy tạ nỗi buồn giăng mắc.
Điều này có ý nghĩa gì?
“Đêm/ dòng sông quá đỗi dịu dàng…” (tr 38). Đêm là khoảng thời gian con người có thể tiếp cận được cảnh giới của tâm thức. Đêm thanh lọc mọi hệ lụy nhân gian, trả lại cho tâm hồn sự tươi mới hồi sinh. Có khi “Đêm dềnh dàng như bóng ma thiên cổ”(tr.118), có khi là đêm đầy ánh sáng, đêm Giáng sinh: “Sự sáng chiếu soi trong u tối” (Ga 1, 4-5). Nhà Phật đọc kệ từng canh giờ từ chập tối đến sáng. Các tôn giáo khác thường có những nghi lễ trước ban mai, bởi đó là khoảng thời gian tâm thức con người có thể vượt thoát khỏi thực tại để giao hòa với vũ trụ.
Trong một thời gian dài (thời gian của tập thơ, từ 2018 đến 2024) và ở nhiều không gian khác nhau: đêm Sài Gòn, đêm Thủ Đức, đêm thu, đêm Cửu Long, đêm Giáng sinh, sáng Ramallah (Palestine), người thơ đắm mình trong đêm, để cho dòng ý thức trôi chảy trong không-thời gian bất tận. Ngoài kia, cuộc sống xã hội đã bị bóng đêm che khuất. Nhân loại đã chìm vào giấc ngủ. Mọi quan hệ nhân gian đều đóng lại. Người thơ “đối diện với chính mình” (tr54), khám phá sự tồn tại của thân xác mình, vươn tới hiện sinh, tự do và siêu việt (tôi mượn chữ của K. Jaspers -triết gia Hiện sinh). Dòng ý thức cứ trôi chảy triền miên, tinh tuyền như dòng suối pha lê. Tôi hoàn toàn tự do (“tự do nội tại”). Và thơ khởi sinh trong những khoảnh khắc tinh khôi ấy. Những khoảnh khắc tự do hiện sinh. Điều này là đặc điểm cá tính sáng tạo độc đáo của Trịnh Bích Ngân.
Cho nên, người đọc không tìm thấy hiện thực xã hội được miêu tả trực diện trong thơ Trịnh Bích Ngân, mà chỉ thấy “ý thức hiện sinh” của Trịnh Bích Ngân về hiện thực ấy thấp thoáng qua những hình ảnh ẩn dụ.
Chẳng hạn, nhà thơ không viết trực tiếp về hành động anh hùng của mười cô gái Đồng Lộc, mà ngẫm suy về “Những chiếc gương soi” của họ. Chẳng hạn, cuộc sống xung quanh ta đầy rẫy cái tiêu cực, nhưng tuyệt nhiên người đọc không thấy một sự việc cụ thể nào được nói đến trong thơ Trịnh Bích Ngân. Hiện thực được khái quát, hiện thực luôn là sự bất toàn của hiện sinh. Xin đọc: Sự thật có lúc là ác thú. Chiến tranh ở Palestine không hề được nhắc tới, nhưng dấu ấn hiện sinh về thực tại máu lửa ở Palestine lại hiện lên rất đậm trong ý thức của nhà thơ. Xin đọc: Cà phê & Máu; Di sản Palestin, Không khoảng cách nào có thể chia rẽ…
Như vậy con đường sáng tạo mới trong thơ Trịnh Bích Ngân là thơ của dòng ý thức về thực tại, nằm trong dòng thơ suy tưởng của thơ Việt truyền thống. Trên dòng chảy này đã có những đỉnh thi sơn lẫm liệt một thời như Nguyễn Đình Thi, Chế Lan Viên, Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Duy… Thơ Trịnh Bích Ngân cũng hội nhập vào dòng thơ nữ Việt với nhiều khuôn mặt rạng rỡ: như Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mỹ Dạ, Ý Nhi, Dư Thị Hoàn,…Và Trịnh Bích Ngân đã đi một lối riêng…
Lối riêng ấy trước hết là ở thi pháp. Trịnh Bích Ngân có riêng một cách cấu tứ. Cả bài thơ là những miêu tả hiện sinh. Ngôn ngữ trần trụi, câu chữ vỡ vụn. Nhưng khi thơ được đọc, và đọc nhanh (như dòng ý thức trôi chảy), thì hồn thơ kết tụ, tư tưởng và cảm xúc thẩm mỹ trong thơ cuồn cuộn lan tỏa, đến cuối bài, tứ thơ vụt sáng lên. Một sinh mệnh thơ đầy sức lực phát khởi, bài thơ trở thành chùm hoa tư tưởng. Xin đọc:
Khoảng trống dậy nùi hương
Dành trọn buổi dọn dẹp
dành nhiều thời gian hơn
sắp xếp và loại bỏ
Mỗi vật dụng cùng ta
những linh hồn cầm cố
những khoảng lặng tiếc nuối
những giây phút thẫn thờ
Chỗ đọc, nơi thiên đàng
những bộ óc siêu phàm
những trái tim Teresa
những mất còn nhân thế
Chỗ đón nắng ngoài hiên
nắm níu những úa vàng
chồi non đang nhún nhẩy
lá vàng rơi, rơi, rơi…
Tách cà phê đã nguội
khoảng trống dậy mùi hương.
(sáng 11.6.2023)
Cấu trúc đặc biệt ấy của thơ Trịnh Bích Ngân được làm phong phú bởi cung bậc giọng điệu đối thoại của nhân vật trữ tình trong thơ. Đó là giọng tự tình của một hồn thơ “Nhỏ thật nhỏ mà không ngừng lay động” (Chiếc lá nhỏ ven hồ, tr33), giọng của người thơ độc thoại với mình (Máu vẫn không ngừng chảy, tr78), người thơ nói lời yêu với anh, giọng nồng nàn gần gũi (Ân sủng thu). Một giọng kể đằm thắm, tĩnh tại nhưng ẩn chứa sức sống mãnh liệt (Cà phê & Máu; Di sản Palestine, tr130, 132). Có khi là giọng buồn chia sẻ với những phận người (Nỗi buồn, tr.54), giọng day dứt khi phải lìa xa mẹ (Chiếc xuồng con chở khẳm, tr58). Có khi là những tiếng “mày, tao” bỗ bã của những con người chung nỗi đau bi kịch (Một người đã chết từ lâu, tr74). Và thơ bỗng vang lên những tiếng kêu hoảng loạn trong đám cháy chung cư (Lối thoát nào cho nỗi đau, tr94). Có khi thơ là lời an ủi sâu nặng nghĩa tình với một người đã chết (Rồi ai cũng về chốn ấy, tr121). Lại có khi là giọng bất cần, bất chấp tất cả, giọng của người đã nắm được chân lý (Lặng lẽ, tr145). Và đọng lại là giọng của Ta, một chút ngang tàng, tự khẳng định mình trước hiện hữu (Trước vĩnh cửu, tr150), Ta can ngăn con người đừng đẩy nhân loại tới gần hố tử thần (Chúng ta chỉ là kẻ tạm trú, tr158).
Như vậy, Trịnh Bích Ngân đã “sáng tạo trong sự khác biệt”, đã đi một lối riêng trên dòng chảy của thơ ca Việt đương đại, đã “trình diện cho tha nhân, cho nhân loại chiêm ngưỡng thế giới sáng tạo cá thể, riêng biệt và độc đáo của mình”. Chỉ với một tập thơ (có lẽ là duy nhất, nhà thơ bảo vậy), Trịnh Bích Ngân có thể để lại trong lòng người đọc khuôn mặt một nhà thơ đằm thắm, sâu nặng tình người, tình đời; một khuôn mặt thơ, hiện sinh, tự do và siêu việt.

Khuất Bình Nguyên quê ở trấn Sơn Nam thượng, với núi Tản, sông Đà, với Ba Vì, phủ Quốc, Sài Sơn… vốn không xa lạ với...
Bình luận