Nhà văn và tác phẩm trong quan hệ hữu cơ với cuộc sống
Văn học không phải là sự sao chép giản đơn hiện thực, mà là kết quả của một quá trình chắt lọc, tái hiện thực tế cuộc sống bằng tài năng, vốn sống, bản lĩnh và cách xử lý sáng tạo tài liệu thực tế của nhà văn. Mỗi tác phẩm thành công đều mang dấu ấn hữu cơ giữa đời sống và cá tính sáng tạo trong tầm tư tưởng của mỗi nhà văn.
Tài năng và vốn sống
Đề cập đến tài năng và vốn sống của nhà văn là đề cập đến những phẩm chất đầu tiên cần phải có. Vốn sống của nhà văn chính là cái thực tế của đời sống mà nhà văn trải nghiệm, lăn lộn với nó như chính cuộc đời mình. Nói như H. Balzac “Nhà văn là người thư ký trung thành của thời đại” thì ở đây chúng ta phải nhận thức được rằng, thiên chức của nhà văn là tái hiện, xử lý, nhào nặn vốn sống, tức là cái thực tế mà nhà văn thâm nhập cuộc sống, để viết nên tác phẩm mà mọi người xung quanh mình khi đọc đều thấy bóng dáng mình, bè bạn của mình trong đó, thật như trong cuộc đời vậy. Đó chính là cái đích hướng đến: nhà văn phải có tầm tư tưởng và phong cách cá nhân của riêng mình với tư cách là người thư ký trung thành của thời đại.
Như trường hợp Ngô Tất Tố (1893 - 1954), một kho tư liệu sống về số phận người nông dân Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XX và chỉ riêng với tiểu thuyết Tắt đèn (1937) ông đã tái hiện và khắc họa sâu sắc cuộc sống khốn cùng của tầng lớp nông dân bị áp bức, bị chà đạp dưới thời Pháp thuộc, mà hình tượng chị Dậu là một điển hình. Tác phẩm không chỉ là lời tố cáo mạnh mẽ xã hội thối nát mà còn thể hiện tài năng nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn. Sở dĩ có được điều này chính là vì Ngô Tất Tố đã hóa thân thành những nhân vật, sống cuộc sống của họ bằng vốn sống ghi chép và tái hiện một cách chắt lọc những nét điển hình của cuộc sống. Các nhà văn cùng thời như Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng… cũng là những nhà văn lăn lộn vào thực tế cuộc sống để dấn thân viết nên những tác phẩm có giá trị hiện thực phê phán.
Nói về người nông dân thời Pháp đô hộ cũng không thể không nhắc đến Nam Cao với truyện ngắn Chí Phèo (1941), một tác phẩm xuất sắc nói lên tấn bi kịch của người nông dân nghèo bị tha hóa trong xã hội. Truyện ngắn Chí Phèo chứng tỏ trình độ nghệ thuật bậc thầy của một nhà văn lớn đã tái hiện và xử lý được những gì mà nhà văn thâm nhập thực tế và nhào nặn thành một bức tranh sinh động có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc.
Đề cập và phê phán đến tận cùng những thói tật, những tệ nạn thối nát ở đô thị Việt Nam thời thuộc Pháp, với cách “ghi chép trung thành” thời đại mình đang sống, Vũ Trọng Phụng với tác phẩm Số đỏ đã phơi bày bản chất thối nát, giả dối của một xã hội thực dân nửa phong kiến, và đặc biệt bằng tài năng trào phúng, giễu cợt nhà văn đã chứng tỏ bàn tay sáng tạo của một tiểu thuyết gia có tầm tư tưởng và phong cách.
Cảm hứng sáng tạo
Nếu nhìn vào giai đoạn 9 năm kháng chiến chống Pháp (1946 -1954) và giai đoạn chống Mỹ cứu nước (1954–1975), chúng ta thấy mối quan hệ giữa nhà văn và tác phẩm càng trở nên đặc biệt. Bởi lẽ, chính hoàn cảnh lịch sử dân tộc đã khiến nhà văn không thể đứng ngoài cuộc, mà trở thành người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa - tư tưởng, vừa cầm bút vừa cầm súng, vừa sống vừa viết, vừa chiến đấu vừa sáng tạo. Thành tựu văn học nghệ thuật giai đoạn này chính là kết tinh của sự hòa quyện ấy. Anh vệ quốc quân phóng viên mặt trận tờ Xông pha và Vệ Quốc quân trong kháng chiến chống Pháp - nhà thơ Hoàng Lộc (1920 -1949), tác giả bài thơ Viếng bạn đã xử lý sáng tạo, đúng lúc những tài liệu thực tế ở chiến trường để viết nên một tác phẩm đầu tiên về liệt sĩ đồng đội được lưu hành rộng rãi. Hoàng Lộc viết Viếng bạn đầu năm 1948 (sau đăng trên sách Chặt gọng kìm đường số 4) trước cả bài thơ Lượm của Tố Hữu viết cuối năm 1949 và bài Khóc Hoài của Vĩnh Mai, năm 1950.
Có thể kể trường hợp của nhà thơ Lê Anh Xuân với bài thơ Dáng đứng Việt Nam được viết ra trong cảm hứng sáng tạo xuất thần. Lê Anh Xuân (tên thật là Ca Lê Hiến) vốn là giảng viên khoa Lịch sử trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã tình nguyện trở lại quê hương Bến Tre chiến đấu và công tác ở Ban Tuyên huấn, Trung ương Cục miền Nam. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Tiểu đoàn 16, Phân khu 2, tỉnh Long An có nhiệm vụ tiến đánh sân bay Tân Sơn Nhất.
Trong trận chiến đấu này có một chiến sĩ bị thương, nhưng anh đã tựa mình vào một xác xe tăng bắn tiếp cho đến khi kiệt sức. Lại một viên đạn nữa xuyên vào thân thể, làm anh hy sinh trong tư thế đứng thẳng, tay vẫn kẹp súng hướng về phía quân thù làm chúng hoảng sợ. Lê Anh Xuân được nghe kể lại, anh rất xúc động với hình ảnh này, cảm hứng sáng tạo đã giúp nhà thơ viết nên tác phẩm Dáng đứng Việt Nam ngay trong đêm ấy gửi cho Tạp chí Văn nghệ giải phóng trước lúc lên đường đi chiến đấu và hy sinh, khi mới 28 tuổi. Hình tượng anh Giải phóng quân đứng thẳng hiên ngang đã được khái quát hóa thành dáng đứng của đất nước. Cảm hứng sáng tạo của nhà thơ đã đưa một hình ảnh cụ thể thành biểu tượng hiên ngang của Tổ quốc.
Cảm hứng sáng tạo cũng đã đưa bức tranh thơ O du kích nhỏ giương cao súng… trở thành tác phẩm nghệ thuật đích thực. Cảm hứng sáng tạo có những lúc bất chợt trở thành kích hoạt nội tâm để đi đến sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ. Đó là trường hợp năm 1965 khi giặc Mỹ đánh phá ác liệt miền Bắc bằng không quân, nhà báo Phan Thoan, phóng viên Báo Hà Tĩnh đã kịp chụp được khoảnh khắc nữ dân quân đội mũ cối, hai tay bồng súng, hiên ngang áp giải một phi công Mỹ to lớn bước đi, đầu cúi thấp. Từ tấm ảnh cụ thể hiện lên một biểu tượng sáng ngời của nhân dân và phụ nữ Việt Nam anh hùng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Năm 1966, tấm ảnh được trưng bày tại một triển lãm ảnh toàn quốc và ngay lập tức tạo nên sự xúc động mạnh của nhiều người xem. Nhà thơ Tố Hữu sau khi xem ảnh đã để lại bốn câu thơ tương phản người chiến thắng – kẻ xâm lược cũng chính xuất phát từ cảm hứng sáng tạo:
“O du kích nhỏ giương cao súng
Thằng Mỹ lênh khênh bước cúi đầu
Ra thế! To gan hơn béo bụng
Anh hùng đâu cứ phải mày râu!”

Tác phẩm ảnh "O du kích nhỏ" của nhà báo Phan Thoan. (Ảnh tư liệu)
Còn trường hợp nhà thơ, nhà khoa học luyện kim Đinh Phạm Thái với bài thơ Cái roi ngày ấy thì từ vốn sống thực tế của chính gia đình mình có người thân là liệt sĩ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhà thơ đã điển hình hóa vốn sống thực tế của riêng mình thành cái chung của cộng đồng, biến nỗi đau riêng thành nỗi đau chung của nhiều gia đình có con em trực tiếp tham gia cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước.
“Ngày nào con nghịch con chơi
Bỏ nhà đi suốt một hơi tối ngày
Làn roi rơi xuống thân gầy
Làm đau lòng mẹ, làm cay mắt bà.
Bây giờ con ở đâu xa
Nắm xương không cửa không nhà mãi đi
Trường Sơn một dải xanh rì
Đất đen, đất đỏ, đất gì chôn con?"
Hành trình sáng tạo liên tục để tạo nên tác phẩm có giá trị lâu bền
Nguyễn Đình Thi với vốn sống thực tế sẵn có nên với những trải nghiệm trong cuộc sống ông đã đi tìm cảm xúc cô đọng trong sáng tạo để biến cảm xúc riêng mình thành cảm xúc của nhiều người. Đây chính là hành trình sáng tạo liên tục của nhà thơ để tạo nên tác phẩm có giá trị lâu bền. Là người trong cuộc, tắm mình trong cuộc chiến đấu gian lao của dân tộc, tham gia chiến đấu cùng với bộ đội, sống với dân và được chứng kiến ngày thắng lợi vẻ vang của đất nước nên Nguyễn Đình Thi yêu đất nước như đứa con yêu quê hương, đau xót khi thấy quê hương bị giặc giày xéo, vui mừng khi đất nước được giải phóng khỏi ách xâm lược.
Cảm xúc trong thơ Nguyễn Đình Thi rất cụ thể, gắn với đời sống thực qua vốn sống mà ông trải nghiệm và ghi chép. Thơ ông đã ghi lại cảm xúc trào dâng của người con đối với gia đình, người thân, làng xóm, đồng đội. Những tình cảm tự nhiên, chân thành xuất phát từ cuộc sống đã đem lại cho thơ Nguyễn Đình Thi những cảm xúc mãnh liệt đi vào lòng người. Về phương diện này thơ Nguyễn Đình Thi đã nói hộ tâm tư, suy nghĩ của bạn đọc.
“Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm mát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng phù sa
(Đất nước)
Cảm xúc thơ Nguyễn Đình Thi đồng điệu với cảm xúc của nhân dân nên thơ ông được đông đảo bạn đọc yêu thích, nghiền ngẫm. Đây chính là thành công của thơ Nguyễn Đình Thi, vì cảm xúc thơ ông đi từ cuộc sống, chắt lọc lấy những gì khái quát nhất, đặc thù nhất.
Tài năng và vốn sống của nhà văn là những tố chất đầu tiên mà nhà văn cần phải có, nhưng xử lý vốn sống đó như thế nào mới là điều quyết định thành công của tác phẩm có giá trị chân - thiện - mỹ vì con người. Dấn thân, say mê và liên tục sáng tạo là những tố chất mà nhà văn nào cũng phải phấn đấu cho được, trong đó nhà văn phải chấp nhận miệt mài lao động, quan sát ghi chép cuộc sống là những công việc không thể thiếu đối với nhà văn có tầm tư tưởng và phong cách, như cách tri ân cuộc đời mà nhà thơ Chế Lan Viên thường nói: “Hãy biết ơn vị muối của đời cho thơ chất mặn”.

Chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam từng được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định mạnh mẽ: "Nước...
Bình luận