Đào thắm mai vàng lặng lẽ tỏa hương...

Đào thắm mai vàng lặng lẽ tỏa hương... - 1

Đào thắm mai vàng lặng lẽ tỏa hương...

Lặng lẽ Vũ Thị Thường

Nhà báo - nhà văn Vũ Thị Thường (Tên khai sinh: Lê Kim Nga, sinh 1930; quê quán: xã Tả Thanh Oai, huyện Thường Tín, Hà Nội) là một chứng nhân lịch sử và văn chương Việt Nam thời hiện đại, nếu có thể nói như thế. Trong kháng chiến chống Pháp, bà tham gia công tác công đoàn, phụ nữ ở Thái Bình; từ 1958-1961, làm báo ở Kiến An, Hải Phòng.

Đào thắm mai vàng lặng lẽ tỏa hương... - 2

Nhà văn Vũ Thị Thường

Vũ Thị Thường bắt đầu cầm bút viết văn từ năm 1956, năm 1959 được dự Lớp bồi dưỡng viết văn trẻ của Hội Nhà văn Việt Nam. Từ năm 1961, bà lần lượt công tác ở các báo chí: báo Văn học, Văn nghệ, tạp chí Tác phẩm mới (Hội Nhà văn Việt Nam); bà từng là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa III. Sau 1975, nhà văn cùng gia đình chuyển vào sinh sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh. Người bạn đời của bà là nhà thơ tài năng Chế Lan Viên (1920-1989).

Vũ Thị Thường là một trong số ít các nhà văn Việt Nam thời hiện đại chuyên chú và thành danh chỉ với (nhờ) sáng tác truyện ngắn. Một gia tài truyện ngắn không thể nói là nhiều, nhưng cũng không thể nói là ít - 7 tập, trải dài trong 39 năm (1959-1998): Cái hom giỏ, Gánh vác, Hai chị em, Bông hoa súng, Vợ chồng ông lão chăn vịt, Câu chuyện bắt đầu từ những đứa trẻ, Con yêu con ghét. Cũng cần mở ngoặc chú thích thêm, ngoài tinh thần trụ hạng với truyện ngắn, nhà văn Vũ Thị Thường còn viết An Tư công chúa (kịch lịch sử), Vịt chị, vịt em (truyện thiếu nhi), Ở sân nuôi gà vịt (kịch đồng thoại) và Vết rạn (truyện dài).

Truyện ngắn Vũ Thị Thường thuộc kiểu loại truyền thống (tiêu biểu về cốt truyện, nhân vật rõ nét, hướng thiện, văn phong mực thước). Đọc văn Vũ Thị thường người đọc cảm thấy yên tâm, an nhiên vì được ở cạnh một người  hiền và tốt, chịu khó lắng nghe và biết chia sẻ với người khác. Nhà văn không gây sốc cho người đọc bởi những tình huống éo le, oan trái, dị thường; nhân vật của bà thường là những con người “trung bình” (không lên đỉnh cũng không rơi xuống vực đáy). Văn Vũ Thị Thường tuân thủ nguyên lý tối thượng “cái đẹp là sự giản dị”, thiết nghĩ, phù hợp với lớp người ưa sống chậm, thích nghiền ngẫm nhân tình thế thái, một kiểu văn có tác dụng suy nghiệm, cân bằng tâm thế.

Tuy là người làm báo có thâm niên, giàu kinh nghiệm “trường văn trận bút”, nhưng may mắn là nghề báo không “báo hại” văn trong sáng tác của Vũ Thị Thường. Tôi nghĩ, thành công này chứng tỏ một bản lĩnh sống và bản lĩnh nghệ thuật cao cường của nhà văn. Đọc văn Vũ Thị Thường tôi lại nghĩ đến câu nói đầu cửa miệng của lớp trẻ hiện nay: “phong độ nhất thời, đẳng cấp vĩnh viễn”.

Những năm sau khi người bạn đời - nhà thơ Chế Lan Viên - đi vào cõi vĩnh hằng, nhà văn Vũ Thị Thường cùng con gái Phan Thị Vàng Anh đã dày công sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu “Di cảo thơ Chế Lan Viên” (I, II, III, 1992-1996, với hơn 500 bài thơ). Đó là nghĩa cử, là hành động đồng sáng tạo trong lĩnh vực nghệ thuật ngôn từ. Dường như bà vẫn còn muốn di sản thơ ca của Chế Lan Viên tiếp tục đến với đông đảo người đọc nhiều hơn nữa nên đã cố gắng, với sự trợ giúp của Trung tâm nghiên cứu Quốc học và Nhà xuất bản Hội Nhà văn, ra mắt “Tuyển tập thơ Chế Lan Viên” (2017), với 278 thi phẩm chọn lọc từ tập thơ đầu tay “Điêu tàn” (1937) đến những bài hay nhất trong “Di cảo” (1987) – đánh dấu chặng đường nửa thế kỷ sáng tạo thơ ca của một thi nhân nổi tiếng trên văn đàn Việt Nam thế kỷ XX. Người ta thường nói, đằng sau một người đàn ông thành đạt có một người phụ nữ, là hoàn toàn chính xác trong trường hợp này.

Nhà văn Vũ Thị Thường vinh dự nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, năm 2007. Năm nay, nhà văn Vũ Thị Thường đã ở tuổi 92, nhưng vẫn minh mẫn, vui sống với con cháu, với văn chương chữ nghĩa. Thật là ân huệ của thời gian ban tặng một con người hiền tài. Ai đó gọi thân thương nhà văn Vũ Thị Thường là “đào thắm”, quả không sai.

Hiện nhà văn Vũ Thị Thường lặng lẽ, an nhiên, tĩnh tâm sống bình an ở “Viên Tĩnh Viên” (tên gọi tư gia của nhà thơ Chế Lan Viên, tại số 105/14 đường Lê Sát, phường 16, quận Tân Phú, Tp. Hồ chí Minh) cùng với con gái - nhà văn Phan Thị Vàng Anh. Nơi phòng khách nhà văn Vũ Thị Thường có treo đôi câu đối chữ Nôm do nhà thơ Bảo Định Giang viết tặng, được nhà thư pháp Trương Lộ thể hiện thành công: “Đại thụ ngã rồi, vườn cũ qua chơi trời thấy trống/Người xưa đi vắng, hùng văn để lại mực còn thơm” (theo Đức Dũng – Gặp tác giả “Cái hom giỏ” ở Viên Tĩnh Viên, báo Văn nghệ, 22/11/2020).

Nữ nhi không thường tình

Nữ nhi không thường tình trong làng văn hôm nay có một cây bút độc đáo, văn giới gọi vui là “văn trẻ”, mới xuất hiện đã nổi như cồn - đó là nhà văn Nguyễn Xuân Phượng (sinh 1929 tại Thừa Thiên - Huế trong một gia đình  hoàng tộc) - một đạo diễn điện ảnh tài ba, một chủ phòng tranh LOTUS nổi tiếng ở Tp. HCM, một nhà tổ chức sự kiện, một diễn giả duyên dáng, một cây bút làm báo cự phách,...

Nhưng nổi bật hơn cả là tinh thần dấn thân, nhập cuộc của một người phụ nữ không chịu lép vế là “phái yếu”, không bị coi là “nữ nhi thường tình”. Tháng 8-1945, mới mười sáu tuổi, theo tiếng gọi LÊN ĐÀNG, một thế hệ như măng mọc mùa xuân (tuyền nam thanh nữ tú), cùng thi đua yêu nước, theo tinh thần của “Cái thuở ban đầu dân quốc ấy/Nghìn năm hồ dễ mấy ai quên”.

Theo đoàn người hô vang những khẩu hiệu yêu nước, bước chân không vô tình của cô gái 16 tuổi đã đưa Nguyễn Xuân Phượng đến với ngày hội non sông, những ngày vui bất tuyệt. Năm 1947 bà lên chiến khu Việt Bắc, một danh từ riêng gắn với Cách mạng – Kháng chiến – Thủ đô gió ngàn – Lãnh tụ Hồ Chí Minh. Có thể nói con đường thiên lý ấy đường như đã vạch sẵn với cô gái chớm tuổi hai mươi yêu dấu.

Đào thắm mai vàng lặng lẽ tỏa hương... - 3

Đạo diễn Nguyễn Xuân Phượng và hồi ký “Gánh gánh gồng gồng”.

Trải qua bất kỳ công việc gì được tổ chức giao phó, Nguyễn Xuân Phượng đều hoàn thành xuất sắc (làm y tá quân đội, nhân viên chế tạo thuốc nổ, cán bộ văn hóa đối ngoại, phiên dịch viên tiếng Pháp, phóng viên chiến trường, đạo diễn phim tài liệu,...). Nguyễn Xuân Phượng là nghệ sỹ đa tài: đạo diễn phim tài liệu “Vĩ tuyến 17, chiến tranh nhân dân” (1967); tổ chức triển lãm tranh trong vòng 30 năm (1991-2021) cho các họa sĩ trẻ, cả trong và ngoài nước, với tâm nguyện quảng bá văn hóa, nghệ thuật Việt Nam ra thế giới.

“Gánh gánh gồng gồng” (hồi ký, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2019) của Nguyễn Xuân Phượng được viết lại từ hồi ký “Áo dài” (bằng tiếng Pháp, do Nhà xuất bản Plon ấn hành tại Paris, 2001, được chuyển ngữ sang tiếng Anh, Ba Lan). Vừa ra mắt, tác phẩm đã nhận “cú đúp” giải thưởng văn chương (Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, Giải thưởng Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, cùng trong năm 2020). Phải nói ngay rằng, hồi ký của Nguyễn Xuân Phượng tránh được khiếm khuyết của “dòng thác lũ hồi ký” hiện nay thường sa vào lỗi “ta trong người đục” (nếu không nói là thói “mục hạ vô nhân”).

Cuốn hồi ký làm sống lại, theo cách viết từ một khát vọng được thành thực, về đường đi nước bước của một số phận phụ nữ vốn đa tài, đa đoan, đa sự, đa tình. Cuộc đời của nhân vật “tôi” ánh lên hình ảnh một kiệt hiệt trải dài hai phần ba thế kỷ, trong đó chiếm đến quá nửa là những biến cố đôi khi bất ngờ có tác dụng “lửa thử vàng gian nan thử sức”, hay “thép đã tôi thế đấy”.

Từ chuyện đẻ rơi đứa con đầu lòng trên sông Lô thời kháng chiến chống Pháp (1945-1954) đến chuyện tác nghiệp ở đất lửa Vĩnh Linh (Quảng Trị, 1967) để làm phim “Vĩ tuyến 17, chiến tranh nhân dân”. Lại đến chuyện khi bà quyết tâm mở phòng tranh tư nhân kinh doanh khiến chồng (vốn là sỹ quan Quân đội nhân dân Việt Nam) không đồng ý, không ủng hộ. Câu “thuận vợ thuận chồng biển Đông tát cạn” trong trường hợp này xem ra khúc mắc.

Hồi ký “Gánh gánh gồng gồng” cũng cho thấy bà là một chứng nhân lịch sử khi chứng kiến cảnh tượng/sự kiện Bảo Đại trao ấn kiếm cho chính quyền nhân dân (Huế, 8/1945), như lời tuyên bố kết thúc triều đại phong kiến Việt Nam kéo dài hàng ngàn năm. Bà cũng là một trong số nhiều người chứng kiến những giờ phút chót của chính thể Việt Nam Cộng hòa vào ngày lịch sử 30/4/1975. Hồi ký cũng đưa người đọc đến khoảnh khắc cảm động khi bà gặp lại mẹ để sau 43 năm xa cách (7/1989) vì chiến tranh, vì dâu bể đời người.

Có một danh ngôn: “Không có người mẹ không có mặt trời, không có thi ca, không có cả người anh hùng” là hoàn toàn sát hợp trong muôn vàn trường hợp. Cuốn theo chiều văn “Gánh gánh gồng gồng” của Nguyễn Xuân Phượng, người đọc đã nhìn thấy được cả lịch sử qua số phận một con người, như thể giọt sương ánh phản cả mặt trời, giọt nước biển mang đầy đủ vị mặn của đại dương bao la.

Câu nói: “Không phải nhà chép sử, mà chính nhà văn mới là người chép lại lịch sử cuộc đời”, luôn luôn đúng và chí lý. Với Nguyễn Xuân Phượng và cuốn hồi ký của bà lại càng sát hợp. Tinh thần nữ quyền của tác giả toát lên từ tác phẩm là cao độ, đậm nét, được thể hiện bằng một lối văn giàu chất trữ tình – tâm lý – triết luận – trí tuệ. Nếu có thể nói, thì nhà văn Nguyễn Xuân Phượng đã tiếp nối được ngoạn mục truyền thống của Đạm Phương nữ sử (1881-1947), một nhà báo, nhà văn, nhà hoạt động xã hội nổi tiếng vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.

Ở trên, tôi đã nhắc đến cách gọi “đào thắm” của nhiều người với nhà văn Vũ Thị Thường. Vậy nên để có một “song kiếm hợp bích”, kết bài tôi muốn gọi nhà văn Nguyễn Xuân Phượng là “mai vàng”. Tại sao không?!

                                                                 

Bùi Việt Thắng

Tiếng hoa
Tiếng hoa

(Đọc “Tiếng Mưa”, Thơ Vũ Trần Anh Thư, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2022)

Tin liên quan

Tin mới nhất

Chương trình “Giao hưởng Non sông”: Đưa giao hưởng bước ra không gian mở

Chương trình “Giao hưởng Non sông”: Đưa giao hưởng bước ra không gian mở

Chương trình nghệ thuật đặc biệt “Giao hưởng Non sông”, hướng tới kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2026) được Dàn nhạc Giao hưởng Quân đội (MSO) tham gia với vai trò sản xuất nội dung và biểu diễn sẽ diễn ra vào tối 25/4, tại phố đi bộ Trần Nhân Tông (Công viên Thống Nhất, Hà Nội).