Hữu Thỉnh - bạn đồng môn, đồng nghiệp văn chương, gắn bó trên chặng đường ngót 7 thập kỷ
Tôi nói vậy, bởi cách đây gần 7 thập kỷ, tại trường phổ thông cấp II Tô Hiệu, thị xã Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, chúng tôi là bạn đồng môn cùng học khối lớp 6. Cả khối lớp 6 có hơn trăm học trò, tôi học lớp 6A, còn Hữu Thỉnh học lớp 6C, do anh rể tôi là Đoàn Danh Đắc dạy môn Văn mà anh Thỉnh lại là học sinh giỏi môn này. Còn lớp 6A của tôi, dạy môn văn là thầy Tôn Đức Phan, còn tôi là học sinh nhút nhát, nói năng, câu chữ còn non nớt, vụng về lắm.
Hồi đó, cả thị xã Vĩnh Yên chỉ có một trường phổ thông cấp II công lập mang tên nhà cách mạng tiền bối danh tiếng Tô Hiệu. Trường tọa lạc tại trung tâm thị xã, gần sân vận động, không xa cách các địa danh quen thuộc gắn bó với người dân nơi đây: Rừng Chánh Sứ, đầm Vạc...
Năm học đó là niên khóa 1958 - 1959, tôi thuộc loại bé út của lớp mới 11 tuổi, do bố mẹ cho đi học sớm, còn Hữu Thỉnh thì gốc gác ở nông thôn, đã vào tuổi trăng rằm. Ngoài giờ học trên lớp của mình, chúng tôi có những buổi sinh hoạt chung của khối: họp Đội thiếu niên quàng khăn đỏ; cùng học môn thể dục dụng cụ - thể thao bóng chuyền, bóng rổ, bóng đá; tham gia các hoạt động ngoại khóa, năng khiếu: Múa rối cạn, điều khiển tàu lượn ngoạn mục... Hữu Thỉnh thuộc lớp học trò lớn tuổi, bậc đàn anh. Anh không chỉ là bạn đồng môn của tôi, mà còn là bạn đồng môn của chị gái tôi, và anh trai tôi và với cả Trần Quốc Bảo và Trần Thị Bình An - là 2 người mà nhiều năm sau này, do số phận sắp đặt, họ thuộc về những người thân của gia đình nhạc mẫu của tôi.
Hữu Thỉnh phải học tập nỗ lực hơn người, bởi anh phải thuê nhà trọ học ngay tại thị xã do gia đình anh ở mãi tận làng Phú Vinh, xã Duy Phiên, huyện Tam Dương cách thị xã Vĩnh Yên khá xa. Chỉ đến cuối tuần anh mới có thời gian ghé về nhà, thăm hỏi người thân, nhận thêm sự tiếp tế, trợ giúp để đảm bảo học hành được liên tục, ổn thỏa.
Vài năm sau, kể từ ngày chuyển lên học cấp III (từ niên khóa 1960 - 1961 trở đi, lúc đầu ở thị xã Phúc Yên, sau lại chuyển về thị xã Vĩnh Yên), Hữu Thỉnh, Vũ Duy Thông và tôi - 3 người bạn cùng có xu hướng về văn chương, mới được học cùng lớp, lần lượt từ lớp 8, lớp 9 và lớp 10 của cấp học. Ngôi trường mới mang tên gọi của nhà cách mạng tiền bối lừng danh: Trường cấp III Trần Phú (cho đến ngày nay, trường vẫn giữ tên này).
Trong những năm học cấp III, Hữu Thỉnh và Vũ Duy Thông đã sớm bộc lộ năng khiếu sáng tác văn chương thiên bẩm. Các anh đã làm được những bài thơ trữ tình suôn sẻ được đăng trên báo tường của lớp, của Trường đã đành, mà hơn thế, thơ của các anh còn được in trên báo chí Trung ương (sau này các anh đều tuyển các bài thơ đó vào tập thơ đầu tay của mình, vì đó là những cái mốc đáng nhớ của đời cầm bút mà các anh theo đuổi như là cái nghiệp - sự khởi nghiệp).
Các thầy, cô và đồng môn trong lớp, cùng trường rất tự hào và nể trọng tài thơ của các anh. Còn tôi thì lẹt đẹt, mãi đến học kỳ II năm lớp 10 mới may mắn được Trường cử chọn đi dự thi học sinh giỏi Văn của tỉnh Vĩnh Phúc. Gặp vận may, tôi trúng giải, được cử đi dự thi tiếp học sinh giỏi Văn toàn miền bắc, nhưng không đạt được giải gì nữa. Tuy nhiên, tôi vẫn được an ủi: do đoạt giải ở cấp tỉnh, nên tôi được ưu ái cho dự thi vào trường Đại học Tổng hợp - Văn (nếu muốn), mặc dù chưa đạt quy định về tuổi và học đại học.

Nhà thơ Hữu Thỉnh - Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam thay mặt Ban lãnh đạo Hội Nhà văn Việt Nam, chúc mừng các hội viên mới được kết nạp, tháng 1/1997.
Lại nói về Hữu Thỉnh, hồi đó anh đã là một đoàn viên Đoàn Thanh niên lao động Việt Nam, một thanh niên trưởng thành, chững chạc, học giỏi, được đồng môn tín nhiệm cao, nên anh được chọn đảm nhiệm chức vụ Lớp trưởng của các lớp học cấp III. Như vậy ngay từ hồi học cấp III trường Phổ thông, chẳng những anh đã sớm bộc lộ năng khiếu sáng tác thơ khác người mà anh cũng đã có dịp cho thấy tài năng của một nhà quản lý, tổ chức hiếm có. Lớp chúng tôi do anh làm Lớp trưởng là một lớp học điển hình, xuất sắc của nhà trường; kết quả học tập của lớp học trò tuy đông tới gần năm chục người, nhưng khá đồng đều, không có học sinh kém, phải lưu ban, mà các môn học đều đạt ít nhất là trung bình khá trở lên; nhiều học sinh giỏi, có năng khiếu. Lớp luôn là đầu tàu hưởng ứng các chủ trương thi đua “dạy tốt, học tốt” do Ban Giám hiệu đề ra, duy trì thời gian biểu và các sinh hoạt, hoạt động chung của lớp đều đặn, nền nếp và hiệu quả, được các đoàn kiểm tra, các thầy cô chủ nhiệm hoặc dạy từng môn học hài lòng, khen ngợi thật lòng.
Nhưng đến giữa học kỳ 2 năm học lớp 10 (niên khóa 1962 - 1963) miền Bắc chuẩn bị bước vào thời chiến, Hữu Thỉnh và một số học trò lớn tuổi của lớp cuối cấp được tuyển chọn khám nghĩa vụ quân sự vào các binh quân chủng đặc biệt. Anh và một số học trò đạt tiêu chuẩn sức khỏe đã trúng tuyển nghĩa vụ quân sự, được Ty giáo dục Vĩnh Phúc xét cho dự kỳ thi tốt nghiệp đặc cách để được nhận bằng tốt nghiệp cấp III Phổ thông trước ngày lên đường nhập ngũ.
Đúng như kế hoạch dự định, anh được sung vào binh chủng tăng - thiết giáp, một binh chủng mới, hiện đại mà quân đội ta đang khẩn trương xây dựng và đào tạo.
Có một chi tiết này làm tôi nhớ mãi.
Tuy Hữu Thỉnh đã là chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam từ hè năm 1963, nhưng trong danh sách thí sinh dự tuyển vào trường Đại học Tổng hợp Hà Nội khóa 1963 - 1964, vẫn còn ghi tên anh cùng tên Vũ Duy Thông và tôi. Chúng tôi đúng ngày dự thi có mặt làm bài tốt và được công nhận trúng tuyển. Còn Hữu Thỉnh không dự thi được, vì anh đang có mặt tại đơn vị huấn luyện tân binh. Nhưng Vũ Duy Thông và tôi đều đinh ninh rằng, nếu năm đó không đầu quân mà được dự thi như đã đăng ký trước, chắc chắn Hữu Thỉnh sẽ đỗ, bởi tài năng và kiến văn của anh về chuyên ngành dự thi là phong phú và vững vàng, ít người bì kịp.
Tôi còn nhớ, mùa thu năm 1963, khi Vũ Duy Thông và tôi đang học năm thứ nhất Đại học Tổng hợp khoa Văn tại Ký túc xá Láng (Cầu Giấy - Hà Nội) thì một hôm Hữu Thỉnh mặc quân phục chỉnh tề, mới cứng, đeo quân hàm binh nhì của quân chủng tăng - thiết giáp đỏ chói, đến thăm và chúc mừng chúng tôi đã tiến bước vào con đường văn chương rộng mở. Anh cho biết: trước mắt chưa được vào học Văn khoa, vui vẻ mặc áo lính theo gương Pavel Corsaghin trong Thép đã tôi thế đấy! của nhà văn Nga N. Ostrovsky, nhưng anh sẽ không bao giờ từ bỏ con đường văn chương như là cái nghiệp đời đã vận vào anh, đã chọn anh từ những ngày còn đi học cấp II, cấp III ấy chứ!
Quả nhiên, khi đứng trong quân ngũ từ hè 1963, trong gần 30 năm, lúc đầu cầm súng và tác nghiệp trên cương vị người chiến sĩ thông thường như bao đồng ngũ khác trong quân chủng, dần dà anh bộc lộ rõ nét những tài năng Trời cho và anh chăm chút rèn luyện: năng khiếu cầm bút làm thơ, viết báo, tham gia vào công tác chính trị - tư tưởng - tuyên huấn trong lực lượng vũ trang nhân dân tại các điểm nóng chiến sự: Chiến trường Khe Sanh, chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Quảng Trị, Tây Nguyên rồi chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử…
Thâm nhập đời sống chiến đấu của quân dân 2 miền Bắc - Nam, từng trải, tích lũy và thăng hoa trên cơ sở vốn sống phong phú và quý báu đó, Hữu Thỉnh đã có những sáng tác thành công về thơ và trường ca. Anh hiện diện là tác giả được giải tại các cuộc thi thơ của báo Văn Nghệ (các năm 1972 - 1973; 1975 - 1976) rồi đoạt Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1980 với trường ca Đường tới thành phố....
Một bước ngoặt đã mở ra trong sự nghiệp văn chương của Hữu Thỉnh.
Từ cuối những năm tháng chống Mỹ cứu nước, anh đã xuất hiện như một tác giả thơ mới, trẻ trung, khỏe khoắn mà trữ tình, đằm thắm, ghi dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc, bởi cá tính nghệ thuật đặc sắc, dân dã mà nhuần nhuyễn, truyền thống mà trăn trở tìm tòi, đổi mới cảm hứng, thi tứ, bút pháp, ngôn từ.
Đất nước thống nhất liền một dải; không chỉ bằng lòng với việc tự học không ngừng nghỉ, anh đã có điều kiện theo học các khóa học bồi dưỡng nghiệp vụ chính quy ở trong nước hoặc ở nước ngoài (Trường Đại học Văn hóa - Đại học viết văn Nguyễn Du, Viện Văn học thế giới mang tên M. Gorky - Liên Xô...).
Kiến văn, tầm nhìn của anh ngày càng mở rộng, phong phú, vươn cao, bay xa, trên đôi cánh của chim Đại bàng.
Từ sau năm 1990, ra quân, anh mở rộng tầm và phạm vi hoạt động không chỉ ở trong nước mà rộng ra ngoài khu vực và trên thế giới.
Trở thành một tác giả chuyên nghiệp, lão thực với những thành tựu sáng tạo nổi bật, anh được phân công đảm nhiệm những cương vị trọng trách trong Hội Nhà văn Việt Nam rồi Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam trong nhiều nhiệm kỳ liên tục.
Không chỉ đoạt các giải thưởng văn học cao quý của Hội Nhà văn Việt Nam, Giải thưởng Nhà nước, Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - nghệ thuật, Giải thưởng văn học ASEAN… anh còn tỏ rõ biệt tài trong quản lý các phương diện của sự nghiệp văn học - nghệ thuật trên toàn đất nước: báo chí văn học nghệ thuật, tổ chức các trại sáng tác, đào tạo lực lượng trẻ kế cận trong văn học nghệ thuật; tăng cường hoạt động lý luận - phê bình theo định hướng xây dựng nền văn hóa tiên tiến, dân tộc, khoa học và nhân văn; xây dựng bảo tàng văn học phục vụ cho việc lưu giữ, bảo tồn, nghiên cứu và phát huy các giá trị của văn học Việt Nam đồng hành với lịch sử hào hùng của quốc gia nghìn năm văn hiến; tổ chức các hội thảo và giao lưu văn học nghệ thuật trong phạm vi quốc gia, quốc tế để mở rộng sự hội nhập của văn học nghệ thuật Việt Nam trên toàn cầu…
Có thể nói, với hoạt động không mệt mỏi của mình, trong nhiều năm với cương vị Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, Tổng Biên tập báo Văn nghệ, đại biểu Quốc hội khóa 10 và khóa 11, Bí thư Đảng đoàn Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam khóa 11, khóa 12... Hữu Thỉnh đã có những đóng góp xứng đáng, thúc đẩy tiến trình phát triển của sự nghiệp văn học nghệ thuật Việt Nam trong thời kỳ đổi mới để văn học nghệ thuật Việt Nam luôn luôn gắn bó với hiện thực đất nước, đời sống của nhân dân, góp phần xây đắp nền tảng tinh thần cao đẹp của xã hội, xây dựng con người mới, đất nước cường thịnh, dân chủ, nhân văn.
*
Gần 7 thập kỷ đã trôi qua, tôi vẫn luôn luôn trân trọng mối tình cảm bè bạn, đồng môn và đồng nghiệp đã gắn bó hai chúng tôi ngày càng khăng khít bền chặt.
Chúng tôi luôn chăm chú theo dõi các hoạt động của nhau, ủng hộ, động viên, cổ vũ nhau từng bước trưởng thành trên đường đời, đường văn, chia sẻ với nhau những niềm vui, thành công dù nhỏ, nhắc nhở nhau dè chừng tránh những sa sảy không đáng có.
Với tài năng thiên bẩm, Hữu Thỉnh noi gương các bậc tiền bối, đàn anh, bước vào làng văn chuyên nghiệp sớm hơn tôi, anh tỏa sáng rực rỡ, lại giữ những cương vị trọng trách quản lý sự nghiệp văn học nghệ thuật của đất nước, song anh rất giản dị, chân tình với bạn bè, đồng môn, đồng nghiệp, không hề có sự cách bức, quan dạng.
Anh cùng với Nguyễn Khoa Điềm, Hà Xuân Trường, Ma Văn Kháng... thúc đẩy tôi gia nhập Hội Nhà văn Việt Nam, chuyên ngành Lý luận - Phê bình văn học, từ những năm đầu công cuộc đổi mới. Anh cùng Họa sĩ Vũ Giáng Hương, GS. Hà Minh Đức ủng hộ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi chuyển vị trí công tác từ Viện Văn học sang Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, đảm nhiệm cương vị phụ trách tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam 15 năm liền, suốt từ 2006 đến 2021.
Anh khuyến khích, tạo điều kiện cho tôi và các cộng sự tạp chí nâng cao chất lượng, nội dung bài vở và hình thức trình bày tạp chí, sao cho hay hơn, đẹp hơn, vừa có giá trị khoa học lại đạt yêu cầu cao về thẩm mỹ, phát huy tác dụng của lý luận - phê bình trong đời sống văn học nghệ thuật với sự thẩm định của công chúng, trở thành chiếc cầu nối giữa nhà quản lý - tác giả văn nghệ sĩ và người đọc.
Hữu Thỉnh cùng Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam quan tâm hỗ trợ, tạo điều kiện cho tôi xuất bản, công bố các kết quả nghiên cứu, lý luận - phê bình mới hoặc tái bản các công trình khoa học đã in nay cần bổ sung để lại hiện diện đáp ứng yêu cầu của bạn đọc và đồng nghiệp. Trong số đó, có những tác phẩm được nhận tặng thưởng xứng đáng vì có những đóng góp mới trên phương diện nghiên cứu lý luận - phê bình văn học Việt Nam hiện đại và đương đại.
Tôi thầm nghĩ: Thật là hiếm có, như là được Trời cho, nên giữa Hữu Thỉnh và tôi trong ngót 7 thập kỷ qua đã duy trì mối quan hệ tốt đẹp “4 trong 1”: vừa là đồng môn trong những năm tuổi trẻ cắp sách đến trường, vừa là đồng đội trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước vĩ đại, cũng là đồng hương cùng sinh ra trên đất Tam Dương, Vĩnh Phúc và sau hết là bạn tri ân tri kỷ với văn chương - nghệ thuật và báo chí văn nghệ, luôn sát cánh bên nhau trong đội hình các chiến sĩ tiên phong trên mặt trận văn hóa, văn nghệ cách mạng.
Năm nay, Hữu Thỉnh đã vào tuổi ngoại 80, tôi thì cận kề tuổi bát thập. Anh và tôi trong nửa đầu năm 2025 này đã cùng nhau không hẹn mà nên, cho ra mắt những tác phẩm tiểu luận - phê bình tâm huyết của mình. Trong đó chúng tôi cùng đau đáu mối quan tâm đến tầm vóc tác phẩm qua lao động sáng tạo bền bỉ của các văn nghệ sĩ từ nguồn năng lượng trầm tích kết tinh cả một cuộc đời tận hiến cho nghệ thuật, thể hiện qua từng trang văn bản với những con chữ lấp lánh, biến ảo và ám ảnh, đa nghĩa; lôi cuốn người đọc bằng một bút lực sung mãn và bút pháp kiến tạo tài hoa, độc đáo, để đời.
Anh Hữu Thỉnh thân mến ơi, cầu mong tình bạn đồng môn, đồng nghiệp của chúng ta luôn gắn bó bền chặt, nở hoa, trường tồn vĩnh cửu.

Đó là khoảng năm 1956-1957. Nhà thơ Phạm Tiến Duật cùng mẹ sống ở quê là làng Hay, xã Đào Giã, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú...
Bình luận