Nhà văn Nguyễn Minh Châu, nhìn từ hai chặng đường sáng tác
Trong số không nhiều các tác gia văn xuôi hiện đại ở Việt Nam, Nguyễn Minh Châu là một trường hợp đặc biệt, bởi ông không chỉ thuộc về một kiểu nhà văn của chỉ một giai đoạn văn học.
Nguyễn Minh Châu không “làm lu mờ” các nhà văn cùng một khuynh hướng sáng tác như Nam Cao, Vũ Trọng Phụng - những tượng đài của chủ nghĩa hiện thực. Ông cũng chẳng khư khư một phong cách, cho dẫu quan điểm sáng tác đã “vận động” theo thời cuộc như tác gia lãng mạn Nguyễn Tuân. Nguyễn Minh Châu không “cạnh tranh” được với Nguyễn Khải, Tô Hoài để trở thành kiểu nhà văn mẫu mực của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa. Ông dĩ nhiên cũng không đại diện cho kiểu nhà văn hiện đại, hậu hiện đại với những đổi mới triệt để như Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái. Nhưng liệu có thể thiếu Nguyễn Minh Châu trong tiến trình văn học Việt Nam được chăng?

Nhà văn Nguyễn Minh Châu (1930-1989)
Giả sử thiếu Nguyễn Minh Châu, ai sẽ “đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa”; ai sẽ khẳng định lối viết dòng ý thức và hình thức độc thoại nội tâm trong nghệ thuật kể chuyện, để hướng văn học thay vì chú ý đến tập thể đã chú ý đến cá nhân? Một trào lưu, một giai đoạn văn học sẽ không vì khuyết thiếu một, hai tác giả mà bất thành. Song một chặng đường phát triển của văn học có thể sẽ khác đi nếu thiếu các tác giả giữ vai trò tạo đòn bẩy, là cầu nối cho các bước chuyển lớn.
Với cái nhìn như thế, Nguyễn Minh Châu rõ ràng đã có một vị trí hết sức đặc biệt trong sự vận động và phát triển của văn học Việt Nam hiện đại. Bởi, cùng với các tác phẩm không ngừng vận động, thay đổi về quan niệm, lối viết, Nguyễn Minh Châu trở thành tác giả - cầu nối giữa hai giai đoạn quan trọng của văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XX khi vừa là nhà văn trong thời chiến tranh chống Mỹ vừa là nhà văn của thời hậu chiến.
Có thể nói, Nguyễn Minh Châu đã đặt những nền móng trọng yếu cho sự phát triển của văn học sau 1975, đưa văn học Việt Nam vào giai đoạn “đổi mới” với những tác phẩm hiện đại, hậu hiện đại thật sự kể từ sau 1986. Trong chương trình Ngữ Văn ở bậc THCS và THPT, tác phẩm của Nguyễn Minh Châu có thể đồng thời xuất hiện ở cả hai giai đoạn: văn học thời kì chống Mỹ và văn học sau 1975 chính là bởi tác giả đã có nhiều đóng góp cho cả hai giai đoạn văn học này.
Với một sự nghiệp văn học kéo dài trong 3 thập kỉ (1960 - 1989), Nguyễn Minh Châu đặc biệt hơn nhiều tác giả cùng thời bởi ông thuộc về hai kiểu nhà văn ở hai giai đoạn khác nhau. Từ 1960 đến 1972, với Cửa sông (1967), Những vùng trời khác nhau (1970), Dấu chân người lính (1972), Nguyễn Minh Châu thuộc về kiểu nhà văn chiến sĩ khi ông vừa là người lính, vừa viết về chiến tranh, về đề tài người lính. Sau 1975, với Miền cháy (1977), Lửa từ những ngôi nhà (1977), Những người đi từ trong rừng ra (1982) Nguyễn Minh Châu đã bắt đầu quan tâm đến một hiện thực khác, một hiện thực của đất nước vừa ra khỏi chiến tranh và còn in đậm dấu vết của những năm tháng chiến tranh.
Có thể xem đây là giai đoạn chuyển tiếp của Nguyễn Minh Châu. Để rồi sau đó, trong vai một nhà văn hậu chiến, Nguyễn Minh Châu đã có những tác phẩm mở đầu cho một giai đoạn đổi mới của văn học Việt Nam, tính từ dấu mốc 1986, như Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1983), Bến quê (1985), Mảnh đất tình yêu (1987), Phiên chợ Giát (1988), Cỏ lau (1989).
Bài viết này sẽ nhận diện phong cách nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu, nhìn từ hai chặng đường sáng tác, trước và sau 1975.
Nguyễn Minh Châu, nhà văn trong chiến tranh
Trước 1975, các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu mang giọng chung của văn học giai đoạn 1965 - 1975, xem chủ nghĩa anh hùng cách mạng là linh hồn của mọi sáng tác, chủ yếu hướng đến phản ánh những vấn đề lớn lao, tiêu biểu cho cộng đồng (xoay quanh hai đề tài chính: đề tài chiến tranh và đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội), với nhân vật trung tâm là mọi tầng lớp nhân dân, là kiểu con người sử thi, con người tập thể.

Bộ ba tác phẩm trước 1975 (Cửa sông, Những vùng trời khác nhau, Dấu chân người lính) chính là những “sản phẩm” tâm huyết của Nguyễn Minh Châu, trong tư cách một nhà văn chiến sĩ, xem ngòi bút cũng là một công cụ phục vụ kháng chiến...
Bộ ba tác phẩm trước 1975 (Cửa sông, Những vùng trời khác nhau, Dấu chân người lính) chính là những “sản phẩm” tâm huyết của Nguyễn Minh Châu, trong tư cách một nhà văn chiến sĩ, xem ngòi bút cũng là một công cụ phục vụ kháng chiến... Và nếu Cửa sông viết về cuộc sống đoàn kết, gắn bó của nhân dân trong những ngày đầu chống Mỹ thì Dấu chân người lính lại dựng nên hình tượng những lớp thế hệ người lính can trường, ngời sáng trong những khắc nghiệt của chiến tranh.
Tập truyện Những vùng trời khác nhau cũng xoay quanh những hình ảnh vừa hào hùng vừa lãng mạn của chiến tranh và đặc biệt gây ấn tượng với các hình tượng nhân vật nữ vừa nhân hậu, nữ tính, vừa gan góc, kiên cường (các truyện ngắn Mảnh trăng, Nhành mai, Bà mẹ xóm nhà thờ…); thể hiện cảm hứng khẳng định, ngợi ca sức mạnh đoàn kết của dân tộc, của cuộc chiến tranh nhân dân, của công cuộc xây dựng cuộc sống mới hiện thực xã hội chủ nghĩa. Lúc này, hiện thực cuộc sống, hiện thực chiến tranh được soi chiếu dưới cái nhìn lạc quan, chất chứa niềm tin vào vẻ đẹp và sự tiến bộ của con người. Trong các tác phẩm được viết theo phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa ấy của Nguyễn Minh Châu, ngợi ca trở thành cảm hứng chủ đạo.
Có thể thấy rõ motif nhân vật lí tưởng, mang theo cái nhìn điển hình hóa cách mạng trong nhiều tác phẩm trước 1975 của Nguyễn Minh Châu. Hầu hết các nhân vật đều thấm nhuần lí tưởng thẩm mĩ của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và tiêu biểu cho vẻ đẹp lí tưởng của con người Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh (Dấu chân người lính, Những vùng trời khác nhau). Trong Mảnh trăng cuối rừng vẻ đẹp toàn vẹn của Nguyệt mang tính lí tưởng, đối lập với hoàn cảnh ác liệt của chiến tranh. Nguyệt như mảnh trăng cuối rừng lung linh vẫy gọi nhà văn đi tìm những hạt ngọc còn ẩn giấu bên trong tâm hồn con người. Nguyệt chính là hình ảnh tiêu biểu cho một lớp thanh niên trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước. Qua nhân vật Nguyệt, Nguyễn Minh Châu đã thể hiện thành công chủ nghĩa anh hùng cách mạng và khẳng định vẻ đẹp tâm hồn con người Việt Nam thời chống Mỹ.
Đó là chất lãng mạn của niềm tin và kì vọng của con người về tương lai và hiện tại đang đổi thay. Với bút pháp lãng mạn, tác phẩm của Nguyễn Minh Châu thường rất nên thơ (Suối nguồn, Nhành mai, Mảnh trăng...). Vẻ đẹp thơ mộng của thiên nhiên và con người đã đã làm mềm hóa cái ác liệt của chiến tranh, làm nhẹ bớt những nhọc nhằn, gian truân của con người trong thời chiến. Kết thúc của các tác phẩm cũng thường lạc quan khi khơi lên những tình cảm tốt đẹp, khi gieo vào người đọc những niềm tin về về cuộc sống, con người.
Có thể nói, tác phẩm trước 1975 của Nguyễn Minh Châu mang rõ đặc trưng thời đại khi nhìn những người lính, những người công nhân, những người lao động mới - nhân vật trung tâm của văn học chống Mỹ - từ cảm hứng lãng mạn cách mạng. Song, kể từ sau 1975, cùng với những vận động, biến chuyển của đời sống, các tác phẩm viết về đề tài chiến tranh và người lính của Nguyễn Minh Châu đã có nhiều đổi mới, gắn với một cái nhìn đa chiều kích. Với quan niệm, “Bước ra khỏi một cuộc chiến tranh cũng cần thiết phải có đầy đủ trí tuệ và nghị lực như bước vào một cuộc chiến tranh” (Miền cháy), Nguyễn Minh Châu đã có ý thức phải viết từ một tâm thức khác. Và với Miền cháy (1977), Lửa từ những ngôi nhà (1977) viết về những bỡ ngỡ, ngổn ngang của đất nước thời kì đầu hậu chiến; về người lính ở hậu phương với vô vàn những khác biệt so với cuộc sống chiến trường, Nguyễn Minh Châu đã bắt đầu chuyển sang một lối viết khác khi chú ý hơn đến đời sống nội tâm, đến kiểu con người đa diện, gắn với một Nguyễn Minh Châu - nhà văn thời hậu chiến.

Nguyễn Minh Châu, nhà văn thời hậu chiến
Chỉ với các tác phẩm viết về chiến tranh và người lính từ những năm 80 trở về trước, Nguyễn Minh Châu đã sớm xác lập được chỗ đứng trên văn đàn. Tuy vậy, đưa Nguyễn Minh Châu lên tầm một tác gia văn xuôi tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại phải là những tác phẩm tiên phong đổi mới ra đời trước và ngay sau dấu mốc 1986, khi Nguyễn Minh Châu đã trở thành nhà văn hậu chiến, một kiểu nhà văn mới, đối sánh với kiểu nhà văn chiến sĩ của những năm tháng chiến tranh. Và nếu Nguyễn Minh Châu ghi dấu tên tuổi của mình trong thời kì đầu của văn nghiệp chủ yếu nhờ tiểu thuyết, thì sau này, bằng truyện ngắn, truyện vừa... tác giả đã tự đưa mình sang đội ngũ của những nhà văn “đổi mới”, tiến dần đến xu hướng sáng tác của chủ nghĩa hiện đại.
Cuộc sống hậu chiến với muôn vàn ngổn ngang, bề bộn đã được tác giả lí giải từ chiều sâu thân phận, từ những góc khuất của tâm hồn con người. Có thể nhìn thấy sự đa dạng về đề tài, sự mở rộng của biên độ thể loại, sự thay đổi trong bút pháp trần thuật của Nguyễn Minh Châu qua các tập truyện Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1983), Bến quê (1985), Chiếc thuyền ngoài xa (1987), Phiên chợ Giát (1988), Cỏ lau (1989)… Chiến tranh và người lính vẫn được tác giả quan tâm, song đã được soi rọi từ những góc nhìn mới, gắn liền với số phận cá nhân, với những mất mát, đau thương, với nhập nhằng tốt xấu chứ không chỉ với những vẻ đẹp, những ánh hào quang của quá khứ
Với Chiếc thuyền ngoài xa (ra đời gần như cùng thời điểm với tiểu luận Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa), Nguyễn Minh Châu đã đề cập một hiện thực khuất sau những vẻ đẹp rực rỡ nếu chỉ nhìn phía xa, từ “điểm nhìn” bên ngoài. Tác giả cũng rất có ý thức “đối chứng” với những quan niệm phiến diện, cũ kĩ của thời kì trước
Ngay từ sau chiến tranh, với Bức tranh (viết năm 1976, công bố năm 1982) Nguyễn Minh Châu đã chất vấn lại quan niệm một thời về con người nhất phiến, về vẻ đẹp lí tưởng của người lính, về hiện thực muôn mặt của chiến tranh. Sự giằng co giữa cái thiện và cái ác, cái cao cả và cái thấp hèn, cái tập thể và cái cá nhân, cái được và cái mất… qua giọng điệu hoài nghi, chất vấn giàu triết lí ở Bức tranh, về sau, đã làm nên chất giọng riêng biệt, đậm chất “luận đề”, “đối chứng” trong lối viết hiện đại của Nguyễn Minh Châu.
Thật ra, các yếu tố hiện đại trong trong nghệ thuật tự sự không phải chỉ đến Nguyễn Minh Châu mới có. Và cũng không phải chỉ sau 1975, Nguyễn Minh Châu mới chú ý đến những vùng khuất trong tâm hồn con người. Tuy vậy, phải đến những truyện ngắn, truyện vừa giàu yếu tố tiểu thuyết với lối viết/yếu tố tự thuật, và đặc biệt là dòng ý thức như Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát, Cỏ lau… mới có thể khẳng định Nguyễn Minh Châu đã chạm đến kĩ thuật viết văn hiện đại và là người đổi mới sớm hơn cả nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn/tiểu thuyết ở Việt Nam kể từ sau 1975.
Với lối viết dòng ý thức, với kiểu trần thuật từ lời độc thoại, chú trọng tâm trạng, ý nghĩ của nhân vật, Nguyễn Minh Châu đã đem lại một kiểu sáng tác, một tư duy nghệ thuật mới so với quan niệm và phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, mở ra cơ hội khám phá cuộc sống và con người ở tầng sâu, thay thế cái nhìn giản đơn, một chiều trước đó.
Nói cách khác, Nguyễn Minh Châu đã đi từ nhận thức lại, “đối chứng” đến đối thoại với cả một nền văn học giai đoạn trước, trở thành “người mở đường tinh anh và tài năng đã đi được xa nhất” (Nguyên Ngọc) của một nền văn học hậu chiến. Từ những bức ảnh gợi nhắc quá khứ của những phận người, trong Cỏ lau, Nguyễn Minh Châu đã đan cài những mảnh ghép hiện tại - quá khứ của vùng đất Quảng Trị đầy mất mát trong và sau chiến tranh.
Chiến tranh lúc này còn gắn với những mất mát, éo le của đời người. Có thể nói, ưu tư về một khía cạnh khác của chiến tranh, Nguyễn Minh Châu đã dũng cảm nhận diện, đối chứng và đối thoại với quá khứ, với cả một cách nghĩ cách viết quen thuộc của một giai đoạn văn học trước đó bằng những hình thức trần thuật hiện đại với các lời độc thoại nội tâm, lời nửa trực tiếp hay hình thức luân phiên trần thuật từ ngôi thứ nhất với điểm nhìn bên trong, trần thuật bằng lời thoại...
So với các nhà văn cùng thế hệ, Nguyễn Minh Châu không chỉ đi sớm mà còn đi xa hơn trong đổi mới lối viết với kĩ thuật dòng ý thức. Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát… là các truyện ngắn cho thấy sự nhuần nhuyễn trong việc sử dụng lời độc thoại, lời nửa trực tiếp và nghệ thuật kể chuyện từ nhiều điểm nhìn, từ hình thức trượt điểm nhìn… cùng sự linh hoạt trong tổ chức thời gian, giọng điệu, ngôn ngữ trần thuật của Nguyễn Minh Châu.
Với lối viết hiện đại, Nguyễn Minh Châu đã khước từ việc nhìn nhận cuộc sống và con người một cách đơn giản, phiến diện. Nhà văn cũng đã chú ý đến khoảng cách giữa con người của thực tế đời thường và con người của khát khao, lí tưởng. Thủ pháp dòng ý thức chính là công cụ tuyệt vời để Nguyễn Minh Châu chạm đến những điểm không trùng khít ấy. Có thể xem Phiên chợ Giát là tác phẩm tiêu biểu nhất cho kĩ thuật viết hiện đại của Nguyễn Minh Châu.
Qua nhân vật lão Khúng (kiểu nhân vật có mối quan hệ nội văn bản với những tác phẩm khác của tác giả như Khách ở quê ra, Chợ Tết), Nguyễn Minh Châu đã cho thấy đời sống tinh thần của con người có thể phức tạp đến thế nào và ham muốn giải phẫu tâm hồn con người của tác giả. Lời tác giả, lời người kể chuyện, lời nhân vật đan cài, hòa trộn trong lời nửa trực tiếp, ý nghĩ, độc thoại của nhân vật chính là điểm nổi bật nhất, gắn với những tác phẩm “đổi mới” từ tư duy đến cách viết của Nguyễn Minh Châu.
Tác giả cũng đã “không ngại “xé rào” bước ra trò chuyện trực tiếp với người đọc” thay vì “kín đáo giấu mình trong tác phẩm” (Vương Trí Nhàn). Có thể nói, với chùm truyện ngắn, truyện vừa sau 1975 mang đậm tư duy tiểu thuyết ấy, thông qua hình thức tự thuật hoặc độc thoại nội tâm, “hình tượng tác giả”, con người nhà văn của Nguyễn Minh Châu với nhiều trăn trở về sáng tác phần nào đã được hiển lộ.
Có thể nói, Nguyễn Minh Châu chưa đi đến tận cùng của lối viết hiện đại chủ nghĩa. Tuy vậy, bằng những thực hành sáng tạo (chuyển từ phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa sang phương pháp sáng tác hiện đại chủ nghĩa), bằng các quan niệm, thông điệp nghệ thuật được lồng ghép qua lời nhân vật, lời người kể chuyện, bằng những dòng chảy ý nghĩ miên man về cuộc sống, con người đa dạng, đa diện… Nguyễn Minh Châu đã làm gạch nối cho hai giai đoạn văn học trước và sau chiến tranh. Sự chuyển đổi liền mạch chứ không đứt đoạn của hai thời kì văn học, với hai lối viết khác biệt trước và sau đổi mới ở Việt Nam có công lớn của Nguyễn Minh Châu trong vai trò “gối tiếp”.

Một số tác phẩm của nhà văn Nguyễn Minh Châu
Và bằng chính những thay đổi, vận động trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác, với các tác phẩm “lột xác” vào loại sớm nhất, Nguyễn Minh Châu đã từng bước khước từ lối viết cũ để khẳng định một lối viết hiện đại, mới mẻ, đòi hỏi cả một nền văn học phải vận động và đổi mới theo, chứng minh văn học hiện đại Việt Nam tất yếu sẽ phải chuyển mình theo quy luật vận động tất yếu của tiến trình văn học nhân loại. Và với việc nhắc đến ba tác phẩm được viết trong chiến tranh, ba tác phẩm của thời kì hậu chiến cùng tiểu luận Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa đánh dấu sự chuyển đổi quan niệm và lối viết của Nguyễn Minh Châu đánh, bằng thơ, Xuân Sách đúc kết về sự nghiệp và thành tựu văn học của Nguyễn Minh Châu hết sức thú vị: “Cửa sông cất tiếng chào đời/ Rồi đi ra những vùng trời khác nhau/ Dấu chân người lính in mau/ Qua miền cháy với cỏ lau bời bời/ Đọc lời ai điếu một thời/Tan phiên chợ Giát hồn người về đâu?”.
Bình luận