Thơ Trần Nhật Minh phận chữ của một “giai phố”

Trần Nhật Minh làm thơ từ khi còn là sinh viên khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (cái “lò” đã xuất xưởng không ít nhà thơ nồng danh khét tiếng trên thi đàn Việt Nam kể từ giữa thế kỷ XX đến nay). Ra trường, dấn thân vào hoạt động báo chí, anh vẫn làm thơ. Lên “sếp”, gánh trách nhiệm quản lý, anh vẫn làm thơ. Khi tỉnh táo cũng thơ mà lúc ngầy ngật hơi men lại càng thơ. Với Trần Nhật Minh, có lẽ, làm thơ không phải để cho sang, cũng không phải để cho vui hay để tìm kiếm sự khuây khỏa. Mà anh làm thơ như là một thực hành sống tự nhiên nhất trên đời: ghi nhanh những ý nghĩ chợt đến, bắt chụp sự vỡ òa của cảm xúc ngay ở cái thời điểm nó vừa xảy ra, và là cách tự đào sâu mình để nhận thấy mình nhiều hơn nữa.

 Nhưng trước hết cần phải nói đến nguồn gốc xuất xứ. Trần Nhật Minh là một “chuẩn giai phố” Hà Nội, nếu sinh sớm hơn khoảng chục năm nữa thì anh đã xứng với chữ “cao bồi già phố cổ” mà các nhà văn Đỗ Phấn, Nguyễn Việt Hà vẫn hay dùng. Điều này quan trọng: nó giúp ta hiểu vì sao trong thơ Trần Nhật Minh hầu như không có dấu vết của những tiếc nuối hay lưu luyến nhớ thương một cánh đồng, một lũy tre, một triền đê, một đường làng quanh co hay một dáng cò phân vân trong chiều quạnh..., tức những hình ảnh biểu tượng của làng quê mà các nhà thơ xuất thân từ làng vốn vẫn thường hay bám níu, thậm chí bằng trái tim da diết đau đớn.

Là giai phố, nên không gian đầu tiên, không gian thực của Trần Nhật Minh, chính là không gian phố. Không gian phố của thành phố bây giờ, thời hiện tại tiếp diễn, được anh trình hiện bằng những hình khối bạo liệt và thanh âm chát chúa: “…Băm nát ngã tư/ hỗn hào trăm ngả/ đèn xanh đèn đỏ nháo nhào/ xông lên chiếm mấy mét đường/ Còi hung hãn thốc sau lưng/ xe điên chồm chồm trước mặt/ mấy em váy cộc phừng phừng/ xiên qua tim đường/ õng ẹo/ Một rừng bụi thốc/ những tràng phụ khoa nheo nhéo tai người/ thành phố sục sôi một lò bát quái/ thiêu sống nụ cười” (Thành phố). Chính trong cái không gian hỗn tạp mà dù sao đi chăng nữa anh “vẫn không thoát khỏi vô can” ấy, là đứa con đứt ruột của phố, Trần Nhật Minh vẫn tinh tế nhận thấy những nét lặng trầm, mơ hồ, rất khó rõ nói lý do: “Bên thềm phố/ Một mảnh trai/ Nhìn hai chiều gió đổ/ Sông ngoài kia vô cớ thở dài” (Góc phố). Vẫn cảm nhận những khoảng mờ bí ẩn, lẩn khuất, như lạ như quen, nhưng rất đặc trưng của phố cũ còn sót lại tự thuở nào: “Tôi ngồi đầu ô/ vợi đêm mờ sáng/ sương khuya làn khói mơ hồ/ chợt thoáng bay qua mắt ướt/ ngỡ ai vừa nhận ra mình/ Đôi trẻ nép góc thềm/ ru nhau dưới đèn mờ mắt ngõ/ vài bạn tôi gật gù nói những gì không rõ/ thi thoảng lặng im/ thi thoảng bật cười” (Phố đợi).

Thơ Trần Nhật Minh phận chữ của một “giai phố” - 1

Nhà báo, nhà thơ Trần Nhật Minh.

Rồi Trần Nhật Minh đi làm báo, viết báo, cái nghề mà dẫu sao chăng nữa cũng tạo những điều kiện rất hữu ích để một giai phố Hà Nội được thỏa chí tang bồng, nay lên rừng mai xuống biển, đặt bàn chân quen trên những vùng đất lạ, đánh bạn với nhiều hạng người để mà thêm hiểu những vui buồn sướng khổ, nụ cười và nước mắt của lắm kiếp nhân sinh trong cõi.

Niềm háo hức “dấn thân vào đời” được Trần Nhật Minh thể hiện rất rõ trong những bài thơ (có lẽ) anh viết thuở hoa niên, lúc huyết khí đang phương cương sung mãn. Ở mảng thơ này, Trần Nhật Minh mạnh mẽ, hào sảng, câu chữ bung nở bất chấp sự chặt chẽ cần thiết của cái gọi là thi tứ. Đây là vài câu trong một bài thơ “lên núi”: “Dốc nghiêng ào ạt gió/ Đất và trời giao hoan/ Bếp hồi sinh lửa đỏ/ Rượu pha sương nồng nàn/ Hẹn một mùa tri kỷ/ Trên nẻo ngút ngàn mây/ Núi thênh thang mở lối/ Cho lòng nhau sum vầy” (Pha Đin). Và đây, vài câu trong một bài thơ “Nam tiến”, đánh dấu khoảng thời gian anh công tác ở vùng đồng bằng sông Cửu Long: “Khi tôi đến miền Tây thức dậy lâu rồi/ Từng giọt phù sa đồng bằng nhấp nháy/ Nắng mới nhìn tôi những thế kỷ xa xôi/ Chợt gần gũi thuở hồng hoang mở cõi/ Tôi thênh thang chạm tới chân trời/ Tôi mải mê cuốn theo những triền sông/ Bàn tay thèm được hằn vết chai thấm vào bùn đất/ Lớp lớp kiếp người mầm sống mọc lên/ Như tràm đước qua thăng trầm được mất” (Miền Tây).

Đọc bài Miền Tây, một cách khách quan, dễ thấy sự vương vất của giọng điệu thơ mang tính khái quát hóa cao, giọng điệu sử thi mà Chế Lan Viên, Nguyễn Khoa Điềm, Lưu Quang Vũ - gần đây là Nguyễn Việt Chiến - từng khá thành công mỗi khi viết về những thực thể thiêng liêng như Tổ quốc, Đất nước, Nhân dân.Nhưng có lẽ Trần Nhật Minh không cố học theo các thi sỹ tiền bối, đàn anh, mà đây là sự run rẩy kính ngưỡng chân thành, những nhịp đập bộc phát của trái tim anh khi lần đầu tiếp xúc với vùng châu thổ rộng lớn miền Nam, một phần máu thịt của đất nước, thành quả ngọt ngào mà bao lớp người mở cõi đã khổ cực làm nên. Miền Tây sẽ còn trở lại nhiều lần trong thơ Trần Nhật Minh giai đoạn sau này, trong bài Thư miền Tây chẳng hạn, như một nỗi nhớ da diết, một món nợ nghĩa tình dằng dịt, và chính vì thế mà vùng đất ấy lại càng làm phát lộ ở Trần Nhật Minh, với tư cách một người làm thơ, cái chất đa cảm và dễ cảm rất đặc trưng.

Nhưng không phải bao giờ cũng vẹn nguyên những tình cảm háo hức say mê ấy. “Năm tháng cay đắng hơn” thì chắc, nhưng chưa chắc “năm tháng ngọt ngào hơn”. Sự ma chiết của thời gian trên sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần, những nhọc nhằn của đời sống cơm áo gạo tiền, những cứng nhắc của các loại công việc hành chính quan phương đè lên bản tính phóng túng và nhạy cảm của người nghệ sỹ, và nhiều nỗi khó chịu luẩn quẩn khác nữa... tất cả những điều ấy rồi sẽ, và thực tế là đã, làm hình thành trong thơ Trần Nhật Minh một mảng trộn lẫn giữa những bức bối, chán chường, thậm chí u uất, cay đắng.

Nhận xét dễ dãi, thì nói rằng đó là thái độ sống bi quan, tiêu cực. Nhưng nhận xét cẩn trọng, thì nên thấy rằng đó là thái độ mỹ học có thể cho nhà thơ cơ hội phát hiện những bất thường nghệ thuật đáng giá. Như khi Trần Nhật Minh nhìn vào mắt của những con cá và thấy bi kịch của chúng: “Kìa những con mắt cá/ Mở trừng hướng biển khơi/ Cá khóc nước mắt đắng/ Trên bờ đau nghẹn lời/ Kìa những linh hồn cá/ Oán hờn giữa biển sâu/ Cá khóc đại dương đói/ Giữa chớp giông nguyện cầu/ Kìa bạc đời như cá/ Xác vùi trong cát nghèo/ Kiếp này rồi kiếp khác/ Hồn nhằm cột buồm treo” (Nước mắt cá).

Và điều đặc biệt nữa, về phương diện này trong thơ Trần Nhật Minh, là có lúc anh chợt nhận ra sự cùn mòn, trơn chuội, trơ khấc, hoặc phù phiếm và dối trá của chữ/ ngôn ngữ trong hành vi nói/ viết của tha nhân hoặc của chính mình, như: “Khi cuộc bàn tròn còn chưa ráo mực/ Nghe ngoài cửa sổ/ Bọn chim líu lo/ Rủ rê vào một cuộc hót mừng/ Tôi xếp hàng/ Chờ đến lượt mình/ Để được hót những lời vay mượn/ Rồi chờ mãi/ gục xuống/ Những dấu chân chồng lên nhau/ Không khoan nhượng” (Hót). Hoặc: “Tôi bị cầm tù/ Trong ngôn từ rỗng tuếch/ Những trang giấy luống cày/ Không hạt chữ phì nhiêu/ Miền đất hoang/ Mối mọt xông sách vở giáo điều” (Thoát). Một cái nhìn mang tính phản tỉnh nghiêm khắc như thế cũng dễ đẫn đến một thái độ tự trào về hành vi nói/ viết, mở rộng ra là hoạt động trên chữ, với chữ của chính mình, trong đó có việc viết báo, làm thơ: “Tôi seophi thơ tôi/ tự sướng những câu để đời/ tự xếp vào hàng bán chạy/ đêm đêm chong đèn đọc đi đọc lại/ “thơ này phải xuất thị trường/ cho thiên hạ biết tỏ tường về thơ”/ Rồi người ta in/ và thiên hạ đồng loạt lấy tôi làm bia đỡ đạn/ tên tôi cả làng nhớ/ còn bài thơ, im ỉm lặng chìm” (Seophi).

Thơ Trần Nhật Minh, xét về tổng thể, đằm thắm hơn cả là khi anh viết về cha mẹ mình. Một người mẹ lành như bà vãi trên chùa: “Mẹ thuộc về im lìm sợi khói/ Lặng lẽ bay quanh bếp ấm nhà mình/ Tiếng mõ gõ đều trong cõi lặng thinh/ Trời rét giá sương sa nhòa tóc mẹ” (Thư gửi mẹ). Một người cha nghe bằng đôi mắt: “Đôi mắt nhìn âm thanh/ Mực quên lãng bừng từng con chữ/ Nghe nắng reo bóng lá/ Nhìn mưa rơi thấu tiếng đất trời” (Cha nghe bằng đôi mắt). Dường như bao nhiêu mạnh mẽ hào sảng, bao nhiêu ngùn ngụt say mê, bao nhiêu chán chường cay đắng... đều tan biến hết khi Trần Nhật Minh viết về cha và mẹ. Để chỉ còn là kính trọng, thương yêu, tin tưởng hết lòng. Có lẽ, đó cũng là một trong những dòng mạch nguồn cội để anh được tưới tắm lại, lành lại, lấy lại sức mạnh tinh thần bước tiếp vào ngày mới - “Ngày mới”, nhan đề một bài thơ của Trần Nhật Minh - sau những tan hoang âm thầm của ngày cũ. Và lại làm thơ, những bài thơ trữ tình lãng mạn như phơi mở lòng mình, bằng chữ, thật hồn nhiên giữa cuộc đời, không làm dáng triết lý, không đánh đố bí hiểm.

Hoài Nam

Tin liên quan

Tin mới nhất

Lịch thi đấu tennis đơn nam Australian Open 2026 mới nhất

Lịch thi đấu tennis đơn nam Australian Open 2026 mới nhất

(Tin thể thao, tin tennis) Lịch thi đấu đơn nam Australian Open 2026 (từ 18/1 tới 1/2 tại Úc) chính thức được công bố, hứa hẹn nhiều cuộc so tài đỉnh cao ngay từ vòng đầu. Người hâm mộ sẽ được theo dõi hành trình của các ngôi sao lẫn những tài năng trẻ đầy triển vọng.

Kết quả thi đấu tennis đơn nam Australian Open 2026 mới nhất

Kết quả thi đấu tennis đơn nam Australian Open 2026 mới nhất

(Tin thể thao, tin tennis) Australian Open 2026 khởi tranh tại Melbourne từ 18/1-1/2, hứa hẹn mang đến cuộc đua khốc liệt ở nội dung đơn nam. Người hâm mộ đang chờ đợi những cú sốc, màn bứt phá của thế hệ trẻ và hành trình bảo vệ ngôi vương của Sinner.

Nữ số 1 thế giới phá kỷ lục độc lạ của Djokovic, huyền thoại Serbia thất vọng

Nữ số 1 thế giới phá kỷ lục độc lạ của Djokovic, huyền thoại Serbia thất vọng

Aryna Sabalenka tiếp tục thể hiện phong độ hủy diệt tại Australian Open khi lọt vào tứ kết Grand Slam lần thứ 13 liên tiếp. Đáng chú ý, tay vợt số 1 thế giới còn phá kỷ lục thắng tie-break tại các giải Grand Slam vốn thuộc về Novak Djokovic, khiến tay vợt người Serbia phải lên tiếng “than thở” đầy hài hước.