Văn hóa bay theo đường dân tộc đang bay (Tiếp cận Nghị quyết 80-NQ/TW về văn hóa)
“Văn hóa soi đường cho quốc dân đi” (Chủ tịch Hồ Chí Minh)
Bay theo đường dân tộc đang bay (in trong tập thơ Ta gửi cho mình, NXB Văn học, 1986) là thi phẩm nổi tiếng của nhà thơ Chế Lan Viên. Bài thơ được kiến thiết trên một cấu tứ có tính khái quát cao độ: Nghệ thuật chân chính bao giờ cũng đập cùng nhịp thở với đời sống dân tộc trong mỗi thời đại lịch sử khác nhau “Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau/ Nhưng hào kiệt thời nào cũng có” (Nguyễn Trãi). Năm 2025, đất nước Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Trong bối cảnh mới, văn hóa được xác định là một trong bốn trụ cột kiến trúc xã hội (chính trị - kinh tế - xã hội - văn hóa) phát triển bền vững: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, tiến bộ, văn minh. Từng có một nhà thơ cảm khái với cảnh ngộ “Tôi khóc những chân trời không có người bay/ Lại khóc những người bay không có chân trời” (ngụ ý chỉ tình cảnh thiếu tự do sáng tạo cho nghệ sĩ). Song le, thực tiễn chứng minh, những tài năng thực sự bao giờ cũng tự mình tạo ra chân trời mới để bay. Họ cũng tự ý thức được sâu sắc chẳng nên nỉ non ngồi chờ ai khóc thương hộ mình.

Ảnh minh họa.
Nghị quyết 80 - NQ/TW thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam về văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng khi “Trái đất là ngôi nhà chung của thế giới”, “Ngoài trời còn có trời”. Giới hoạt động văn hóa, văn học nghệ thuật Việt Nam trong thời điểm đặc biệt hôm nay có cơ hội nhận thức sâu sắc hơn về “dư địa” của văn hóa dân tộc trong bối cảnh thế giới mở, quốc gia đột phá trỗi dậy với khát vọng trở thành một con rồng châu Á, bay lên không chỉ nhờ vào hai con số của tăng trưởng, của những tập đoàn kinh tế tầm cỡ thế giới, hay những phát minh khoa học làm rung chuyển toàn cầu mà chủ yếu (nếu có) nhờ vào các giá trị văn hóa với truyền thống dân tộc hun đúc hàng ngàn năm “Như nước Đại Việt ta từ trước/ Vốn xưng nền văn hiến đã lâu” (Nguyễn Trãi). Những mục tiêu cao cả ấy không phải là không có cơ sở hiện thực thuyết phục. Vấn đề cốt tử là chúng ta có đủ trí tuệ, sức lực và lòng dũng cảm để bay lên trên con đường tương lai?!
Bốn “đường bay” lớn của văn hóa theo “đường bay” của dân tộc
Tiếp cận văn bản Nghị quyết 80-NQ/TW về văn hóa, trong sự đối chiếu và so sánh với các Nghị quyết trước đây (chẳng hạn gần nhất Nghị quyết 33-NQ/TW), những người làm công tác văn hóa, văn học nghệ thuật không thể không quan tâm đến những quan điểm khai mở, khai thông căn cốt và chính yếu có tính chất nền tảng chiến lược, định hướng lâu bền khi văn hóa được quan niệm như “hệ điều tiết” của phát triển nhanh và bền vững; “văn hóa như một hệ sinh thái” nhằm giải phóng năng lượng sáng tạo; “văn hóa định trục cho phát triển bền vững”; “văn hóa trở thành sức mạnh mềm” của quốc gia.
Theo nhận thức chung của giới hoạt động văn hóa, văn học nghệ thuật thì đây chính là bốn đại lộ, bốn đường bay lớn của văn hóa bay theo đường bay của dân tộc. Khi văn hóa được xác định là “hệ điều tiết” của phát triển nhanh và bền vững, tương ứng với cách ví von “kinh tế là tay ga, văn hóa là tay phanh”. Có thể nói, quan điểm này mang tính đột phá về văn hóa, từ đề cao vai trò dẫn dắt đến vai trò điều tiết của văn hóa như một phạm trù phổ quát, bao trùm.
Chẳng hạn, trong yêu cầu tăng trưởng kinh tế nhanh và mạnh đạt tới hai con số trong tương lai gần, chúng ta kiên quyết không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế. Bởi khái niệm/ phạm trù “xanh” đang phủ sóng, thấm vào tận chân tơ kẽ tóc của tất cả các lĩnh vực hoạt động xã hội (môi sinh xanh, y tế xanh, kinh tế xanh, công nghiệp xanh, nông nghiệp xanh, giao thông xanh, giáo dục xanh....). Ngay văn học xanh cũng đang vẫy gọi, kích thích sáng tạo của nhà văn hướng tới “con người là một phần của tự nhiên” (những áng văn điển hình như Sống mãi với cây xanh của Nguyễn Minh Châu, Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp, Người bay trong gió xanh của Phạm Duy Nghĩa...).
Khi xác định “văn hóa như một hệ sinh thái” (một hệ thống mở, có tính quần xã/cộng sinh) là nói đến vai trò kích hoạt, giải phóng năng lượng sáng tạo các giá trị vật chất và tinh thần theo quy luật chân - thiện - mỹ. Năng lượng sáng tạo thuộc về tiềm năng, nó là tài sản, cái vốn văn hóa có tính pháp định, nhưng cần được khai phóng triệt để tạo nên lợi ích hữu dụng phục vụ nhu cầu đời sống có chất lượng của nhân dân. Hệ sinh thái mới của văn hóa, văn học nghệ thuật cần được mở rộng biên độ, giao diện trước yêu cầu thụ hưởng chân chính của quảng đại quần chúng. Trong hệ sinh thái này có sự hài hòa, bổ trợ giữa folklore (văn hóa dân gian) và văn hóa thời đại, giữa văn hóa bản địa và văn hóa thế giới theo tinh thần tiếp biến đúng đắn và có hiệu quả.
“Văn hóa định trục cho phát triển” được hiểu là một xã hội phát triển bền vững khi có chân tủy văn hóa hiện thực, vì phát triển văn hóa gắn với phát triển kinh tế và phát triển xã hội, là quá trình tất yếu, hướng đích của mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn mình”. Văn hóa là định trục cho phát triển bởi đó là nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh cho phát triển nhanh và bền vững.
Bốn đường bay lớn của văn hóa tập trung hoàn hảo trong phẩm chất tối cao khi “văn hóa là sức mạnh mềm” của quốc gia, theo triết lý truyền thống “nhu thắng cương”. Sức mạnh mềm tạo nên nội lực, tiềm năng của văn hóa không chỉ trong phạm vi bản địa mà mở rộng kích tấc ra một giao diện rộng lớn hơn trong khu vực và toàn cầu, theo quan điểm và lý thuyết “địa - văn hóa” luôn song trùng với “địa - chính trị”. Nhiều nước ở khu vực Đông Bắc Á (như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc) thực sự kiến tạo được những sức mạnh mềm quốc gia thông qua các lĩnh vực của văn hóa như văn học, âm nhạc, điện ảnh, thời trang... Đặc biệt người Nhật đã tạo nên được một tấm gương của lối sống tối giản (nếu hiểu văn hóa là cách sống cùng nhau) theo quy luật “cái đẹp là sự giản dị”, thực sự có sự ảnh hưởng lớn ra thế giới.
Tận cùng văn hóa là con người
Chúng ta đang có cách quan niệm, cách nói mới về tài nguyên của đất nước không phải chỉ là tài nguyên thiên nhiên (rừng vàng biển bạc, ruộng đồng thẳng cánh cò bay, đất đai phì nhiêu, sản vật tự nhiên tươi tốt bốn mùa...), mà là con người của một quốc gia thuộc hàng cường quốc dân số (chạm mốc 102 triệu dân, tính đến năm 2025), như là nguồn tài nguyên chính, giàu tiềm năng, nền tảng của phát triển bền vững. Nguồn nhân lực con người là một trong ba điểm nghẽn hiện nay cần được khai phóng, tiềm năng con người cần được kích hoạt cấp số nhân, hiện thực hóa cả theo bề rộng, cả theo chiều sâu.
Trong phạm trù văn hóa thì người sáng tạo sản phẩm văn hóa tất nhiên là nhân tố then chốt, là chân tủy tạo nên các giá trị tinh thần và vật chất theo quy luật của cái đẹp. Nhưng người quản lý văn hóa, theo chúng tôi, hiện là một khâu đột phá, một thách thức cần vượt qua trong bối cảnh hiện nay. Họ thường bị hạn chế bởi mặc cảm về vị thế thiệt thòi của mình trong hệ thống quản lý nhà nước so với các lĩnh vực hoạt động xã hội khác.
Nhìn sâu vào nguồn nhân lực này (từ phương diện quản trị văn hóa) sẽ nhận ra vai trò dẫn dắt của họ trong thực tiễn xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Ở họ đòi hỏi cả tâm và tầm (nói theo cách trước đây là hồng thắm chuyên sâu). Khi nói đến nguồn nhân lực văn hóa, theo quan điểm biện chứng, cần thiết phải nói đến người thụ hưởng - công chúng nghệ thuật - trong hoàn cảnh mới. Không thể có một công chúng tự phát làm nền tảng cho một nền văn hóa, văn học nghệ thuật phát triển theo quy luật của chân - thiện - mỹ. Đại văn hào Nga M. Gorki từng khẳng định “Công chúng nghệ thuật cũng cần được giáo dục tốt”.
Con đường tương lai của văn hóa dân tộc tùy thuộc trước hết vào con người mới được xác định như là những nhân cách văn hóa hoạt động trong những không gian văn hóa nhân văn - những chân trời sáng tạo.

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã lấy điểm tựa văn hoá vững chắc để xây dựng nền độc lập:...
Bình luận