Ký ức 45 năm “làng báo huyện” xứ Thanh
Có một thời tuổi trẻ được viết bằng tiếng kẻng trường, mùi đất nung và những chuyến đi gieo con chữ cho quê hương… Bốn mươi lăm năm một quãng thời gian đủ để những mái đầu xanh phủ màu sương bạc. Đủ để những con đường đất năm nào hóa thành phố thị đông vui. Và cũng đủ để những người từng gọi nhau bằng hai tiếng “Bạn học” bước qua gần trọn một đời người, nhưng lạ thay có những ký ức không chịu già đi chỉ cần gặp lại nhau, chỉ cần một cái nắm tay lâu hơn thường lệ, một ánh mắt nhận ra nhau giữa đám đông tuổi tác, là cả một miền thanh xuân bỗng trở mình thức dậy - nguyên vẹn như mới hôm qua.
Tháng 2 năm 1981, khi đất nước vừa đi qua chiến tranh chưa lâu, những vết thương vẫn còn âm ỉ khắp làng quê, huyện thị và trong lòng người. Bước qua chiến tranh cuộc sống còn nhiều thiếu thốn bộn bề với nỗi lo cơm áo, cho công cuộc hàn gắn đất nước sau chiến tranh và dựng xây đất nước.
Ở xứ Thanh khi ấy, phương tiện truyền thông còn vô cùng đơn sơ, chưa có truyền hình huyện như bây giờ, chỉ có những chiếc loa truyền thanh treo đầu làng, những bản tin phát qua làn sóng phát thanh tỉnh, những tiếng đọc mộc mạc nhưng là nhịp đập thông tin của đời sống. Đảng cần tiếng nói của Nhân dân, Nhân dân cần tiếng nói của Đảng, nhưng đội ngũ làm công tác tuyên truyền ở cơ sở lại đang thiếu hụt. Trước yêu cầu của thời cuộc ấy, lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa đã nhìn thấy một nhu cầu cấp thiết: Phải xây dựng đội ngũ những người làm báo phát thanh cho các huyện, thị xã trong tỉnh, những người sẽ mang chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến tận từng thôn xóm, từng bản làng.
Tháng giêng năm 1980, Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa có công văn gửi Ủy ban Phát thanh - Truyền hình Việt Nam đề nghị xin mở lớp Phóng viên - Biên tập phát thanh cho tỉnh Thanh Hóa. Sau một năm tuyển chọn, những cán bộ tuyên truyền ở các cơ quan tỉnh, huyện, thị xã, những thanh niên có năng lực, con em ngành phát thanh, những người vừa rời chiến trường và những chàng trai cô gái học xong cấp 3 bước lên từ ruộng đồng lam lũ… Tất cả như những dòng suối nhỏ, từ nhiều miền quê xứ Thanh, cùng chảy về một mái trường.

Nhà báo Lê Xuân Thu và Nhà báo Nguyễn Thanh Vân, 2 thầy giáo chụp ảnh với sinh viên Lớp Phóng viên - Biên tập Phát thanh, tháng 10/1984
Ngày 20 tháng 2 năm 1981, tại xã Quảng Thắng, thị xã Thanh Hóa.Trường Đảng Hoàng Văn Thụ tổ chức khai giảng lớp Phóng viên - Biên tập Phát thanh khóa 10 với 66 học viên đến từ khắp các huyện, thị xã trong tỉnh. Ngày ấy không ai biết rằng lớp học giản dị ấy rồi sẽ trở thành một “làng báo huyện” đặc biệt của xứ Thanh - nơi sản sinh ra những người làm báo ở cơ sở đầu tiên, những “cánh chim đầu đàn” của hệ thống phát thanh huyện nhiều năm sau.
Trong lễ khai giảng hôm ấy, Hiệu trưởng Trường Đảng Hoàng Văn Thụ - ông Bùi Sỹ Miên đã gửi gắm một câu nói như lời tiên đoán cho tương lai:“Các bạn sau này sẽ là những viên gạch xây dựng nên đội ngũ làm báo của tỉnh Thanh Hóa”.
Những ngày đầu tựu lớp, chúng tôi đến với Trường Đảng tỉnh bằng những hành trang nghèo khó của một thời bao cấp. Có người đạp xe hàng chục cây số, có người mang theo chiếc ba lô bạc màu chiến trận, có người vẫn còn nguyên dáng vẻ chân lấm tay bùn của đồng đất quê nhà. Tuổi trẻ chúng tôi ngày ấy không có nhiều lựa chọn, nhưng ai cũng mang trong tim một niềm tin rất lớn: Được học tập để trở thành người cán bộ tuyên truyền phục vụ quê hương là điều vinh dự. Cánh cổng Trường Đảng Hoàng Văn Thụ mở ra như một chân trời mới, những bài học đầu tiên về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, những giờ học Triết học Mác - Lênin, Kinh tế chính trị, lịch sử cách mạng, lý tưởng phụng sự Nhân dân. Đó không chỉ là chuyện học chữ mà là học cách đứng vững giữa cuộc đời, học cách nhìn đất nước bằng trách nhiệm, học cách làm người trước khi làm nghề.
Những học viên năm ấy đến từ nhiều hoàn cảnh, trình độ khác nhau, sự tiếp thu kiến thức không đồng đều, nhưng điều quý giá nhất là không ai chán nản, trong ký ức của những học trò năm ấy, bóng dáng các thầy cô vẫn luôn hiện lên bằng sự tận tụy, kiên nhẫn và yêu thương của thầy Khánh, thầy Khanh, Chủ nhiệm lớp khóa 10 và các cán bộ giảng dạy của trường Đảng tỉnh, sự dìu dắt âm thầm ấy đã giúp một lớp học còn nhiều bỡ ngỡ dần đi vào nền nếp để rồi từng ngày, từng tháng những người trẻ tuổi năm nào bắt đầu trưởng thành không chỉ bằng tri thức mà bằng bản lĩnh và bằng một tình bạn được hun đúc từ những tháng năm gian khó.
Sau hai năm (1981-1982) học chính trị tại Trường Hoàng Văn Thụ, chúng tôi bước vào một chặng đường khác với một mái trường mới một hành trình mới.
Đó là những năm 1983-1984, chúng tôi học nghề tại Trường Kỹ thuật Truyền thanh Thanh Hóa có địa chỉ tại xã Quảng Thọ, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, nơi chúng tôi bắt đầu học cách làm báo.
Những năm đầu thập niên tám mươi, cuộc sống còn nghèo lắm, nghèo đến mức một bữa cơm nhà bếp có thêm chút cá khô, miếng thịt đã là vui. Ngày ấy, sinh viên chúng tôi sống trong thời bao cấp, ở trọ nhà dân, không điện thoại, không quán xá, không có những tiện nghi như đời sống hôm nay, lớp học chỉ là những dãy nhà lợp cọ lộng gió, sinh viên chúng tôi lên lớp với những chiếc áo quần đôi khi còn miếng vá.
Tuổi trẻ ngày ấy không có nhiều để nhớ, nhưng điều lạ lùng là, khi đi hết một đời người, lại chẳng thể quên được điều gì. Có một âm thanh mà đến tận bây giờ, chỉ cần ai đó vô tình nhắc lại, ký ức trong mỗi người như bỗng ngân rung đó là: Tiếng kẻng, leng keng báo giờ lên lớp, vang lên giữa trưa báo giờ cơm nhà bếp và cả tiếng kẻng chiều muộn tan học, sau bốn mươi lăm năm vẫn còn ngân lên âm thanh ấy trong hồi ức tuổi thanh xuân.
Một thời nghèo khó nhưng đầy tiếng cười, ngoài giờ học, chúng tôi còn cùng nhau lao động giúp dân. Những mùa lúa chín vàng trên cánh đồng xã Quảng Châu, Quảng Thọ huyện Quảng Xương quê nhà, những hình ảnh ấy vẫn còn in nguyên trong ký ức. Giữa cái nắng chang chang của tháng 5, tháng 10, những chàng trai, cô gái “Làng báo huyện tương lai” xắn quần xuống ruộng với bàn tay còn vụng về với liềm, hái lẫn tiếng cười giòn tan cả cánh đồng. Cũng từ những công việc này mà chúng tôi học được nhiều hơn một bài học từ lao động về người nông dân nhỏ mồ hôi làm nên hạt lúa. Có lẽ một người làm báo tốt không bắt đầu từ cây bút mà bắt đầu từ việc biết cúi xuống với đất ngửng lên với trời và nhìn cuộc đời một cách sâu hơn. Nhưng điều tôi muốn nói là ký ức sâu nhất của khóa học ngày ấy đó là: Những lò gạch đỏ lửa.
Một thời gian khó, trường lớp còn nghèo, những lớp học nhà tranh vách cót, mọi thứ đều thiếu thốn, phòng học còn sơ sài. Những bàn tay vốn quen cầm bút bắt đầu chai sần vì cuốc xẻng, những bộ quần áo học trò lấm lem bùn đất giữa những ngày mùa đông giá rét cắt da, nhưng chẳng ai bỏ cuộc. Sinh viên chúng tôi cùng thầy cô bắt tay vào lao động, đào đất nhào bùn, đóng gạch xếp lò, canh lửa. Rồi những lò gạch đầu tiên đỏ lửa, những viên gạch đỏ au lần lượt ra lò, cả trường như vỡ òa niềm vui.
Trong một buổi chào cờ, thầy Hiệu trưởng Đỗ Văn Liễn đã xúc động biểu dương: “Sinh viên lớp Phóng viên - Biên tập, mỗi người là một viên gạch hồng xây nên mái trường Kỹ thuật Truyền thanh…”. Một câu nói giản dị nhưng theo chúng tôi suốt cả cuộc đời, những lớp học mới mọc lên từ chính những viên gạch từ tuổi trẻ chúng tôi giản dị mà ấm áp với niềm tin : “Mình đang dựng nên mái trường cho chính mình” ở đó những học viên “báo làng” bắt đầu chạm tay vào nghề nghiệp của mình.
Nếu bốn năm học tập là một dòng sông tuổi trẻ, thì những người thầy chính là những người âm thầm chèo lái con thuyền tri thức đưa chúng tôi đi tới bến bờ nghề nghiệp. Lớp chúng tôi may mắn được những người thầy giàu tâm huyết, những nhà báo đến từ Đài Tiếng nói Việt Nam. Những kiến thức của nhà báo Nguyễn Thanh Vân, nhà báo Lê Xuân Thu vẫn còn đọng mãi trong ký ức nhiều người. Mỗi bài học về viết tin, biên tập hay xử lý một sự kiện thời sự không đơn thuần là kỹ năng nghề nghiệp, mà còn là bài học về trách nhiệm của người cầm bút trước nhân dân và cuộc sống.
Cùng với đó là những buổi lên lớp tận tình của thầy Lê Văn Chước, người đã gieo vào chúng tôi sự cẩn trọng trong từng câu chữ, sự tỉnh táo trước mỗi thông tin và bản lĩnh của người làm báo phát thanh - nghề của tiếng nói nhưng cũng là nghề của niềm tin. Thầy Trần Văn Thậm - chủ nhiệm của lớp, người dạy văn hóa - xã hội. Ở thầy có sự nghiêm khắc của một nhà giáo, sự bao dung, gần gũi như một người anh của những đứa trẻ xa nhà. Thầy không chỉ dạy kiến thức, thầy dạy chúng tôi cách sống, dạy sự tử tế trong ứng xử, dạy trách nhiệm trước cộng đồng và hơn hết dạy chúng tôi rằng: Để làm báo tốt, trước tiên phải là người biết yêu con người và biết lắng nghe cuộc đời. Có những bài giảng của thầy hôm nay chúng tôi không còn nhớ hết từng câu chữ nhưng cách thầy nhìn học trò bằng ánh mắt bao dung, những lời nhắc nhở chân thành, sự tận tụy âm thầm của người thầy theo chúng tôi suốt cả cuộc đời.
Ngoài chương trình học chuyên môn, chúng tôi còn được tiếp cận nhiều chuyên đề ngoại khóa quý giá, những giờ học về an ninh - quốc phòng do Đại tá Hoàng Ngọc Nhất, Phó Giám đốc Sở Công an Thanh Hóa giúp những phóng viên tương lai hiểu thêm trách nhiệm công dân, trách nhiệm nghề nghiệp giữa những biến động của đời sống xã hội. Những buổi thực hành sử dụng máy ảnh, máy ghi âm với thầy Lê Thế Phụng, thầy Nguyễn Văn Hoàng mở ra trước mắt chúng tôi cả một thế giới mới của nghề báo phát thanh - nơi từng âm thanh hiện trường, từng tiếng nói, hình ảnh bình dị đời thường cũng có thể trở thành chất liệu của báo chí. Lần đầu tiên chúng tôi hiểu rằng: Một người làm báo không chỉ biết viết mà còn phải biết lắng nghe, biết đi, biết sống cùng nhịp đập của xã hội, biết mang hơi thở của cuộc sống vào từng dòng tin, bài trên phát sóng phát thanh.
Rồi những chuyến thực tập tại cơ sở, những ngày theo chân các anh chị ở đài huyện lần đầu cầm máy ghi âm, máy ảnh về làng quê, bám cơ sở, lội ruộng, vào bản làng thu thập tài liệu thực tế viết tin, viết bài đã cho chúng tôi những bài học mà sách vở không bao giờ có được. Ở đó chúng tôi học cách nghe tiếng nói của Nhân dân, học cách nhìn một sự việc bằng trái tim, học cách để sau này, trước micro hay ngồi trước bàn biên tập, mỗi bản tin không chỉ đúng mà còn phải có tình người.
Bốn năm, một quãng thời gian không quá dài trong đời người, nhưng lại đủ dài để biến những người xa lạ thành tri kỷ, đủ dài để một lớp học trở thành một gia đình. Đủ dài để những chàng trai, cô gái tuổi đôi mươi đi qua nghèo khó mà trưởng thành. Sau hai năm học chính trị ở Trường Đảng tỉnh, hai năm học nghiệp vụ tại Trường Kỹ thuật Truyền thanh Thanh Hóa.
Mùa đông năm 1984… Ngày tốt nghiệp ra trường, một ngày vui mà sao trong lồng ngực tim mình tăng nhịp lúc phải chia xa. không cờ hoa không sân khấu lớn không tiếng nhạc chia tay, chỉ có một khoảng trời mùa đông xám nhẹ lẫn gió heo may và những bước chân đi chậm hơn thường ngày, những ánh mắt cố nhìn nhau thật lâu như muốn giữ lại điều gì đó đang sắp trôi tuột vào ký ức. Trên sân trường, những chiếc xe đạp cà tàng, bạn bè lúi húi buộc lại dây chằng baga chất đầy chăn màn, xoong nồi, sách vở, tài sản ít ỏi của bốn năm sinh viên, chuẩn bị trở về với quãng trời riêng, có bạn đứng lặng nhìn căn phòng lớp học lần cuối, có ai đó giả vờ cười thật lớn để giấu đi nước mắt lặng rơi. Những chiếc xe cũ kỹ ấy có ai ngờ đang chực chở mang theo ước mơ về với làng quê Thanh Hóa.
Ngày ấy chia tay không có điện thoại để giữ liên lạc, những cái bắt tay cứ chặt hơn thường lệ và những ánh mắt cũng buồn hơn, những dòng nhật ký cứ dài ra theo bạn bè lên miền núi, về đồng bằng hay phố huyện mang theo kiến thức của bốn năm gian khó để bắt đầu một hành trình mới: Làm người kể chuyện cho quê hương mình.
Trong ký ức của lớp học năm ấy, có một điều thật đẹp mà thời gian không thể làm phai nhạt đó là tình yêu, tình bạn của những ngày cùng nhau đi qua gian khó. Không ồn ào không màu mè, chỉ giản dị như những buổi cùng học dưới ánh đèn dầu, cùng chia nhau bát cơm độn sắn, khoai, cùng ùa theo tiếng kẻng tan học, nhìn ai đó đứng chờ ngoài cửa lớp, cùng đạp xe trong gió lạnh, cùng đi qua những đoạn đường không một bóng cây về nhà trọ, hay những chiều thứ bảy về quê… lặng im không lời tỏ tình hoa mỹ. Rồi những cặp đôi thương nhau lúc nào không hay biết, những cái tên được bạn bè nhắc đến bằng nụ cười đầy thương mến: Vang - Hồng, Vân - Giới, Đốc - Nga, Lưu - Văn, Long - Tiến… Những mối nhân duyên của một thời sinh viên nghèo mà đẹp như những thước phim.
Rồi từ sân trường ấy những người học trò tỏa đi khắp các huyện, thị xã của tỉnh. Có người về Đài Phát thanh tỉnh, Đài Truyền thanh huyện có người làm công tác Tuyên giáo, có người đi xa hơn nữa… Nhưng dù ở phương trời nào, họ vẫn mang theo một điều không đổi: Tinh thần của lớp Phóng viên - Biên tập phát thanh, họ trở thành những người đặt những viên gạch đầu tiên cho hệ thống phát thanh cơ sở trên quê hương Thanh Hóa anh hùng.
Họ lặng lẽ đi về giữa bản làng, giữa những mùa lũ, những sự kiện của quê hương, để có những dòng tin đọc qua chiếc loa truyền thanh nhỏ bé nơi đầu làng, âm thanh giản dị ấy đã đi vào ký ức biết bao thế hệ, ít ai biết rằng phía sau giọng đọc phát thanh quen thuộc ấy là biết bao mồ hôi, những chuyến đi không quản ngày đêm của những người làm báo cơ sở âm thầm và tận tụy. Nhiều người sau này trở thành lãnh đạo uy tín của tỉnh, của Trung ương và làm việc xa hơn nữa ở nước bạn Lào, Campuchia, nhưng điều đáng quý nhất không phải chức vụ mà là họ đã giữ được ngọn lửa của nghề, ngọn lửa được thắp lên từ tiếng kẻng năm nào, từ những viên gạch hồng tuổi trẻ và từ lời dặn của thầy cô: Làm báo trước hết phải làm người tử tế.
Trong số đó có người đã trở thành những lãnh đạo tâm huyết của hệ thống truyền thanh huyện, thị trong tỉnh như Lê Thị Kiệm - người phụ nữ tận tụy sau này đảm nhiệm cương vị Trưởng Đài Truyền thanh huyện Như Xuân, anh Đỗ Duy Nhạ - Trưởng Đài Truyền thanh huyện Thọ Xuân, anh Vũ Quang Hiến - Trưởng Đài Truyền thanh huyện Ngọc Lặc, anh Nguyễn Quang Trung - Trưởng Đài Truyền thanh huyện Nông Cống, anh Nguyễn Sĩ Bắc- Trưởng Đài Truyền thanh huyện Quảng Xương, anh Trần Sỹ Hiển - Trưởng Đài Truyền thanh huyện Thiệu Hóa, anh Phạm Hồng Toại - Trưởng Đài Truyền thanh huyện Quan Hóa, chị Lê Thị Ngoan - Trưởng Đài Truyền thanh huyện Vĩnh Lộc. Anh Vũ Quang Hiến - Trưởng Đài Truyền thanh huyện Ngọc Lặc.
Có người tiếp tục cống hiến trong lĩnh vực tuyên giáo như anh Đỗ Hồng Lưu, cán bộ Ban Tuyên giáo Huyện ủy Hoằng Hóa; anh Nguyễn Văn Tiến, Trưởng ban Tuyên giáo Huyện ủy Ngọc Lặc. Có người mang nghề đi xa hơn khỏi quê hương xứ Thanh như anh Bùi Anh Túy, Trưởng Đài Truyền thanh huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Có người trưởng thành ở môi trường báo chí chuyên nghiệp của tỉnh như anh Nguyễn Ngọc Vang, Trưởng phòng Quay phim Đài Phát thanh - Truyền hình Thanh Hóa. Có người đi tới những miền xa của nghề báo như anh Hoàng Phan Hùng - Trưởng Đại diện Đài Truyền hình Việt Nam tại Vương quốc Campuchia. Cũng có người chỉ bình dị với chiếc micro nơi đài huyện, nhưng với chúng tôi không ai nhỏ bé trong hành trình ấy, bởi mỗi người đều là một “viên gạch hồng” góp phần dựng xây nên diện mạo báo chí cơ sở của xứ Thanh trong những năm tháng khó khăn nhất.

Cựu sinh viên Lớp Phóng viên - Biên tập Phát thanh chụp ảnh kỷ niệm 40 năm ngày ra trường 1984 - 2024 tại TP Thanh Hóa
Bốn mươi lăm năm, một vòng quay đủ dài của thời gian, dài đến mức những hàng cây non năm ấy giờ đã trở thành cổ thụ, những con đường đất đỏ năm nào giờ rộn ràng phố xá, ngôi trường năm xưa những phòng học cũ đã trở thành những nhà cao tầng, những chiếc loa truyền thanh đầu làng từng là “mắt - tai - tiếng nói” của quê hương giờ dần nhường chỗ cho công nghệ phát thanh, truyền hình hiện đại.
Khi xã hội đổi thay, nghề báo cũng khác, nhưng có những điều là ký ức là nghĩa tình bạn bè là ngọn lửa rực cháy của một thế hệ từng sống hết mình cho nghề và cho quê hương.
Gặp mặt sau bốn mươi lăm năm ngày tựu trường, chẳng ai nghĩ mình sẽ xúc động đến thế, hội trường đông vui tiếng cười nói rộn ràng những cái ôm thật chặt, những bàn tay nắm lấy nhau lâu hơn mọi lần. Ai đó đứng lặng vài giây rồi bất ngờ gọi lên một cái tên đã mấy chục năm không nhắc. “Có phải bạn đấy không?” - Chỉ một câu nói thôi mà cả một thời thanh xuân bỗng ùa về, người tóc bạc nhận ra người da sạm màu thời gian là chàng trai trận mạc năm nào nay mắt đã mờ, chân đã chậm. Nhớ người con gái tóc dài, mắt ve, từng ngồi cuối lớp nay mái tóc đã trắng như mây.
Có những tiếng cười thật lớn vừa nhìn thấy nhau, mắt đã đỏ hoe bởi bốn mươi lăm năm sau đâu chỉ là thời gian mà là khoảng lặng đời người. Những chàng trai cô gái tuổi đôi mươi gặp lại nhau khi mái tóc đã bạc bước chân đã chậm hơn có người phải gọi nhau thật lâu mới nhận ra, có bạn chỉ còn hiện về trong ký ức, tên tuổi vẫn nằm đó trong danh sách lớp, hội trường hôm nay đã lặng im mỗi lần nhắc tên bạn mình đã đi xa một khoảng lặng đi qua ánh mắt bạn bè. Thời gian vốn nghiệt ngã như thế, lấy đi tuổi trẻ lấy đi sức khỏe lấy đi nhiều điều, nhưng kỳ lạ thay lại không thể lấy đi tình bạn và niềm tự hào của một thế hệ đã sống một đời gian khó nhưng không vô nghĩa.
Buổi gặp mặt gần tan, ký ức ùa về tiếng kẻng leng keng những ngày lên lớp, gọi xuống nhà bếp tập thể với những bữa cơm sinh viên, gọi về mùa gặt Quảng Châu, mùa khoai Quảng Thọ trong cái nắng chang chang, gọi về những lò gạch đỏ lửa trong chiều đông gió rét cắt da, thấu thịt, gọi về những chuyến thực tập đầu tiên với chiếc máy ghi âm, máy ảnh, gọi về những đêm tập viết tin, dựng bài đến tận đêm khuya và gọi về cả những mối tình tuổi trẻ từng đi qua nghèo khó mà đẹp đến nao lòng.
Tuổi trẻ thật sự không mất đi, nó chỉ đứng ở một nơi rất xa, hiện về trong ký ức đợi một ngày bạn bè gọi nhau về họp lớp. Bốn mươi lăm năm, từ những chàng trai cô gái tuổi đôi mươi bước ra từ đồng đất, chiến trường, phố huyện… Hôm nay gặp lại vẫn ánh mắt ấy vẫn tình đồng môn ấy vẫn nguyên niềm tự hào lặng lẽ của những người từng làm nghề bằng trái tim. Một thế hệ “nhà báo làng”. Cái tên mộc mạc mà thương mến biết bao bởi chính từ những bản tin trên loa phóng thanh đầu làng, họ đã góp phần giữ nhịp sống thông tin cho quê hương suốt một thời gian khó và rồi mới hiểu… Điều đẹp nhất của một đời người không phải là đi được bao xa mà là khi ngoảnh lại chúng mình có thể mỉm cười mà nói rằng: Tuổi trẻ của mình đã không sống hoài, sống phí. Với lớp Phóng viên - Biên tập phát thanh năm ấy không chỉ học để làm báo mà học cách sống để làm nên ký ức một thời.
Một thế hệ đầy nghĩa tình với niềm tự hào mang tên: “Nhà báo huyện xứ Thanh” để hôm nay, sau bốn mươi lăm năm gặp lại ngày tựu trường, mở lớp, giờ bao mái đầu bạc trắng, nhưng thấy lòng mình trẻ lại, như vẫn còn nghe đâu đây… Tiếng kẻng năm nào đang ngân lên sau giờ học và ở một nơi rất sâu trong ký ức những “viên gạch hồng” của tuổi trẻ năm xưa vẫn lặng lẽ đỏ lửa đốt cháy một thời thanh xuân đẹp đến không thể nào quên. Một thời… làm báo để đọng thành ký ức của chúng mình.
Ngày rời mái trường… Mỗi người một ngả.Những chiếc xe đạp cũ chở theo hành trang tuổi trẻ lặng lẽ rời sân trường, mang theo bao khát vọng của một thế hệ vừa được chắp thêm đôi cánh nghề nghiệp. Không ai nói với ai điều gì lớn lao, chỉ biết rằng, phía trước là quê hương đang chờ. Những huyện miền núi xa xôi, những vùng quê còn nhiều khó khăn, những trạm truyền thanh đơn sơ với chiếc máy tăng âm cũ kỹ, những chiếc loa đầu làng còn khản tiếng sau mưa nắng.
Ở đó…
Họ không chỉ làm nghề.
Họ đã sống cùng nghề, đi qua bão lũ, đi qua những mùa mất mùa đói kém, đi qua những năm tháng thiếu thốn phương tiện, công nghệ. Để rồi từ chiếc loa đầu làng giản dị, tiếng nói của Đảng vẫn đến với Nhân dân, tiếng nói của quê hương vẫn vang lên giữa mỗi sớm mai.
Bốn mươi lăm năm gặp lại…Ngồi cạnh nhau giữa mái đầu đã bạc trắng…Mới hiểu rằng: Điều đáng quý nhất không phải ai đã đi xa đến đâu mà là sau ngần ấy năm nhìn lại…Ta vẫn còn đủ đầy bạn bè để gọi nhau bằng hai tiếng đồng môn. Và sâu hơn nữa là niềm tự hào lặng lẽ rằng: Một thế hệ “báo làng, báo huyện” năm ấy đã không đi qua cuộc đời một cách vô danh. Họ đã để lại dấu chân mình trong ký ức quê hương, trong tiếng loa đầu làng, trong những bản tin sớm tối. Và trong lòng Nhân dân - bằng tất cả sự tận tụy của những người làm báo từ trái tim.
Bình luận