Vệt nắng thổ cẩm trên khung cửi của người Ba Na bên hồ Đồng Mô, Hà Nội
Chiều buông chậm trên Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam. Ánh nắng muộn như kẻ lữ hành mải bước, chợt dừng chân rồi “ngủ quên” trên mái nhà sàn phủ màu thời gian. Từng vệt vàng dịu nhẹ trườn qua phên nứa, đậu lên khung cửi, lên những sợi chỉ đang căng mình chờ thành tấm vải. Trong khoảng không gian ấy, màu sắc, âm thanh và hơi thở của núi rừng Tây Nguyên dường như cùng lúc thức dậy giữa lòng Hà Nội.
Trong hành trình đi tìm chất liệu cho những tác phẩm báo chí đầu tay của sinh viên lớp Báo chí 15B, Trường Đại học Văn hoá Hà Nội, chúng tôi đã có một buổi chiều đầy cảm xúc tại Làng Văn hoá - Du lịch các dân tộc Việt Nam. Giữa không gian đậm chất đại ngàn, ánh chiều tà như kẻ lữ hành “ngủ quên”, vương vấn trên những mái nhà sàn, nhuộm vàng tiếng đàn tre nứa và hoà quyện vùng nhịp dệt vải của đồng bào Xơ Đăng, Ba Na,…

Làng văn hóa dân tộc của người Bana. Ảnh: Trung Hoàng
Tại khu nhà sàn của người Ba Na ở đây, tiếng khung cửi kẽo kẹt vang lên đều đặn như nhịp thở của một nghề cổ. Những người phụ nữ ngồi lặng lẽ bên khung dệt, đôi tay thoăn thoắt đưa thoi, mắt dõi theo từng sợi chỉ. Sắc xanh của rừng, đỏ của lửa, đen của đất… từng chút một được luồn qua khung cửi, dệt nên những tấm thổ cẩm rực rỡ. Ánh chiều nghiêng xuống, làm các sợi tơ ánh lên như những dòng suối nhỏ, chảy qua đôi bàn tay kiên nhẫn của người thợ.
Nhịp thoi đưa không chỉ là động tác của lao động, mà như một khúc nhạc chậm. Tiếng gõ nhè nhẹ của thanh đạp chân, tiếng tre nứa chạm vào nhau, tiếng gió lùa qua mái lá… tất cả hòa vào nhau thành một bản hòa tấu của đại ngàn. Mỗi lần thoi lướt qua là thêm một đường hoa văn hiện ra, như thể ký ức của núi rừng đang được dệt lại bằng sợi chỉ.

Chị Đinh Thị Nha, 26 tuổi dệt thổ cẩm truyền thống trên khung cửi thủ công. Ảnh: Trung Hoàng
Chị Đinh Thị Nga, 26 tuổi, người Ba Na từ Tây Nguyên đến sống ở Làng Văn hoá - Du lịch các dân tộc Việt Nam đã nhiều năm, cho biết những tấm vải thổ cẩm bắt đầu từ một hành trình rất dài. Từ những mùa rẫy xa xôi, khi những hạt bông được gieo xuống đất vào đầu mùa mưa. Đất thấm nước, cây bông lớn lên, nở ra những chùm trắng như mây nhỏ. Đợi đến khi nắng ráo, mới thu hoạch, phơi bông cho nở đều rồi tách hạt, làm tơi, xe sợi. Những sợi bông mềm mịn sau đó được cuộn tròn, nhuộm màu, rồi mới được đưa lên khung dệt.
Từng công đoạn giản dị mà bền bỉ, gắn với những dụng cụ mộc mạc làm từ tre, nứa, gỗ, lông nhím, sáp ong… Theo chị Nga, khung dệt của người Ba Na không liền một khối mà tách thành nhiều bộ phận, mỗi phần đảm nhận một công việc riêng, như những mắt xích lặng lẽ giữ nhịp cho cả quá trình lao động. Và phía sau những dụng cụ thô sơ ấy là sự khéo léo của đôi tay người phụ nữ, là sự cần mẫn truyền từ đời này sang đời khác.
“Với người Ba Na, học dệt cũng giống như lớn lên cùng bản làng. Những cô gái nhỏ từ chín, mười tuổi đã bắt đầu tập dệt những tấm vải trơn. Rồi dần dần, những hoa văn đơn giản xuất hiện, sau đó là các họa tiết cầu kỳ hơn”, chị Nga chia sẻ. Khi đôi tay đã quen với khung cửi, họ có thể tự sáng tạo những đường hoa văn của riêng mình. Mỗi tấm vải vì thế không chỉ là sản phẩm lao động, mà còn là câu chuyện của người dệt gửi vào sợi chỉ.
Thổ cẩm theo họ đi suốt cuộc đời. Là chiếc áo mặc trong ngày hội, là tấm đắp ấm qua mùa lạnh, là chiếc địu đưa giấc ngủ của đứa trẻ trên lưng mẹ. Và khi cô gái Ba Na về nhà chồng, những tấm vải ấy lại trở thành của hồi môn, mang theo sự khéo léo, chăm chỉ và niềm tự hào của người con gái.
“Để dệt được một tấm vải đẹp mất rất nhiều thời gian và công sức. Màu đen là đất rừng, màu đỏ là lửa, màu trắng là sự trong sạch. Mình dệt vào đây cả cái hồn của người Ba Na, đất trời và thiên nhiên hòa quyện với con người. Khách du lịch họ khen đẹp mình vui lắm, nhưng cũng lo sau này tụi trẻ nó không còn mặn mà với khung cửi này nữa”, chị Nga chia sẻ.
Ngồi bên khung cửi giữa lòng Hà Nội, chị Đinh Thị Nga vẫn giữ nhịp dệt quen thuộc của quê nhà. Ở nơi xa rẫy bông, nguyên liệu phải mua từ những cuộn chỉ, cuộn len mang về để dệt thành sản phẩm lưu niệm cho du khách. Một chiếc túi hay tấm khăn bán với giá khoảng hai trăm nghìn đồng - con số tưởng như không nhỏ, nhưng để hoàn thành phải mất bốn, năm ngày miệt mài bên khung dệt.
Chị vừa dệt vừa cười, ánh mắt vẫn dõi theo những sợi tơ đang dần hiện thành hoa văn: “Người ta đâu biết mình mất công thế nào, từ lúc cuốn sợi đến khi lên khung dệt. Nhưng mình làm vì yêu bản sắc của mình. Không yêu thì khó mà bám trụ lâu ở nơi xa quê thế này”.
Ngoài hiên, ánh nắng đã nhạt dần. Khói bếp bảng lảng bay lên, quẩn quanh mái nhà sàn. Những chiếc gùi nan dựng ở góc tường, những tấm vải đang dệt dở treo trên phên nứa, tất cả như chìm vào một gam màu ấm áp của buổi hoàng hôn.
Khi mặt trời khuất hẳn sau những mái tranh, tiếng đàn tre nứa lại ngân lên. Âm thanh mộc mạc ấy lan trong không gian, hòa với tiếng bước chân trần gõ nhịp trên sàn gỗ, với tiếng khung cửi còn vang khe khẽ đâu đó trong căn nhà sàn.
Giữa lòng Hà Nội náo nhiệt, Tây Nguyên bỗng hiện ra rất gần: mộc mạc, sâu lắng và bền bỉ như chính những con người đang giữ lửa cho di sản.

Chuyến đi của các bạn BC15B. Ảnh: Trung Hoàng
Và với những sinh viên báo chí trong chuyến đi thực tế hôm ấy, văn hóa dân tộc không còn là những dòng chữ nằm yên trong giáo trình. Nó hiện lên bằng ánh nắng vàng trên phên nứa, bằng tiếng đàn tre vang trong chiều, bằng nhịp thoi lặng lẽ của người phụ nữ Ba Na đang dệt lại ký ức của núi rừng ở giữa lòng thủ đô.

Từ ngày 01 - 04/01/2026, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đoài Phương, Hà Nội) sẽ diễn ra các hoạt động...
Bình luận