Tưởng nhớ những người đã hi sinh tuổi thanh xuân
“Hang tám cô” ở Thanh Hóa chính là Hang Co Phương/ Co Phường (Co Phương tiếng Thái nghĩa là Cây khế). Trước hang có cây khế, đến giờ vẫn còn nên được dùng để gọi tên hang. Hang Co Phương đã trở thành ngôi mộ chung, gìn giữ thi thể của 11 liệt sỹ từ thời kháng chiến chống Pháp. Trong 11 liệt sỹ có 8 cô gái, họ đều có tuổi đời còn rất trẻ, chỉ mười tám, đôi mươi. Cửa hang bị đánh sập vì những trận bom trút xuống, những tảng lớn hàng chục chục tấn bít kín cửa hang khi 11 người là dân công, thanh niên xung phong và bộ đội đang trú ẩn. Như vậy, trước khi có “Hang tám cô” ở Bố Trạch, Quảng Bình trong kháng chiến chống Mỹ, ở Thanh Hóa đã có một “Hang tám cô” ở địa phận Bản Sại, xã Phú Lệ, huyện Quan Hóa này.
Trong kháng chiến chống Pháp, Thanh Hóa là tỉnh có vị trí trọng yếu trong 6 tỉnh thuộc Quân khu 4, không chỉ là “an toàn khu” mà còn là căn cứ hậu cần của căn cứ địa Việt Bắc và của các chiến dịch lớn ở Tây Bắc và Thượng Lào. Theo tài liệu của Sở Giao thông – Vận tải Thanh Hóa, từ năm 1950 đến 1953, cùng với việc mở đường phục vụ kháng chiến, nhân dân Thanh Hóa đã cung cấp và vận chuyển 5.000 tấn lương thực, 3.000 tấn thực phẩm, 3.000 tấn muối đưa lên Việt Bắc thành lập kho dự trữ muối.

Địa danh "Hang 8 cô"
Trong chiến dịch Trung Du (Trần Hưng Đạo), Thanh Hóa huy động 83.140 dân công làm nhiệm vụ tiếp vận; trong chiến dịch Hòa Bình, huy động 21.786 dân công dài hạn và 78.488 dân công ngắn hạn; trong chiến dịch Tây Bắc, Thanh Hóa huy động 56 tập đoàn vận tải thủy bộ, 93.897 dân công dài hạn, 41.703 dân công ngắn hạn. Chiến dịch Tây Bắc thắng lợi, Đảng bộ và nhân dân Thanh Hóa được Hồ Chủ tịch và Chính phủ tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng Hai.
Huyện Quan Hóa thời ấy (bao gồm cả huyện Quan Sơn và huyện Mường Lát bây giờ) có tới hơn 200 cây số đường biên với Lào, vừa tiếp giáp với phía nam huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình. Xã Phú Lệ nằm ở phía tây huyện Quan Hóa, trên tuyến đường vận tải huyết mạch (cả đường bộ và đường sông). Từ Phú Lệ theo hướng tây, chỉ ít cây số đã sang địa phận Hủa Phăn, từ đó đi Sầm Nưa, Xiêng Khoảng, Phông Xa Lì của Lào; Từ Phú Lệ, theo đường độc đạo 15A nối với đường 6, chỉ khoảng tám cây số sang địa phận Mai Châu – Hòa Bình, từ đó đi Sơn La, Điện Biên.
Vì vậy, trong chiến dịch Thượng Lào năm 1953 và chiến dịch Điện Biên Phủ một năm sau đó, cùng với Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa được xác định là hậu phương quan trọng nhất. Đó cũng là lý do huyện Quan Hóa khi ấy trở thành trung tâm tiếp vận hậu cần cho các chiến dịch.
Nút thắt của tuyến vận tải nằm ở Phú Lệ, dòng sông Mã khi trở lại Việt Nam, chảy quanh co dưới chân dãy Pù Hu ngẫu hứng cắt qua con đường độc đạo, để đảm bảo giao thông, Quan Hóa phải bắc hai chiếc cầu liên tiếp là cầu Phú Lệ và cầu Vạn Mai. Thêm nữa, do bị chẹn giữa các vách núi, dòng sông đoạn này vừa hẹp vừa nông, tất cả quân lương theo đường sông từ dưới xuôi lên đến đây phải tập kết lên bờ trong các kho trạm.
Đó là lý do, Phú Lệ trở thành “hiểm yếu”, luôn được địch “chăm sóc” kỹ lưỡng. Máy bay địch quần thảo và đánh phá đường, phá cầu, đốt kho trạm; biệt kích, thổ phỉ thâm nhập do thám, chỉ điểm hòng phá hoại hoạt động tiếp vận cho tiền tuyến. Thời điểm đầu năm 1953 khi chiến dịch Thượng Lào mở ra, Phú Lệ luôn thường trực số lượng lớn thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến, đây là hai lực lượng chính làm các nhiệm vụ: gánh gạo, nhu yếu phẩm ra tiền tuyến để đảm bảo “Tất cả cho chiến dịch, tất cả để bộ đội ăn no đánh thắng”, mở đường, san lấp đường, sửa cầu do máy bay địch đánh phá ác liệt, bảo về kho tàng…

Trước cửa địa danh "Hang 8 cô"
Hang Co Phương thuộc địa phận xã Phú Lệ là hang núi tự nhiên được kiến tạo bởi núi Pố Há thuộc hệ thống dãy Pù Luông chay dọc theo biên giới Việt Lào. Dãy Pù Luông là chị em, đối diện với dãy Pù Hu ở bờ bên kia sông Mã. Pố Há thuộc hệ núi đá vôi, hiểm trở, ở địa phận Bản Sại, người dân phát hiện một hang núi tuy không lớn, diện tích chỉ khoảng hơn 20m2 nhưng ở địa thế tương đối bằng phẳng, dễ vào, chỉ cách đường độc đạo 15A và cầu Phú Lệ tầm một kilômét. Trước hang có cây khế mọc tự nhiên nên được dùng để gọi tên hang (Co Phương tiếng Thái nghĩa là cây khế). Hang Co Phương đã trở thành trạm tập kết hậu cần lý tưởng, cũng là nơi trú ẩn tự nhiên cho các đoàn dân công, thanh niên xung phong, bộ đội ở khu vực này.
Sau khi chiến dịch Thượng Lào mở ra, thực dân Pháp đã đánh hơi được ý đồ chiến lược và không gian hậu cần chính của chiến dịch. Ngày mùng 2 tháng 4 năm 1953 định mệnh của tiểu đội dân công xã Thiệu Nguyên, huyện Thiệu Hóa. Đơn vị dân công này thuộc trung đội dân công biên chế 45 người nhận nhiệm vụ ngày 6 tháng 3, cùng hai trung đội khác của huyện Thiệu Hóa lên đường làm nhiệm vụ san lấp, bảo đảm giao thông thông suốt ở đoạn đường và cầu Phú Lệ.
Khoảng 3 giờ chiều, máy bay địch thay nhau quần thảo, ném bom dữ dội. Đốc Phú Lệ, nhiều dân công làm đường bị trúng bom, khu vực Bản Sại nơi có Hang Co Phương, nhiều quả bom đã rơi trúng kho lương và nơi trú quân của dân công hỏa tuyến. 11 người, trong đó một người bộ đội, hai người là thành niên xung phong và tám dân công hỏa tuyến.
Đặc biệt, họ đều là nữ, tuổi đời còn rất trẻ, người lớn tuổi nhất chỉ mới 22 (sinh 1931) và người trẻ nhất chỉ mới 18 (sinh 1935), cũng chỉ một người kết hôn còn 7 người đang độ thanh xuân phơi phới. Lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa, tổng cục vận tải, Ban Dân công tỉnh khi ấy đã tính đến di dời các tảng đá bị sập trước cửa hang với tinh thần “còn nước còn tát”. Nhưng kế hoạch đã không thể thực hiện vì những khối đá quá lớn lại xếp chồng xen kẽ bịt kín cửa hang. Sau khi xin ý kiến thống nhất với thân nhân các liệt sỹ, đã tạm dừng công tác tìm kiếm, giữ nguyên vị trí thực trạng, Hang Co Phương đã trở thành nấm mồ chung của 11 liệt sỹ.
Thạch mộ vẫn còn đó lừng lững, trước mộ vẫn còn cây khế, chắc là một nhánh của cây khế cổ còn sót lại để đến mùa cây lại dâng quả cho các thiếu nữ thanh xuân.
Năm 2000, Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa xây dựng Nhà bia tưởng niệm các liệt sỹ ngay cạnh cửa hang để nhân dân và thân nhân gia đình liệt sỹ đến dâng hương tưởng niệm. Cách cửa hang một chút là thân nửa quả bom còn sót lại bêu trên chiếc cọc như là chứng tích của tội ác.
Năm 2012, Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã xếp hạng Hang Co Phương di tích lịch sử cấp Tỉnh; năm 2019 Hang Co Phương được xếp hạng di tích lịch sử cấp Quốc gia. Hang Co Phương đã đứng trong hệ thống di tích lịch sử dân tộc, vĩnh cửu hóa những cống hiến và hi sinh lớn lao của nhân dân cho sự bất tử của non sông đất nước.

“Hang tám cô” ở địa phận Bản Sại, xã Phú Lệ, huyện Quan Hóa.
Lịch sử không phải là ngọn lửa đã cháy xong, sức nóng từ nhiệt thành yêu nước, ý chí bất khuất tự cường luôn là niềm tự hào và được gìn giữ thiêng liêng trong trái tim của mỗi con dân đất nước. Đó là lý do, kẻ xâm lược đã phải thừa nhận thất bại một cách tâm phục khẩu phục: “Người ta có thể đánh bại một đạo quân chứ không thể đánh bại một dân tộc” (Viên tướng De Castries, sau thất bại ở Điện Biên Phủ, đã trả lời trước Ủy ban điều tra của Bộ Quốc phòng Pháp).
Xin tri ân, tưởng nhớ những người đã hi sinh tuổi thanh xuân và cuộc đời cho độc lập tự do của dân tộc.

Câu lạc bộ thư pháp Hán Nôm huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình thành lập hơn 10 năm nay. Chặng đường Câu lạc bộ đã trải...
Bình luận