Đề cao bản sắc văn hóa và tính khả thi trong quá trình sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc
Tiếp tục Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, chiều 6/8, Quốc hội thảo luận ở tổ về 03 nội dung: Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc; Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng; Dự án Nghị quyết của Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án, Cổng thông tin điện tử Quốc hội đưa tin.
Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh; Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng tham dự thảo luận tại Tổ 10 (Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình và Đoàn ĐBQH tỉnh Sơn La).

Toàn cảnh thảo luận tại Tổ 10, gồm Đoàn ĐBQH tỉnh Sơn La và Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình

Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Sơn La Hoàng Văn Nghiệm điều hành nội dung thảo luận
Kiến trúc không chỉ tạo nên giá trị văn hóa cho mỗi công trình, mà còn có thể trở thành di sản
Góp ý hoàn thiện dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh khẳng định việc sửa đổi Luật là rất cần thiết, xuất phát từ thực tiễn bản sắc văn hóa và kiến trúc của 54 dân tộc Việt Nam vô cùng phong phú, đa dạng.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, kiến trúc không chỉ tạo nên giá trị văn hóa cốt lõi cho mỗi công trình mà còn có thể trở thành di sản qua nhiều thế hệ. Từ đó, Phó Chủ tịch Quốc hội kỳ vọng lần sửa đổi này sẽ tạo ra bước chuyển biến về tư duy trong công tác bảo tồn, đồng thời đề cao hơn nữa yếu tố kiến trúc trong các công trình xây dựng.

Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh phát biểu
Đánh giá về quy định liên quan đến bản sắc văn hóa dân tộc tại Điều 5 của dự thảo Luật, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh ghi nhận tư duy mới và tiến bộ khi dự thảo đã thay thế định nghĩa mang tính khái quát bằng các yếu tố cụ thể như tổ chức không gian, hình thức, kỹ thuật, cảnh quan, đồng thời giao thẩm quyền cho các cơ quan, các cấp ban hành quy chế thực thi.
Tuy nhiên, Phó Chủ tịch Quốc hội lưu ý các nội dung tại Điều 5 vẫn còn mang tính trừu tượng. Để người dân nắm bắt và thực hiện đúng, cần có các giải pháp tuyên truyền, giải thích pháp luật mang tính trực quan, dễ hiểu. Bên cạnh đó, việc định hình bản sắc theo yếu tố không gian có thể tác động trực tiếp đến định mức chi phí xây dựng, thủ tục cấp phép, cũng như các tiêu chí kỹ thuật liên quan, từ đó ảnh hưởng đến tài sản và quyền xây dựng nhà ở của người dân.
Do đó, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị Cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát, chỉnh lý hệ thống tiêu chí, bản đồ quy hoạch và bản sắc kiến trúc của từng địa phương, tham vấn ý kiến phản biện từ cộng đồng về các tiêu chí của kiến trúc để các khái niệm mới bảo đảm tính khả thi, dễ thực hiện, dễ kiểm chứng và kiểm soát trong thực tiễn áp dụng. Khi đó, cán bộ địa chính, cán bộ xây dựng cấp xã có căn cứ, tiêu chí cụ thể để thực thi nhiệm vụ, từ việc thẩm định cấp phép xây dựng đến việc xem xét đình chỉ các công trình không tuân thủ đúng định hướng kiến trúc.
Từ thực tiễn trên, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị bổ sung thêm khoản 4 vào Điều 5 của dự thảo Luật: Việc xác định, nhận diện phải dựa trên điều tra ý kiến chuyên gia và cộng đồng; việc công khai dữ liệu, giải trình của các cơ quan quản lý khi xác định các yếu tố nhận diện kiến trúc.

Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng và các đại biểu tham gia thảo luận tại Tổ 10
Liên quan đến quy định về tiếp cận phổ quát tại khoản 3 Điều 12, Phó Chủ tịch Quốc hội đánh giá cao Cơ quan soạn thảo đã bổ sung vào dự thảo luật yêu cầu bảo đảm cho người khuyết tật, người cao tuổi và trẻ em dễ dàng tiếp cận, sử dụng các công trình kiến trúc. Đây là quy định rất tiến bộ, phù hợp với xu hướng và kinh nghiệm quốc tế.
Tuy nhiên, Phó Chủ tịch Quốc hội cho rằng, cụm từ "dễ dàng" trong dự thảo vẫn mang tính định tính, chưa thể hiện rõ tiêu chí định lượng. Phó Chủ tịch Quốc hội đề xuất bổ sung quy định giao Chính phủ ban hành Nghị định hướng dẫn chi tiết, làm cơ sở thực thi thống nhất và hiệu quả trong thực tiễn.
Đối với quy định về công trình thuộc danh mục kiểm kê di tích tại Điều 13, Phó Chủ tịch Quốc hội đồng tình với định hướng chuyển sang quản lý theo pháp luật về di sản, nhằm đề cao yếu tố bản sắc văn hóa trong kiến trúc. Dù vậy, Phó Chủ tịch Quốc hội bày tỏ băn khoăn đối với các công trình nằm ở khu vực lân cận di tích, các công trình lâu đời chưa được xếp hạng hoặc các công trình có giá trị kiến trúc riêng lẻ nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của pháp luật về di sản và pháp luật về kiến trúc. Vì vậy, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị bổ sung cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa ngành Xây dựng và ngành Văn hóa, bảo đảm nguyên tắc không hạ thấp mức độ bảo vệ đối với các công trình phụ cận, chưa xếp hạng hoặc có giá trị kiến trúc đặc thù.

Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh phát biểu
Liên quan đến quy chế quản lý kiến trúc tại Điều 14 và Điều 15, dự thảo Luật đang giao thẩm quyền cho cấp tỉnh, đồng thời cho phép phân cấp, ủy quyền cho cấp xã "khi đủ điều kiện"; và tích hợp kiến trúc nông thôn vào quy hoạch chung cấp xã. Phó Chủ tịch Quốc hội băn khoăn cụm từ "xã đủ điều kiện", chưa đo lường được thế nào là đủ điều kiện; việc tích hợp vào quy hoạch chung cấp xã có thể làm giảm hiệu lực của quy trình lấy ý kiến và giảm hiệu lực của quy chế. Do đó, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị Luật cần bổ sung tiêu chí định lượng cụ thể về nhân lực, dữ liệu, ngân sách, quy định thẩm định bắt buộc, ban hành khung mẫu chung của tỉnh và làm rõ cơ chế quản lý đối với khu vực giáp ranh giữa các địa phương.
Về quy định thi tuyển và tuyển chọn kiến trúc tại Điều 17, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh lưu ý việc bổ sung hình thức "tuyển chọn" có thể làm giảm tính cạnh tranh nếu danh sách các chủ thể được mời quá hẹp. Đồng thời, việc loại trừ các dự án không sử dụng vốn đầu tư công khỏi phạm vi điều chỉnh của Luật đang quá rộng. Trong thực tế, nhiều công trình quy mô lớn do tư nhân hoặc các nhà hảo tâm tài trợ xây dựng vẫn đòi hỏi cao về mặt kiến trúc và có tác động lớn đến cảnh quan chung.

Đại biểu tham gia thảo luận tại Tổ 10
Do đó, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị cân nhắc kỹ phương án tuyển chọn và cơ chế ngoại lệ dự án không dùng vốn ngân sách nhà nước. Theo đó, cần quy định tối thiểu phải có 3 phương án độc lập, công khai các tiêu chí xét chọn và bảo đảm thành phần Hội đồng thi tuyển đủ rộng, đáp ứng các yêu cầu chuyên môn về bản sắc văn hóa và kiến trúc.
Đối với các trường hợp ngoại lệ, chỉ nên áp dụng cho công trình thật sự cấp bách, khẩn cấp cần hoàn thành trong thời gian ngắn. Tùy thuộc vào quy mô và tính chất công trình, không nên phân biệt vốn nhà nước hay vốn tư nhân; bất kỳ công trình nào đáp ứng các tiêu chí về bản sắc văn hóa kiến trúc quy định tại Điều 5 đều phải tuân thủ và chịu sự quản lý nhà nước theo Luật Kiến trúc.
Quy định rõ hơn sự đa dạng về bản sắc văn hóa dân tộc trong Luật Kiến trúc
Tán thành với sự cần thiết ban hành sửa đổi, bổ sung dự án Luật Kiến trúc, đại biểu Phạm Hùng Thắng - Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình cho rằng, việc sửa đổi nhằm thể chế hóa đầy đủ chủ trương, đường lối của Đảng về tiếp tục hoàn thiện thể chế pháp luật, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực kiến trúc. Đồng thời đáp ứng các yêu cầu về phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay; yêu cầu về phân định thẩm quyền, phân cấp, phân quyền phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp…

Đại biểu Phạm Hùng Thắng - Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình phát biểu
Góp ý một số nội dung cụ thể tại điểm 2 khoản 1 Điều 1 sửa đổi, thay thế Điều 5 về bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc, đại biểu Phạm Hùng Thắng cho biết, quy định về bản sắc dân tộc trong kiến trúc được xác định, nhận diện thông qua các yếu tố; dự thảo Luật cũng đưa ra 3 yếu tố, nhưng quy định phản ánh sự đa dạng về kiến trúc truyền thống của cộng đồng dân tộc thiểu số cùng sinh sống trên địa bàn vẫn chưa rõ. Đại biểu đề nghị Cơ quan soạn thảo nghiên cứu bổ sung quy định yếu tố nhận diện kiến trúc truyền thống của cộng đồng dân tộc thiểu số trong dự thảo luật.
Tại điểm 3 khoản 1 Điều 1 về sửa đổi, thay thế Điều 5 về bản sắc dân tộc trong kiến trúc quy định: Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền lập, ban hành quy chế quản lý kiến trúc, chịu trách nhiệm xác định và cụ thể hóa về bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc của địa phương tại nội dung quy chế quản lý kiến trúc.

Toàn cảnh thảo luận tại Tổ 10 (Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình và Đoàn ĐBQH tỉnh Sơn La)
Đại biểu Phạm Hùng Thắng phân tích, việc giao Ủy ban nhân dân các cấp sẽ được hiểu là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Ủy ban nhân dân của cấp xã, như vậy sẽ dễ dẫn đến mỗi nơi làm một kiểu, không thống nhất, chia cắt không gian kiến trúc vùng và có thể gây khó khăn, vướng mắc nhất là cho cấp xã trong quá trình tổ chức thực hiện do kiến trúc là thuộc lĩnh vực chuyên môn sâu, có tính hệ thống và liên tục.
Do vậy, đại biểu đề nghị sửa đổi quy định này theo hướng giao Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành bộ tiêu chí và khung hướng dẫn chung về bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc và làm cơ sở cho cấp xã căn cứ triển khai thực hiện.

Đại biểu Lò Việt Phương – Đoàn ĐBQH tỉnh Sơn La phát biểu
Đồng tình với quan điểm trên, đại biểu Lò Việt Phương – Đoàn ĐBQH tỉnh Sơn La cho rằng, việc xác định rõ các yếu tố nhận diện bản sắc khu vực, tuyến phố cần bảo tồn, đặc trưng không gian, chiều cao, vật liệu... đã khắc phục được những hạn chế mang tính định tính của Luật Kiến trúc hiện hành, giúp chính quyền địa phương thuận lợi hơn trong việc kiểm soát, thẩm định và cấp phép xây dựng. Tuy nhiên, dự thảo Luật giao Ủy ban nhân dân các cấp xác định cụ thể hóa tiêu chí bản sắc khi lập quy hoạch, quy chế quản lý kiến trúc có thể dẫn đến mỗi địa phương hiểu và áp dụng khác nhau, gây thiếu đồng bộ.
Đại biểu Lò Việt Phương đề nghị Cơ quan soạn thảo bổ sung quy định hoặc giao Chính phủ hướng dẫn, đảm bảo tính định hướng tiêu chí bản sắc được xác định khách quan, tránh tùy tiện và giữ được sự thống nhất trong quản lý nhà nước về kiến trúc trên toàn quốc.
Nên hay không nên quy định chỉ tiêu định lượng xét xử?
Cho ý kiến vào dự án Nghị quyết của Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án (Nghị quyết của Quốc hội thay thế Nghị quyết số 96/2019/QH14 của Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án), đại biểu Lê Thị Nga - Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình khẳng định, dự thảo Nghị quyết thay thế Nghị quyết số 96 đã được nghiên cứu và điều chỉnh tương đối toàn diện, đáp ứng yêu cầu thực tiễn về cải cách tư pháp, thay đổi tổ chức bộ máy, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật.

Đại biểu Lê Thị Nga - Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình phát biểu
Góp ý về chỉ tiêu giải quyết xét xử vụ án hình sự, vụ việc dân sự, vụ án hành chính tại điểm a khoản 1 Điều 4, đại biểu cho biết, dự thảo Nghị quyết đang thể hiện theo hai phương án, đại biểu thống nhất phương án 1. Theo đó, cùng với việc phải đảm bảo giải quyết, xét xử vụ án hình sự, vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo đúng thời hạn quy định của pháp luật, cần tiếp tục kế thừa chỉ tiêu định lượng trong giải quyết, xét xử vụ án, vụ việc hình sự và dân sự của Nghị quyết số 96.
Việc quy định chỉ tiêu định lượng sẽ tạo động lực cho các Tòa án đẩy nhanh tiến độ giải quyết vụ án, vụ việc, góp phần đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội, giải quyết nhanh chóng các tranh chấp, khiếu kiện phát sinh, đáp ứng yêu cầu xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển trong giai đoạn mới.

Đại biểu Tráng A Tếnh - Đoàn ĐBQH tỉnh Sơn La phát biểu
Có quan điểm khác về điểm a khoản 1 Điều 4, đại biểu Tráng A Tếnh - Đoàn ĐBQH tỉnh Sơn La đồng tình với phương án 2, đề nghị không quy định chỉ tiêu mang tính định lượng đối với việc giải quyết, xét xử các vụ án, vụ việc mà chuyển sang giám sát kết quả hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung và Tòa án nhân dân các cấp nói riêng, theo tiêu chí chất lượng và thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại biểu Tráng A Tếnh cho biết, qua thực tiễn giải quyết, xét xử các vụ án, vụ việc cho thấy nhiều vụ án, vụ việc thời gian giải quyết kéo dài không xuất phát từ lỗi chủ quan của Thẩm phán, Tòa án mà do nhiều nguyên nhân khách quan như: chờ cơ quan nhà nước giám định, cung cấp tài liệu chứng cứ; vắng mặt của đương sự; chậm cử đại diện Viện kiểm sát hoặc đại diện của Ủy ban nhân dân cấp xã tham gia thẩm định tại chỗ, định giá tài sản; chờ kết quả ủy thác tư pháp ra nước ngoài; chờ tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự nước ngoài; sự thiếu hợp tác của đương sự trong việc tham gia tố tụng, cung cấp các tài liệu, chứng cứ...

Đại biểu tham gia thảo luận tại Tổ 10
Từ những phân tích, nhận định nêu trên, đại biểu đề nghị Quốc hội tập trung giám sát việc thực hiện các nhiệm vụ công tác của Tòa án thông qua việc đánh giá chất lượng và thời hạn giải quyết vụ án, vụ việc; đánh giá chất lượng và thời hạn giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của pháp luật. Đây là một trong những biện pháp tạo áp lực tích cực đối với các Tòa án và các Thẩm phán phải nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Đề xuất cơ chế chuyển tiếp và quản lý tài sản mã hóa, nâng cao hiệu quả phòng, chống rửa tiền
Cho ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống rửa tiền, đại biểu Trần Thị Hiền – Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình cơ bản thống nhất với quy định chuyển tiếp khi thực hiện các quy định mới về nhận biết khách hàng và chủ sở hữu hưởng lợi (Điều 2 và Điều 4 dự thảo Luật). Việc sửa đổi, bổ sung các quy định về nhận biết khách hàng, xác định chủ sở hữu hưởng lợi, thu thập thông tin đối với thỏa thuận pháp lý và bổ sung trách nhiệm của các đối tượng báo cáo nhằm đáp ứng yêu cầu thực hiện các Khuyến nghị của Lực lượng đặc nhiệm tài chính (FATF), góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống rửa tiền.

Đại biểu Trần Thị Hiền - Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình phát biểu
Tuy nhiên, dự thảo Luật bổ sung nhiều nghĩa vụ mới liên quan đến việc thu thập, cập nhật và lưu giữ thông tin khách hàng, chủ sở hữu hưởng lợi và các thông tin khác phục vụ công tác phòng, chống rửa tiền; trong khi Điều 4 của dự thảo Luật mới chỉ quy định thời điểm có hiệu lực thi hành từ ngày 01/12/2026, mà chưa có quy định chuyển tiếp đối với các quan hệ đã được xác lập trước thời điểm Luật có hiệu lực.
Đại biểu đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu bổ sung quy định chuyển tiếp hoặc giao Chính phủ quy định chi tiết việc cập nhật, bổ sung các thông tin theo quy định mới của Luật đối với khách hàng đã được thiết lập trước thời điểm Luật có hiệu lực. Quy định này sẽ tạo điều kiện để các đối tượng báo cáo triển khai thống nhất, khả thi, hạn chế phát sinh chi phí tuân thủ trong cùng một thời điểm, đồng thời vẫn bảo đảm đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và các chuẩn mực quốc tế về phòng, chống rửa tiền.

Đại biểu tham gia thảo luận tại Tổ 10
Thống nhất với việc bổ sung Điều 33a quy định các dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa nhằm tăng cường hiệu quả công tác phòng, chống rửa tiền đối với lĩnh vực có mức độ rủi ro cao và đáp ứng yêu cầu của các chuẩn mực quốc tế, đại biểu Trần Thị Hiền đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát quy định tại Điều 33a theo hướng khái quát hơn, mang tính nguyên tắc; đối với các dấu hiệu mang tính nghiệp vụ, kỹ thuật hoặc có khả năng thay đổi nhanh theo sự phát triển của công nghệ và phương thức giao dịch tài sản mã hóa, thì nghiên cứu giao Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn, cập nhật theo thẩm quyền.
Cách quy định này sẽ bảo đảm tính ổn định của Luật, tạo cơ sở pháp lý để cơ quan quản lý nhà nước chủ động điều chỉnh, bổ sung kịp thời các dấu hiệu mới phát sinh trong thực tiễn, mà không phải sửa đổi Luật. Qua đó, nâng cao hiệu quả thực thi và đáp ứng yêu cầu phòng, chống rửa tiền trong bối cảnh công nghệ tài chính phát triển rất nhanh.
Bình luận