Định hướng chiến lược văn hóa trong tình hình mới - tinh thần cốt lõi trong bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước
Tại Phiên họp lần thứ hai Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam ngày 13/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có bài phát biểu quan trọng. Đây là sự chỉ đạo trực tiếp, kịp thời sau 6 tháng triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về Phát triển Văn hóa Việt Nam. PGS. TS, nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân - Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam đã có bài viết về những vấn đề cốt lõi trong bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước. Thời báo Văn học nghệ thuật trân trọng giới thiệu bài viết của PGS. TS, nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại Phiên họp lần thứ hai Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam ngày 13/7/2026. Ảnh: Báo Nhân dân
Nghị quyết số 80-NQ/TW đã xác lập một tầm nhìn mới về vị trí của văn hóa: văn hóa và con người không chỉ là nền tảng tinh thần, mà còn là nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột và hệ điều tiết cho sự phát triển nhanh, bền vững đất nước. Nghị quyết đồng thời đặt ra những mục tiêu rất cụ thể, như bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa; phấn đấu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030; xây dựng môi trường văn hóa trong cả không gian thực và không gian số; nâng cao sức mạnh mềm và vị thế văn hóa quốc gia.
Bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước có thể xem là bước chuyển từ định hướng chiến lược sang chỉ đạo hành động, từ việc xác định “phải làm gì” sang làm rõ hơn “làm như thế nào, tập trung vào đâu và đánh giá bằng kết quả gì”.
Trong bài phát biểu kết luận, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đánh giá rất thẳng thắn, thực chất đối với kết quả sáu tháng triển khai Nghị quyết. Bên cạnh việc ghi nhận 100% bộ, ngành, địa phương đã tổ chức học tập, quán triệt; 34/34 tỉnh, thành phố đã ban hành chương trình hành động, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng chỉ rõ khoảng cách từ chủ trương đến sản phẩm, từ chương trình đến tác động thực tế vẫn còn lớn. Khối bộ, ngành và cơ quan Trung ương mới có 16/22 cơ quan hoàn thành chương trình hành động; nguồn chi ngân sách cho văn hóa hiện mới đạt khoảng 1,5%, trong khi Nghị quyết yêu cầu tối thiểu 2%.
Cách đánh giá này gửi đi một thông điệp rất rõ: Việc triển khai Nghị quyết không thể dừng ở hội nghị quán triệt, kế hoạch hay báo cáo hành chính, mà phải được đo bằng sản phẩm văn hóa, bằng sự chuyển biến trong môi trường xã hội, bằng khả năng tiếp cận và thụ hưởng văn hóa của người dân, bằng sức cạnh tranh của sản phẩm văn hóa Việt Nam.
Bài phát biểu đã nhận diện đúng những vấn đề mang tính cấu trúc thông qua “bốn khoảng trống”. Đây không chỉ là những hạn chế riêng lẻ, mà là những mắt xích còn thiếu trong quá trình chuyển hóa tiềm năng văn hóa thành nguồn lực phát triển. Việc chỉ rõ khoảng trống về sức hấp dẫn của giá trị Việt Nam trên môi trường số; về chuyển hóa di sản thành dữ liệu, tri thức và tài sản trí tuệ; về năng lực sáng tạo sản phẩm có sức cạnh tranh; về thể chế và hệ sinh thái công nghiệp văn hóa đã giúp các cơ quan, địa phương xác định đúng trọng tâm ưu tiên.
Cùng với “ba chuyển dịch lớn” đã được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước quán triệt, cụ thể hóa sâu sắc tư duy phát triển của Nghị quyết số 80-NQ/TW. Đó là chuyển từ coi văn hóa như một lĩnh vực sang xác lập văn hóa là trụ cột phát triển; chuyển từ không gian văn hóa truyền thống sang phát triển đồng thời trong không gian thực và không gian số; chuyển từ bảo tồn là chủ yếu sang kết hợp bảo tồn với sáng tạo, hình thành tri thức, sản phẩm, thị trường và sức mạnh mềm quốc gia.
Bài phát biểu đề cao trách nhiệm tổ chức thực hiện. Việc yêu cầu hoàn thiện thể chế, xây dựng các bộ chỉ số, phát triển chủ quyền văn hóa số, chuẩn hóa dữ liệu di sản và thúc đẩy công nghiệp văn hóa cho thấy cách tiếp cận quản trị dựa trên mục tiêu, dữ liệu và kết quả. Đây là điều kiện rất quan trọng để tránh tình trạng “Nghị quyết đúng nhưng triển khai chậm”, hoặc có nhiều hoạt động nhưng hiệu quả xã hội chưa rõ.
Có thể nói, bài phát biểu đã cụ thể hóa định hướng hành động, xác định rõ các trọng tâm cần tập trung trong giai đoạn tiếp theo. Bài phát biểu đã bổ sung một chương trình hành động có trọng tâm, trọng điểm, giúp Nghị quyết số 80-NQ/TW được triển khai nhanh hơn từ nhận thức đến thể chế, từ thể chế đến nguồn lực, từ nguồn lực đến sản phẩm và từ sản phẩm đến tác động thực tế trong đời sống.
Trong bài phát biểu, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nêu “bốn khoảng trống” cần nhận diện đầy đủ và sớm khắc phục. “Bốn khoảng trống” đó là:
Khoảng trống thứ nhất là sức hấp dẫn và năng lực lan tỏa của các giá trị văn hóa tích cực trên môi trường số chưa theo kịp sự phát triển của nền tảng và nội dung số. Đây là vấn đề rất cấp thiết, bởi không gian số hiện không còn là một bộ phận phụ của đời sống văn hóa, mà ngày càng trở thành môi trường chủ yếu hình thành nhận thức, thị hiếu và lối sống, đặc biệt đối với thế hệ trẻ. Nếu các giá trị văn hóa Việt Nam không được chuyển tải bằng ngôn ngữ hiện đại, hình thức hấp dẫn và công nghệ phù hợp, thì chúng ta có thể sở hữu một kho tàng văn hóa rất lớn nhưng lại thiếu khả năng tiếp cận công chúng.
Khoảng trống thứ hai là năng lực chuyển hóa di sản thành dữ liệu, tri thức số, tài sản trí tuệ và nguồn lực sáng tạo. Đây là sự phân biệt rất quan trọng giữa “số hóa hình thức” và “chuyển đổi số thực chất”. Một di sản không thể được coi là đã số hóa đầy đủ chỉ vì được chụp ảnh, quét tài liệu hoặc đưa lên một trang thông tin. Dữ liệu phải có định danh, nguồn gốc, tiêu chuẩn kỹ thuật, khả năng tìm kiếm, kết nối, chia sẻ và tái sử dụng; phải phục vụ được quản lý, giáo dục, nghiên cứu, du lịch, công nghiệp văn hóa và phát triển trí tuệ nhân tạo.
Khoảng trống thứ ba là năng lực sáng tạo sản phẩm văn hóa có sức cạnh tranh quốc gia và quốc tế. Chúng ta có lịch sử lâu đời, di sản phong phú, nhiều câu chuyện giàu giá trị nhân văn, nhưng chưa có nhiều tác phẩm điện ảnh, âm nhạc, văn học, thiết kế, hoạt hình, trò chơi điện tử hay sản phẩm nội dung số trở thành biểu tượng văn hóa có sức lan tỏa rộng. Điều còn thiếu không hẳn là chất liệu, mà là năng lực kết nối giữa người sáng tạo, công nghệ, vốn đầu tư, thị trường, bản quyền, truyền thông và hệ thống phân phối.
Khoảng trống thứ tư là thể chế và hệ sinh thái công nghiệp văn hóa. Đây là khoảng trống có tính nền tảng, bởi nếu thiếu hành lang pháp lý minh bạch, cơ chế tài chính phù hợp, chính sách đặt hàng, bảo hộ quyền tác giả, hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo và mô hình hợp tác công – tư, thì tiềm năng sáng tạo rất khó trở thành sức sản xuất và động lực tăng trưởng. Nghị quyết đã đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030 và 9% vào năm 2045, trong khi tỷ trọng hiện nay mới khoảng 4% GDP. Khoảng cách đó đòi hỏi phải có giải pháp đột phá chứ không thể chỉ kéo dài cách làm cũ.
Tương ứng với bốn khoảng trống ấy, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước quán triệt “ba chuyển dịch lớn”, phù hợp với nền văn hóa Việt Nam trong giai đoạn mới, đó là:
Chuyển dịch thứ nhất, từ coi văn hóa là một lĩnh vực sang xác lập văn hóa là nền tảng, trụ cột và động lực tăng trưởng mới, có ý nghĩa khắc phục tư duy xem văn hóa là lĩnh vực “chi tiêu”, đứng sau kinh tế. Khi văn hóa là trụ cột, thì yếu tố văn hóa phải được tích hợp ngay từ đầu vào quy hoạch, chiến lược, chính sách, dự án đầu tư, giáo dục, khoa học, công nghệ và quản trị quốc gia. Quan điểm này phù hợp với điểm mới rất quan trọng của Nghị quyết số 80-NQ/TW khi khẳng định văn hóa vừa là nền tảng, vừa là trụ cột, đồng thời là “hệ điều tiết” của phát triển.
Chuyển dịch thứ hai, từ không gian văn hóa truyền thống sang phát triển đồng thời trong không gian thực và không gian số, là yêu cầu khách quan của thời đại. Tuy nhiên, chuyển dịch này không đơn giản là đưa các nội dung cũ lên mạng, mà phải từng bước xây dựng năng lực tự chủ về dữ liệu, nền tảng và nội dung văn hóa Việt Nam, đồng thời nâng cao năng lực phân phối và đưa nội dung Việt Nam đến với công chúng trên các nền tảng số. Đó là một bộ phận của chủ quyền quốc gia trong thời đại số.
Chuyển dịch thứ ba, từ bảo tồn là chủ yếu sang kết hợp bảo tồn với sáng tạo, thể hiện cách nhìn năng động đối với di sản. Bảo tồn không có nghĩa là “đóng băng” di sản; sáng tạo cũng không có nghĩa là thương mại hóa bằng mọi giá. Mục tiêu là vừa giữ gìn tính xác thực, bản sắc và giá trị cốt lõi, vừa làm cho di sản tiếp tục sống trong đời sống đương đại, tạo ra tri thức, sản phẩm, việc làm, sinh kế cộng đồng và sức mạnh mềm quốc gia.
Như vậy, bốn khoảng trống là sự nhận diện đúng “điểm yếu hiện tại”, còn ba chuyển dịch là phương hướng để tạo ra “năng lực phát triển mới”. Hai nội dung này gắn bó hữu cơ, giúp việc triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW vừa có tầm nhìn chiến lược, vừa sát với những vấn đề thực tiễn đang đặt ra.
Giới văn học nghệ thuật nước nhà và những người làm công tác văn hóa đặc biệt quan tâm đến yêu cầu chuyển hóa di sản và vốn văn hóa thành dữ liệu, tri thức số, tài sản trí tuệ, sản phẩm sáng tạo và nguồn lực phát triển, không chạy theo tỷ lệ số hóa một cách hình thức.
Nội dung này chạm đúng một điểm hạn chế khá phổ biến trong quá trình chuyển đổi số văn hóa hiện nay. Ở một số nơi, số hóa vẫn được hiểu chủ yếu là chụp ảnh, quét tài liệu, lập danh sách hiện vật hoặc xây dựng một trang thông tin. Những công việc đó cần thiết, nhưng mới chỉ là bước đầu. Nếu dữ liệu thiếu chuẩn hóa, không có thông tin về nguồn gốc, bản quyền, tình trạng pháp lý, không liên thông và không thể tái sử dụng, thì dữ liệu vẫn nằm trong những “kho kín”, chưa tạo ra giá trị mới.
Khi được chuẩn hóa và kết nối, dữ liệu văn hóa có thể phục vụ nghiên cứu, giáo dục, truyền thông, công nghiệp văn hóa và phát triển các ứng dụng trí tuệ nhân tạo dựa trên nguồn tri thức đáng tin cậy của Việt Nam.
Việc xây dựng chủ quyền văn hóa trên không gian số là vấn đề mới và vô cùng quan trọng. Chủ quyền văn hóa số không chỉ là ngăn chặn nội dung xấu độc hay bảo vệ hệ thống kỹ thuật. Quan trọng hơn, đó là năng lực để văn hóa Việt Nam hiện diện một cách có bản sắc, có sức hấp dẫn và có khả năng tham gia định hướng giá trị xã hội. Một nền văn hóa mạnh không thể chỉ phòng vệ; phải có năng lực sáng tạo, nói bằng tiếng nói của mình và chinh phục công chúng bằng những sản phẩm có chất lượng và sức hấp dẫn, lan tỏa rộng rãi.
Nghị quyết số 80-NQ/TW cũng đã đặt ra định hướng xây dựng nền tảng văn hóa số toàn dân, bảo tàng số, thư viện số và các thiết chế văn hóa số nhằm mở rộng quyền tiếp cận, từng bước thu hẹp khoảng cách thụ hưởng văn hóa giữa các vùng, miền và nhóm xã hội.
Điểm cốt lõi là phải chuyển từ câu hỏi “đã số hóa được bao nhiêu” sang câu hỏi “dữ liệu ấy được ai sử dụng, tạo ra tri thức gì, phục vụ công chúng ra sao và đem lại giá trị xã hội như thế nào”. Đây là sự thay đổi rất quan trọng trong tư duy quản trị văn hóa.
Để Nghị quyết số 80-NQ/TW thực sự đi vào cuộc sống, cần đặc biệt lưu ý một số vấn đề sau:
Trước hết, phải tiếp tục cụ thể hóa Nghị quyết thành hệ thống pháp luật, cơ chế, chương trình và dự án có địa chỉ chịu trách nhiệm, nguồn lực, tiến độ và sản phẩm đầu ra rõ ràng. Cần khẩn trương hoàn thiện các chính sách về bản quyền tác giả, hoạt động nghệ thuật, công nghiệp văn hóa, dữ liệu văn hóa, hợp tác công – tư, tài trợ và đặt hàng sáng tạo. Đồng thời, phải rà soát sự liên thông giữa pháp luật văn hóa với pháp luật về đầu tư, đất đai, tài chính, thuế, khoa học – công nghệ và sở hữu trí tuệ để tháo gỡ những điểm nghẽn đang cản trở các chủ thể sáng tạo.
Hai là, phải chuyển mạnh từ quản lý theo thủ tục, số lượng sang quản trị dựa trên dữ liệu và kết quả. Việc ban hành Bộ chỉ số văn hóa quốc gia, Bộ chỉ số thống kê về đóng góp của các ngành công nghiệp văn hoá và Bộ chỉ số theo dõi, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW. Tuy nhiên, chỉ số không nên thiên về thống kê số lượng lễ hội, chương trình biểu diễn, triển lãm, thiết chế văn hóa…hay lượt truy cập, mà phải phản ánh chất lượng môi trường văn hóa, mức độ tham gia của người dân, sự bình đẳng trong thụ hưởng, năng lực sáng tạo, sức cạnh tranh và mức độ lan tỏa của giá trị Việt Nam.
Ba là, cần bảo đảm nguồn lực tương xứng và sử dụng nguồn lực có trọng tâm, trọng điểm. Mục tiêu tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa phải được cụ thể hóa trong dự toán và cơ chế giám sát. Nguồn lực nhà nước cần giữ vai trò dẫn dắt, tập trung vào hạ tầng thiết yếu, bảo tồn di sản quan trọng, dữ liệu nền tảng, đào tạo nhân lực và những lĩnh vực thị trường chưa thể tự bảo đảm. Đồng thời, cần tạo môi trường minh bạch để huy động nguồn lực doanh nghiệp và xã hội, nhưng phải phòng ngừa khuynh hướng thương mại hóa, chạy theo lợi nhuận mà coi nhẹ giá trị tư tưởng, giáo dục và nhân văn.
Bốn là, phải coi xây dựng dữ liệu văn hóa quốc gia là một nhiệm vụ hạ tầng chiến lược. Cần có kiến trúc dữ liệu thống nhất, bộ tiêu chuẩn dùng chung, cơ chế định danh, kết nối, chia sẻ, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và phân quyền khai thác. Trước mắt, nên ưu tiên các nhóm dữ liệu nền tảng như tiếng Việt, lịch sử, di tích, di sản phi vật thể, hiện vật bảo tàng, thư viện, văn học, âm nhạc, nghệ thuật dân gian truyền thống và di sản tư liệu. Việc số hóa phải gắn ngay với nhu cầu sử dụng trong giáo dục, nghiên cứu, du lịch, sáng tạo nội dung và trí tuệ nhân tạo.
Năm là, phát triển công nghiệp văn hóa phải đi từ những lĩnh vực Việt Nam có lợi thế và có khả năng tạo chuỗi giá trị. Không nên đầu tư dàn trải, mà cần lựa chọn một số lĩnh vực mũi nhọn như điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật, thiết kế thời trang, du lịch văn hóa, hoạt hình, trò chơi điện tử và nội dung số. Nhà nước cần hỗ trợ ở những khâu nền tảng như đào tạo, bản quyền, hạ tầng, xúc tiến thị trường, đặt hàng tác phẩm có giá trị và quảng bá quốc tế; đồng thời huy động năng lực sản xuất, phân phối và tiếp cận công chúng của doanh nghiệp ngoài công lập.
Sáu là, chú trọng đầu tư cho con người. Mọi chiến lược văn hóa cuối cùng đều phụ thuộc vào đội ngũ sáng tạo, quản lý và thực hành văn hóa. Cần có cơ chế phát hiện, đào tạo, trọng dụng nghệ nhân, văn nghệ sĩ – trí thức, nhà nghiên cứu, nhà thiết kế, kỹ sư công nghệ văn hóa, chuyên gia dữ liệu, quản trị bản quyền và truyền thông số. Đặc biệt, phải tạo môi trường thuận lợi cho thử nghiệm, đổi mới sáng tạo và phát huy tài năng trong khuôn khổ pháp luật.
Bảy là, phải coi trọng vai trò chủ thể của Nhân dân. Nghị quyết đã xác định phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân; Nhân dân vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là đối tượng thụ hưởng. Vì vậy, các chương trình văn hóa ở cơ sở phải xuất phát từ nhu cầu của cộng đồng, tôn trọng bản sắc từng vùng, miền, dân tộc và tạo điều kiện để người dân tham gia xây dựng, giám sát, phản biện và chia sẻ lợi ích từ tài nguyên văn hóa.
Cuối cùng, cần kiên trì quan điểm lấy con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển văn hóa. Thành công của Nghị quyết không chỉ được đo bằng tỷ lệ đóng góp GDP, số lượng sản phẩm hay số di sản được số hóa, mà trước hết phải thể hiện ở sự hoàn thiện nhân cách con người, môi trường xã hội nhân văn hơn, niềm tin được củng cố, cái tốt được lan tỏa, người dân được tiếp cận văn hóa bình đẳng hơn và hình ảnh đất nước, con người Việt Nam có sức hấp dẫn hơn trên thế giới.
Nói cách khác, đưa Nghị quyết số 80-NQ/TW vào thực tiễn phải bắt đầu từ thay đổi tư duy, được bảo đảm bằng thể chế và nguồn lực, được tổ chức bằng những chương trình cụ thể, nhưng cuối cùng phải trở thành sự thay đổi có thể cảm nhận được trong đời sống văn hóa hằng ngày của mỗi người dân, mỗi gia đình và toàn xã hội.
-----------------------------------------------------------------------------
Bình luận