Đi tìm câu trả lời về tên một ngôi đền từ thời Hùng Vương
Tôi rất vinh dự khi được PGS.TS Cao Văn, nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Hùng Vương, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Văn hoá Hùng Vương chi nhánh tỉnh Phú Thọ mời đi điền dã với nhóm nghiên cứu lịch sử vào ngày 15/5 âm lịch năm Nhâm Dần đến Làng Trẹo, thị trấn Hùng Sơn, huyện Lâm Thao, Phú Thọ với chủ đề: “Về với Cội nguồn” để tìm hiểu thêm về ngôi Đình làng mới được xây dựng cách đây hơn 10 năm.
Trong nhóm nghiên cứu còn có Nhà giáo Ưu tú Vũ Văn Viết, Hiệu trưởng Trường THPT Vũ Thê Lang, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Văn hoá Hùng Vương chi nhánh tỉnh Phú Thọ; Thạc sỹ Nguyễn Tiến Khôi, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Phú Thọ, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Văn hoá Hùng Vương chi nhánh tỉnh Phú Thọ, nguyên Giám đốc Khu di tích lịch sử Đền Hùng và cô giáo Nguyễn Thị Hằng, nguyên Giảng viên Trường Đại học Hùng Vương.
Trong nhóm, tôi là người lần đầu tiên được đến thăm, thắp hương tại ngôi Đình Triệu Phú ở làng Trẹo. Hôm đó đúng vào ngày rằm, rất nhiều người từ những tỉnh xa đến dâng hương, hoa, trà, quả, thậm chí có cả lễ mặn: mâm xôi, con gà với tâm trạng cung kính cầu phúc an lành. Ngôi đình ở đây lại trông y hệt như ngôi Đền Thượng trên núi Nghĩa Lĩnh.

Gian Đại bái Đình Triệu Phú.
Theo lời kể của các cụ cao tuổi ở làng, khu vực ngôi đình trước kia là miếu thờ các Vua Hùng của làng có từ hàng nghìn năm trước, về sau mới xây dựng thành đình của làng.
Làng Triệu Phú xưa có tên cổ là làng Trẹo. Cuốn lịch sử làng Trẹo có ghi: Không hiểu làng có từ bao giờ, chỉ biết rằng cuối thời Hồng Bàng (đầu thiên niên kỷ 3 TCN) đã có làng, có tên. Dân số thời Hồng Bàng, làng Trẹo có khoảng 1.000 người. Đến cuối thời Trần là 2000 người, thời hậu Lê còn 200 người (do cuộc thảm sát của giặc Minh). Làng Trẹo xưa vinh dự được đón Vua Hùng Vương thứ 18 (tức Hùng Duệ Vương) về làng ăn Tết từ 25 tháng chạp đến mùng 8 tháng giêng.
Để ghi nhớ công đức các Vua Hùng, về sau nhân dân làng Trẹo đã góp công sức xây dựng ngôi miếu đầu tiên trên Núi Nghĩa lĩnh để thờ tự các Vua Hùng và gọi là Hùng Vương Tổ Miếu (tức Đền Trung ngày nay). Còn các ngôi đền khác trên núi Nghĩa Lĩnh như Đền Thượng, Đền Hạ, Đền Giếng về sau mới được xây dựng. Kể từ đó, nhân dân làng Trẹo được giao nhiệm vụ con trưởng tạo lệ hương hỏa phụng thờ ngôi Hùng Vương Tổ Miếu (Đền Trung) trên núi Nghĩa Lĩnh, các đời vua sau này đã ra sắc lệnh miễn thuế cho dân làng để con trưởng tạo lệ có điều kiện hương hỏa phụng thờ.
Trao đổi với Thạc sỹ Nguyễn Tiến Khôi - Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Phú Thọ, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Văn hoá Hùng Vương chi nhánh tỉnh Phú Thọ, nguyên Giám đốc Khu di tích lịch sử Đền Hùng, tôi có thắc mắc về ngôi Đình Triệu Phú ở làng Triệu Phú (làng Trẹo) tại sao trông hệt như ngôi Đền Thượng trên núi Nghĩa Lĩnh, ông Khôi cho biết: Năm 2005, ông được UBND tỉnh bổ nhiệm làm Giám đốc Khu di tích lịch sử Đền Hùng, nâng cấp từ BQL trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch để trực thuộc UBND tỉnh. Năm 2007, tiếp tục triển khai thực hiện Quyết định số 48/TTG ngày 30/3/2004 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt, Quy hoạch phát triển Khu di tích lịch sử Đền Hùng; Bộ Văn hoá thông tin và UBND Tỉnh đã đồng ý cho Khu di tích lịch sử Đền Hùng tu bổ, tôn tạo các ngôi Đền trên núi Nghĩa Lĩnh.
Một bài toán đặt ra lúc đó là khi hạ giải các ngôi đền để tu bổ tôn tạo, thì toàn bộ vật liệu sau hạ giải không thể để chất đống cho mục nát mà cần phải chuyển cho một số địa phương để bổ sung tu bổ di tích ở những nơi di tích lịch sử văn hóa đã bị xuống cấp. Sau khi được UBND tỉnh đồng ý, vật tư công trình kiến trúc Đền Thượng đã chuyển cho làng Trẹo - làng cổ Thị trấn Hùng Sơn để tôn tạo Đình Trẹo, hiện tại được đặt tên là Đình Triệu Phú. Còn các đền khác sau này khi hạ giải cũng được chuyển cho một số xã như xã Phượng Lâu (Việt Trì), Sơn Dương (Lâm Thao)... để tu bổ, tôn tạo các ngôi Đền thờ Vua Hùng của địa phương đã xuống cấp.
Ngồi tiếp chuyện với chúng tôi tại phòng đón khách gần đình, Thủ từ Đào Ngọc Thắng (nguyên Bí thư Đảng uỷ Thị trấn Hùng Sơn, huyện Lâm Thao) cho biết: Sau khi tiếp nhận nguyên vật liệu ở Đền Thượng trên núi Nghĩa Lĩnh hạ giải chuyển về, làng đã vận động các mạnh thường quân ủng hộ kinh phí, nguyên vật liệu để tu sửa, tôn tạo lại ngôi đền trên nền đất đình cũ thờ các Vua Hùng. Lúc đó, Nghệ nhân Nhân dân Trần Độ ở Bát Tràng đã tự nguyện cung tiến toàn bộ số gạch xây đền, gạch lát nền đền, nghi môn. Đồng thời, một số nhà hảo tâm khác cũng phát tâm xin đóng góp kinh phí và công thợ. Sau một thời gian, ngôi Đình Triệu Phú đã được tu bổ, tôn tạo bảo tồn di tích này trông hình thức y hệt như phiên bản của Đền Thượng ngày trước trên núi Nghĩa Lĩnh.

Ba bài vị Hậu cung Đình Triệu Phú.
Khi việc tu bổ, xây dựng để bảo tồn di tích ngôi Đền Thượng trên núi Nghĩa Lĩnh sắp hoàn thành, nhân dân trong làng Trẹo tiếp tục đề nghị với các cơ quan chức năng và UBND tỉnh xin được tiếp nhận toàn bộ nội thất ngôi Đền Thượng cũ gồm có các ban thờ, hoành phi, câu đối... về thờ phụng. Riêng 3 chiếc ngai thờ trong hậu cung cũng được làm giống hệt 3 chiếc ngai trong hậu cung Đền Thượng tại Đền Hùng bây giờ.
Công việc tu bổ, xây dựng để bảo tồn di tích lịch sử văn hóa đình Triệu Phú ở Làng Trẹo đã hoàn tất, đại diện lãnh đạo địa phương cùng với Thạc sỹ Nguyễn Tiến Khôi đang là Giám đốc Khu di tích lịch sử Đền Hùng đã về Hà Nội để gặp trực tiếp GS Vũ Khiêu xin ý kiến về tên định đặt cho ngôi đình này và được GS Vũ Khiêu đặt tên là Hùng Vương Cơ Miếu. Ông nói: “đây là cơ nghiệp họ Hùng, nên chữ: Hùng Vương Cơ Miếu còn được hiểu là Miếu thờ cơ nghiệp Hùng Vương, lấy tên như vậy để đặt cho Đình Triệu Phú này (bảo tồn) di tích thời Hùng Vương là chính xác”.
Hàng năm, Thị trấn Hùng Sơn, huyện Lâm Thao có thông báo rộng rãi cho nhân dân trong và ngoài tỉnh về dự ngày giỗ Tổ Hùng Vương 10/3 âm lịch tại ngôi Đình Triệu Phú. Ở nơi đây, ngoài ngày giỗ chính Vua Hùng, theo tục lệ hàng năm còn có 2 ngày kỳ trại vào mùa xuân từ ngày 25 tháng chạp đến mùng 8 tháng giêng, dân làng mở hội tưởng nhớ Vua Hùng. Đồng thời còn diễn lại các tích xưa như: Lễ hội rước Chúa Gái về núi Tản - sông Đà. Còn vào mùa thu tháng tám trong các ngày mùng một và mùng hai âm lịch làng mở tiệc ăn mừng chiến thắng của Tản Viên chống Thục. Trong năm, dân làng Trẹo còn tổ chức ăn tết cơm mới vào hai dịp: mùng năm tháng năm và ngày mùng mười tháng mười âm lịch. Ngoài ra hàng năm vào ngày mùng hai tháng chạp làng tổ chức giỗ Tổ làng.
Tuy nhiên suốt một thời gian dài, do chưa có sự thống nhất giữa cơ sở và cơ quan quản lý cấp tỉnh về tên gọi đền hay đình cho đúng. Như vậy cuộc tranh luận tên đình và đền cứ tiếp tục mãi, cuối cùng Làng Trẹo đã thống nhất theo hướng dẫn lập hồ sơ di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch để trình UBND tỉnh, lý lẽ rất đơn giản là vì xây dựng trên đất nền của Đình Triệu Phú cũ thì phải là Đình Triệu Phú chứ không phải là Đền Triệu Phú hay Đền Hùng Vương Cơ miếu.
Năm 2020, trên cơ sở tờ trình của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ, ngày 11 tháng 01 năm 2021, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hồ Đại Dũng thay mặt UBND tỉnh Phú Thọ đã ký quyết định công nhận Đình Triệu Phú tại Làng Trẹo là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh.
Ở đây chúng ta cần hiểu rõ các khái niệm: đền, đình, miếu là hoàn toàn khác nhau. Đền là công trình kiến trúc được xây dựng để thờ cúng một vị thánh hoặc những nhân vật lịch sử được tôn sùng như thần thánh. Ở Việt Nam, phổ biến nhất là các đền thờ được xây dựng để ghi nhớ công ơn của các anh hùng có công với đất nước hay công đức của một cá nhân với địa phương được dựng theo truyền thuyết dân gian. Đình là nơi thờ thành hoàng của làng, đồng thời là nơi hội họp, bàn việc của dân làng. Đình được coi là trung tâm sinh hoạt văn hoá gắn bó với một cộng đồng dân cư và mang đặc trưng của nền văn minh lúa nước Việt Nam. Còn miếu nhỏ hơn nhiều so với đình và đền. Miếu là một dạng di tích văn hoá trong tín ngưỡng dân gian Việt nam. Đối tượng được thờ ở miếu rất đa dạng, thờ thần mây, mưa, sấm, sét, thờ thần rừng, Mẫu Thoải, Tam tòa Thánh Mẫu, Tứ phủ công đồng…

Nhóm nghiên cứu thắp hương hậu cung ngôi Đình Triệu Phú.
Hiện tại nội thất ngôi Đền Thượng được chuyển về thờ tự tại Đình Triệu Phú bố trí như sau: Tiền môn (phía ngoài nhìn vào có hai tượng chấn phong, chấn thuỷ và tên đình). Gian đầu tiên là Tiền tế khoảng 30m2, nơi đây để trống chiêng, các bức đại tự, y môn, bức chắn giữ mặt tiền và kiệu thần. Gian giữa là Đại bái có nhang án thờ hội đồng các quan, Lạc Hầu, Lạc Tướng, có bộ bát bửu, chấp kích, ngựa bạch, ngựa hồng, có hai bức lệnh chỉ sắc phong cao 1,4m, dài1,6m; và các hoành phi câu đối. Gian trong cùng là Hậu Cung được sắp xếp 4 cỗ long ngai (trong đó có ba bài vị ở giữa thờ Đột ngột Cao Sơn và 18 đời Hùng Vương. Ở ngoài nhìn vào bên phải là thờ Ất Sơn, bên trái là thờ Viễn Sơn). Ban tây cỗ long ngai không bài vị thờ hai công chúa: Tiên Dung và Ngọc Hoa. Bên trong cỗ long ngai vẽ bức tranh rồng vàng cao 2m, dài 2,4m. Bên phải nhìn vào thờ long mã, bên trái thờ phụng hoàng. Các ban thờ trong đều sắp đặt có đầy đủ bộ đồ thờ thất sự (bát hương, cây nến, ống hương, bình hoa, đài đẩu). Như vậy không gian hiện tại của ngôi đền rất hẹp, bầy toàn đồ chỉ để tế lễ, không có không gian rộng để dân làng ngồi hội họp, bàn việc thì sao gọi là đình được.
Toàn bộ nguyên vật liệu di tích hạ giải ở Đền Thượng chuyển cho Làng Trẹo để tôn tạo bảo tồn di tích thời Hùng Vương trên đất nền Đình Triệu Phú lại vẫn lấy tên là Đình Triệu liệu có nên không? Theo tôi đây không phải là đình mà là đền thờ tự các Vua Hùng trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh xã Hy Cương được đưa về làng cổ để bảo tồn. Với sự lý giải như trên, nên chăng đổi tên lại là Hùng Vương Cơ Miếu hoặc là Đền Trẹo?
Đồng thời, đẩy mạnh công tác quảng bá để người dân cả nước biết đến lịch sử đặc biệt của ngôi đền này, góp phần bảo tồn di sản văn hóa.

Trong cuốn hồi ức "Bác Hồ - Những kỉ niệm không quên", Thượng tướng Phùng Thế Tài bộc bạch: "Đúng là không thể...
Bình luận