Màu sắc ngôn ngữ trong “Những lời nói thật” của Đỗ Quảng
Đọc tập thơ "Những lời nói thật" của nhà báo, nhà thơ Đỗ Quảng do Nhà xuất bản Hội Nhà văn, tái bản lần thứ tư (Quý II năm 2026), tôi nhận ra nhiều điều mới mẻ và rất khác với hình thức thơ thông thường về cách cấu tứ các bài thơ.
Tập thơ được viết bằng một lối thơ riêng, giàu sức gợi từ những sự kiện của đời sống
Đời sống hiện thực là chất liệu, là cơ sở để Đỗ Quảng sáng tạo ra các bài thơ có mang dấu ấn rất riêng, độc đáo. Thủ thuật hư cấu dường như không tồn tại trong tập thơ này, do vậy thơ của ông có thể tạm xếp là “thơ ký sự”. Giá trị xã hội, văn học, hiện thực và tính gợi mở cho bạn đọc cách tư duy để tiếp tục hoàn thiện hơn trong các hoạt động sống của con người.
Có những bài thơ mang tính phản biện cao, nhưng vẫn hàm chứa tính nhân văn và gợi mở những hướng đi tích cực, thúc đẩy sự phát triển của xã hội, song song với sự tự hoàn thiện mình khi đã thấu hiểu những vấn đề bất thường, khác thường đang tồn tại trong xã hội, mà ở đó còn nhiều vấn đề cần được chỉnh sửa, đổi thay.

"Những lời nói thật" - nhà thơ Đỗ Quảng, NXB Hội Nhà văn, tái bản lần thứ tư, 2026
Với những bài thơ trong tập thơ, nhà báo, nhà thơ Đỗ Quảng tiếp cận trực diện với các mặt của đời sống xã hội hiện đại, mà không phải băn khoăn trong việc lựa chọn góc độ tiếp cận này hay góc độ tiếp cận khác. Cách tiếp cận trực diện khi sáng tạo văn học nghệ thuật là một sự dũng cảm, phải có đầy đủ năng lực thì mới có thể vững vàng thể hiện ý tưởng của mình qua sự lựa chọn những sự kiện đưa vào tác phẩm thơ. Nếu không có năng lực sáng tạo nghệ thuật thơ đúng nghĩa, thì sẽ vô hình chung là sao chép cuộc sống đơn thuần, theo đó không thể là tác phẩm văn học, nghệ thuật vì thiếu tính sáng tạo mang dấu ấn cá nhân.
“Đêm vượt sông
Thay nhau chốt giữ thành
B52 rải thảm, pháo bày chiến hạm
Tám mươi mốt ngày đêm
Đại đội mỗi ngày tan vào cát bụi”.
Không ai tả sự mất mát, hy sinh của các chiến sĩ giữ thành cổ Quảng Trị mùa hè năm 1972, như nhà thơ Đỗ Quảng. Sự hy sinh vô cùng lớn, khi đó, thành Quảng Trị được ví như “cối xay thịt”. Câu thơ hiện thực: “Đại đội mỗi ngày tan vào cát bụi”!
Độc lập, tự do của một dân tộc phải đánh đổi bằng xương máu của các chiến sĩ trên chiến hào.
Các bài thơ trong thi phẩm Những lời nói thật đóng vai trò cảnh tỉnh, qua sự phản ánh trực diện đời sống xã hội và gợi mở cho con người trong thời đại phải suy ngẫm, sửa chữa, tự hoàn thiện mình.
Cách tiếp cận trực diện các quan hệ xã hội hiện thực thể hiện qua sáng tạo thơ ca của Đỗ Quảng trong xã hội hiện đại thì chưa nhiều. Nói thẳng, nói đúng thực trạng xã hội mà mình đang sống không phải dễ dàng gì.


Thiếu tướng Phan Bá Dân và các tướng lĩnh tặng tập thơ "Những lời nói thật" của nhà báo, nhà thơ Đỗ Quảng cho Sư đoàn 395 và Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Ninh
Thơ khởi phát từ đáy lòng
Lương tâm nhà thơ nếu không trong sáng, vô tư, khách quan, không vì đời sống xã hội, không thật thì không thể viết ra được những bài thơ góc cạnh như thế.
Nhà thơ phải có "nhân", "tâm" trong sáng tạo, thì thơ không phụ thuộc vào hình thức thể hiện đều gây ra sự ám ảnh, tác động đến tâm khảm con người.
Theo quan niệm về đạo đức, nghĩa đen của "nhân" biểu lộ bản chất của quan hệ mang tính tương thân, tương ái giữa người với người. Về "nhân", còn được hiểu theo các nghĩa khác nhau như nhân là lòng yêu con người, vì con người. "Nhân" biểu lộ tình cảm, tâm lý, yếu tố nội tâm của nhà thơ và được thể hiện trong các tác phẩm của mình.
Nhà thơ Đỗ Quảng hiểu rất rõ vai trò và vị trí của nhà thơ trong quan hệ xã hội, yêu quý con người và tôn trọng sự công bằng xã hội, đấu tranh với những biểu hiện không vì lẽ phải và không vì các lợi ích chính đáng của con người. Nhà thơ hiểu rằng, nhận thức trực quan chỉ là một hình thức của nhận thức và được gọi là nhận thức trực quan kinh nghiệm; từ nhận thức trực quan này muốn biến hành ngôn ngữ thi ca thì còn cần phải phụ thuộc vào quan điểm nhận thức của nhà thơ. Phải thông qua phân tích lý trí và diễn giải biện chứng, cùng với hệ thống ngôn ngữ thơ thì mới tạo ra được các bài thơ.
“Quyền lực quan to, quan nhỏ
Trung ương, tỉnh, huyện, xã
Biết liêm sỉ, biết nhục
Chớ biến mình thành củi đốt”
(Dại khôn)
Lời thơ và ý thơ “thẳng tuột” như lời cảnh báo và khuyên răn bọn quan tham nhũng, tham ô. Thể hiện rõ lòng dân. Lò lửa chống tham nhũng rực cháy đốt hết cỏ rác và củi to, củi nhỏ, củi tươi không phân biệt các loại rác rưởi này được gieo trồng, vun xới theo những cách thức nào, ở đâu?
Nhà thơ Đỗ Quảng hiểu rất rõ ràng về "nhân" và "tâm" thì mới sáng tạo ra được những bài thơ thể hiện rõ những sự kiện trong xã hội đương đại. Thông qua ngôn ngữ thơ để thể hiện rõ quan điểm của mình. Điều đó thật rõ ràng, nếu nhà thơ mà lại đang trong tâm trạng miễn cưỡng thì không thể có tri thức tổng hợp, làm chủ bản thân để thể hiện ngôn ngữ thơ theo mục đích sáng tạo của mình.
Kiến thức xã hội, trải nghiệm sống, nghề nghiệp, trách nhiệm của công dân, quan điểm sáng tác của nhà thơ Đỗ Quảng là gốc, thể hiện ra câu chữ thơ là hệ quả của quan điểm và phong cách sáng tạo thi ca. Kiến thức phải cao dày, uyên sâu, có hệ thống, có căn cứ thì khi sáng tạo ra những bài thơ trong thi phẩm Những lời nói thật mới đủ sức thuyết phục lòng người.
Thi phẩm Những lời nói thật hàm chứa hai yếu tố, thứ nhất là năng lực biệt lập trong suy nghĩ của nhà thơ và thứ hai, có tâm để phân biệt đối với các giới hạn trong sáng tạo nghệ thuật vì con người trong xã hội hiện đại.
Tấm lòng của nhà thơ với các bài thơ hiện thực thì trước hết phải có "tâm", có trách nhiệm trước bạn đọc, cộng đồng, xã hội và tấm lòng yêu thương con người, vì con người. Nếu tâm không đủ, thì không thể thực hiện các bài thơ có cách tiếp cận và nội dung như trong thi phẩm Những lời nói thật. Có thể nhận xét, tác giả thi phẩm Những lời nói thật là người có tâm, có trách nhiệm thể hiện đúng mực và sâu sắc phạm vi lát cắt trải nghiệm của đời mình trong lĩnh vực báo chí cách mạng và thơ ca (Nhà báo Đỗ Quảng là phóng viên đặc biệt báo Nhân dân, nhà biên kịch điện ảnh).
Nhà thơ viết rất thật, nhưng không sa vào chủ nghĩa tự nhiên, mà sự thật đó được phản ánh lại tràn đầy trách nhiệm, tình yêu thương con người, vì con người và đều là những thi phẩm thơ đích thực, độc đáo và có ích cho xã hội. Nói thật chỉ là phản ánh hiện thực khách quan. Nhưng có sự lựa chọn để nói thật có trách nhiệm, có tình cảm, có khát vọng tự hoàn thiện được thể hiện trong các câu chữ tâm tình đầy trăn trở, lo toan, đau với nỗi đau của con người, vui với niềm vui của con người cùng khát vọng vươn lên thì đó là thơ.
Đỗ Quảng tỉnh táo như người chơi cờ tướng trong khi làm thơ
Là người làm thơ, sáng tạo ra sản phẩm trí tuệ là thi phẩm Những lời nói thật, nhưng tỉnh táo và làm chủ cảm xúc của mình, trong việc lựa chọn ý thơ, chọn chữ và thể hiện câu thơ, bài thơ. Nhà thơ không giấu suy nghĩ của mình, mà bộc lộ ra trong các ý thơ, bài thơ và mục đích sáng tạo.
Là chủ thể sáng tạo, nhà báo, nhà thơ Đỗ Quảng có toàn quyền tự do, tự tại thể hiện ý tưởng, mục đích, lựa chọn hình thức thể hiện các bài thơ mang tính hiện thực (thơ ký sự), nhưng nhà thơ không đứng ngoài cuộc với vai trò của người quan sát, mà tự giác hòa nhập cùng ước mơ, khát vọng và mong muốn cùng tìm giải pháp thay đổi những hiện tượng là rào cản trong hoạt động sống của con người, của toàn xã hội. Vì con người, vì sự tiến bộ thì cần phải khắc phục những tồn tại không lành mạnh trong xã hội theo xu hướng tiến bộ, văn minh.
Nhà thơ Đỗ Quảng hòa mình cùng sự chuyển động của xã hội, không mang tính hướng đạo, chỉ dẫn mà cùng tìm ra những giải pháp hữu hiệu để củng cố trách nhiệm, lòng yêu thương con người, hành động vì sự nghiệp đổi mới chung trong nhận thức và trách nhiệm của toàn xã hội trong đấu tranh chống tiêu cực, chống tham nhũng là những khối u gây nhức nhối trong tư tưởng của toàn dân:
“Chới với niềm tin
Mấy ông nghị sa lưới
Ăn của đút, nhận tiền vàng, tiền Mỹ
Chống lưng xã hội đen”.
(Vô đề 9).
Niềm tin vào con người luôn luôn là động lực của đoàn kết, hỗ trợ, cộng tác và cùng hành động vì lợi ích chung của xã hội. Nhưng những người có trách nhiệm, có địa vị, có sự ảnh hưởng đến nhiều người trong một xã hội có kỷ cương lại tự mình sa ngã, vì lợi ích của riêng mình thì niềm tin bị chới với, lung lay và dẫn đến mất niềm tin. Nhân dân không tin tưởng vào những người nhân danh tổ chức, xã hội mà hành xử không vì lợi ích chung.
Trách nhiệm công dân cũng được thể hiện rõ nét trong thi phẩm Những lời nói thật, là việc lựa chọn những người đủ tâm, đủ tầm lãnh đạo đất nước, vì dân, vì nước:
“Ai cũng được
Phải là người tử tế
Lo cho dân cho nước
Biết trước biết sau
Đừng nói một đằng làm một nẻo”.
(Đêm cuối năm trò chuyện một mình)

Doanh nhân Hoàng Văn Dư trao tặng 100 cuốn "Những lời nói thật" của Nhà báo, Nhà thơ Đỗ Quảng tới NSND, Hoạ sĩ Vương Duy Biên - Chủ tịch Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hoá Việt Nam
Màu sắc trong ngôn ngữ thơ của Đỗ Quảng
Màu sắc của ngôn ngữ thơ là tần số âm thanh mà khi đọc lên người nghe cảm nhận được độ đậm nhạt của thơ. Ngôn ngữ thơ có góc, có cạnh, màu sắc của chữ thơ, ý thơ như một bức tranh sơn dầu mô tả không gian sóng gió bão tố nắng gắt, trầm lắng, suy tư, trăn trở, khát vọng của con người. Ngôn ngữ trong trường hợp cụ thể còn thể hiện sự thong thả, điềm tĩnh, thanh bình hay lãng đãng như một bức tranh thủy mạc.., có thể rõ nét, không rõ nét, mờ ảo nhưng không vu vơ. Có ngôn ngữ thơ trầm hùng như sóng biển, thuỷ triều lên xuống.
Màu sắc của ngôn ngữ thơ không phải là màu sắc hội hoạ, mà hiểu như đặc điểm của ngữ điệu, tần số âm thanh của câu thơ làm nổi bật những điểm nhấn của ngôn ngữ gợi mở, gây chú ý, quan tâm của người đọc, người nghe. Màu sắc ngôn ngữ thơ làm nổi bật chủ đề mà nhà báo, nhà thơ Đỗ Quảng thể hiện mong muốn đạt được. Nhưng không phải nhà thơ nào cũng thể hiện tốt phần hồn, màu sắc của ngôn ngữ thơ thể hiện tâm trạng, ý chí, khí phách, bản lĩnh, trải nghiệm, kiến thức, kiến văn như tác giả thi phẩm Những lời nói thật.
Màu sắc của ngôn ngữ thơ trong thi phẩm Những lời nói thật thể hiện tính đa dạng kiến thức xã hội, thái độ, tâm trạng, bản lĩnh, trải nghiệm, cảm xúc và trách nhiệm của nhà thơ. Màu sắc của ngôn ngữ thơ trong thi phẩm không phụ thuộc vào vào phương ngữ, mà phụ thuộc vào bản lĩnh, thái độ, tâm trạng, cảm xúc của nhà thơ.
Những âm tiết của câu thơ khi đọc được thể hiện như một điểm nhấn trong nhịp thơ, thông tin mà câu thơ thể hiện.
Những lời nói thật có mảng màu của các bài thơ “vô đề”, là những bài thơ khó đặt tên hoặc những bài thơ mà chữ không đủ nghĩa để đặt tên.
“Phụng sự Tổ quốc
Lấy hạnh phúc người dân làm lẽ sống”
(Vô đề 1)
“Sướng khổ hơn thua đâu phải tiền bạc giàu nghèo
Gia đình, tổ quốc mới là nguồn cội
Hạnh phúc cuối
Xin được nằm dưới cỏ ấm đất quê nhà”.
(Vô đề 2)
“Quan to tướng tài đều là anh em , bạn bè, dòng họ ta cả…
Chém gió đầu lưỡi một tấc quá trời
Cái gì cũng nhất, thế giới chỉ có một.
…Tay trắng vẫn hoàn tay trắng
Ngộ ra thì đã muộn”
(Vô đề 4)
“Nếu làm luật
Hãy đặt đời sống của dân lên hàng đầu…
Nhìn thẳng vào đời sống thật của dân mới hiểu họ đang chịu đựng thế nào.
Những lời nói thật, hãy nghe mà sửa”.
(Vô đề 19)
“Can đảm nói thật, nói đúng, nói hết, nói trúng lòng dân
Nguồn sức mạnh vô biên, hạnh phúc đến mọi nhà”.
(Vô đề 20)
Đọc Những lời nói thật có cảm nhận thật rõ ràng. Nhà thơ là một nhà báo có tay nghề cao và có uy tín trong làng báo chí Việt Nam. Nhà báo đi nhiều, biết nhiều, viết nhiều và đã đạt ở mức độ uyên thâm về những tri thức tổng hợp, cá biệt trong đời sống xã hội Việt Nam và trên thế giới.
Vì vậy, thơ của ông hàm chứa dung lượng trí tuệ rất đồ sộ, sâu, rộng và có tính khái quát, gợi mở cao. Tập thơ Những lời nói thật như một kho dữ liệu được thơ hoá, theo đó tính chân thực, thời sự được thể hiện có tính hệ thống và thể hiện được nhân, tâm, trách nhiệm của một nhà báo, nhà thơ đối với đất nước trong thời kỳ đổi mới toàn diện.
Nhà báo, nhà thơ Đỗ Quảng đã thể hiện ý thơ, mục đích thơ thông qua hình thức thơ rất cá biệt và là sự biểu đạt tư tưởng, tình cảm, trách nhiệm của nhà thơ trước công chúng bằng những ngôn ngữ thơ rất thẳng, thật, chứa đựng kiến văn sâu sắc.
Thi phẩm Những lời nói thật xem như một “ký sự thơ”, bảo đảm tính hiện thực có vui, có buồn, có sự lạc quan và là sự gợi mở cho những nhận thức biết rõ người, rõ mình và cầu thị, chủ động khắc phục những tồn tại, cản trở để sắp xếp, khơi thông dòng chảy của hệ thống tư duy hợp quy luật phát triển trong thời đại công nghệ 4.0 và là sự tích luỹ cho sự phát triển xã hội trong tương lai.
Bình luận