Bàn về thơ hay viết cho trẻ em từ trải nghiệm cá nhân
Lâu nay, có một bộ phận tác giả hoạt động sáng tạo văn học, nghệ thuật cùng tác phẩm của họ không thật sự được coi trọng - thậm chí còn bị coi thường - khi hướng đến đối tượng phục vụ là trẻ em. Ngay cả nhiều nhà văn cũng cho rằng sáng tác cho trẻ em thì dễ nhưng khó nổi tiếng.
Nhìn nhận thơ viết cho trẻ em trên cơ sở hoạt động sáng tạo văn nghệ nói chung
Lâu nay, có một bộ phận tác giả hoạt động sáng tạo văn học, nghệ thuật cùng tác phẩm của họ không thật sự được coi trọng - thậm chí còn bị coi thường - khi hướng đến đối tượng phục vụ là trẻ em. Ngay cả nhiều nhà văn cũng cho rằng sáng tác cho trẻ em thì dễ nhưng khó nổi tiếng.
Thật ra, hoàn toàn không phải vậy mà ngược lại. Khu vực văn học, nghệ thuật dành cho trẻ em có tính đặc thù cao. Đặc thù trước tiên là yếu tố lứa tuổi (nhỏ bé) của nhân vật mà văn nghệ sĩ hướng đến để sáng tạo, đồng thời cũng là đối tượng thứ nhất (nhỏ bé) hưởng thụ tác phẩm. Sáng tác cho trẻ em không dễ. Làm cho hay, thuyết phục được trẻ em càng khó. Không ít tác giả đã làm thử, rồi phải "chào thua"! Muốn có tên tuổi là niềm hy vọng chính đáng của nhiều người viết, khổ nỗi tiếng vang đâu phải phụ thuộc vào việc sáng tác cho ai, sáng tác về cái gì, mà do tài năng và lao động sáng tạo quyết định.
Người viết bài này xin tạm nêu lên 10 yếu tố cần thiết giúp tác phẩm văn nghệ dành cho trẻ em đạt được chất lượng. Có yếu tố phù hợp với lĩnh vực văn học, có yếu tố đắc dụng đối với lĩnh vực nghệ thuật.
Một là: Ngây thơ, ngộ nghĩnh, trong trẻo, giản dị, dễ hiểu là yếu tố đầu tiên giúp tác phẩm đến với trẻ thơ dễ dàng, nhất là trẻ chưa đi học hoặc vài lớp đầu tiểu học. Người sáng tác cần chú ý ngay đến lứa tuổi độc giả theo từng nấc bậc. Từ tuổi lên năm đến mười lăm là một khoảng cách dài, cần phân biệt từng chặng đường.
Hai là: Vui nhộn, hài hước. Kiểu nói ngược, nói đố, đưa ra cái phi lý tưởng như là ất ơ, dớ dẩn (mà vẫn có nghĩa nào đó) lại giúp trẻ nhỏ tăng thêm niềm hứng thú, như được dự một trò chơi.
Ba là: Tăng động, giảm tĩnh. Nhiều hình ảnh, âm thanh, sắc màu. Đưa người thưởng thức vào các mối quan hệ. Tăng đối thoại, gợi đối thoại đối với người tiếp nhận.
Bốn là: Mới mẻ, lạ kỳ. Biến hóa. Giúp các em nảy sinh và nuôi dưỡng trí tưởng tượng.
Năm là: Chất truyện tạo hấp dẫn (như cổ tích, thần thoại, chuyện lạ từng mê hoặc trẻ thơ). Nếu là thơ thì dạng truyện kể có ưu thế hơn dạng trữ tình nội tâm. Tránh dài dòng và nghèo nàn về hình ảnh. Nên giảm nghĩ ngợi triền miên, nặng nề.
Sáu là: Chất dân gian thắm đượm. Đồng dao chẳng phải là vốn văn học dân gian đáng quý của trẻ em đó sao? Đương nhiên, tránh sao chép dân gian mà cần sáng tạo một cách linh hoạt. Khi phong vị dân gian thấm nhuyễn vào tác phẩm thì các em sẽ dễ bị thuyết phục.
Bảy là: Tính dân tộc truyền thống cần luôn luôn hòa quyện vào tính hiện đại quốc tế cả ở nội dung và cách diễn đạt (với một mức độ, sắc thái có thể). Tránh lai căng xa lạ. Nâng cao ý thức bồi dưỡng tâm hồn người Việt, dẫn trẻ em trở về với cánh đồng, con cò, sân đình, cây đa, bến nước... Tuy nhiên, nên nhớ rằng nhịp điệu thơ văn cùng đời sống, tâm hồn đều đều như sông chảy, mây trôi, hình ảnh quê nhà mòn lặp, hoặc tranh vẽ, vở diễn, lời ca... cũ kỹ, khô cứng, thì không còn tương thích với tâm lý và nhu cầu của trẻ em hôm nay.
Tám là: Phẩm chất tư tưởng nghệ thuật không chỉ dành riêng cho độc giả trưởng thành mà còn rất cần đối với tuổi thơ. Về ý nghĩa, phạm trù tư tưởng và phạm trù giáo dục không tương đương. Tư tưởng phải vượt quá sự khuyên, dạy cụ thể, thông thường để vươn tới tầm cao hơn là CÁI ĐẸP VĨNH HẰNG. Tuy nhiên, việc truyền đạt tư tưởng phải có nghệ thuật, phải phù hợp với tâm lý lứa tuổi, trình độ nhận thức và sáng tạo của trẻ.
Chín là: Sử dụng hợp lý hai biện pháp hiện thực trực tiếp và hiện thực đồng thoại. Hiện nay, đồng thoại chỉ còn phù hợp nhiều đối với lứa tuổi bé nhất. Nhiều tác giả thấy đồng thoại dễ viết mà ít để ý rằng biện pháp nghệ thuật này trùng lặp quá nhiều. Văn học, nghệ thuật dành cho trẻ em đang cần tính giáo dục cao thì biện pháp hiện thực trực tiếp sẽ tạo thuận lợi cho văn nghệ sĩ hơn. (Nhà thơ thần đồng Trần Đăng Khoa rất ít sử dụng đồng thoại mà thơ vẫn rất hay).
Mười là: Chú ý đến ngôn ngữ văn chương, chăm chút cho vẻ đẹp của tác phẩm sẽ khiến trẻ thơ yêu tiếng Việt, ham mê tìm hiểu, trau dồi lời ăn tiếng nói. Từ đó các em biết thế nào là một bài thơ hay, một cuốn truyện hấp dẫn, rộng cao hơn là cảm thụ được vẻ đẹp linh diệu của văn hóa tinh thần.
Những yếu tố nêu trên thường xuyên xen thấm vào nhau trong tác phẩm. Tùy thể loại, loại hình văn học, nghệ thuật, và liều lượng, không nhất thiết tác phẩm nào cũng cần đầy đủ tất cả các yếu tố nêu trên. Cần lưu ý rằng nghệ thuật tuy có những điểm chung với văn học nhưng cũng có những yếu tố rất riêng, ấy là ngôn ngữ thuộc các loại hình khác nhau, không chỉ là ngôn ngữ văn tự.

Ảnh minh họa.
Tìm thơ hay
Thơ hay dành cho trẻ em là thơ gây cho trẻ em niềm thích thú, bởi nó phù hợp với tâm lý lứa tuổi của trẻ, góp phần lớn bồi dưỡng sâu đậm tình yêu đối với cái đẹp của đời sống và của văn chương, giúp hoàn thiện nhân cách văn hóa cho trẻ em. Thơ hay đối với trẻ em cũng được người đọc trưởng thành hâm mộ.
Khi xác định thơ hay dành cho bạn đọc là trẻ em, cần chú ý những điều sau: Nhìn chung, số bài thơ hay dành cho trẻ em ít hơn dành cho người trưởng thành do tính đặc thù của khu vực sáng tác này. Viết cho trẻ em được thừa nhận là hay thì không dễ dàng.
Thơ dành cho trẻ em khác dành cho người lớn. Có những bài thơ hay không phù hợp với trẻ em, trái lại, đã là thơ hay dành cho tuổi thơ thì bạn đọc yêu thơ từ thanh niên đến người già đều yêu thích.
Thơ hay cần phù hợp với tâm lý lứa tuổi, trình độ hiểu biết của trẻ em. Có bài thơ học sinh tiểu học yêu thích nhưng, cũng những bạn đọc ấy, lên đến trung học lại lơ đãng, bỏ qua. Và rất khó có thơ hay, rất hay cho lứa tuổi mầm non, tuổi nhà trẻ, bởi tâm trí các em chưa đến tầm đón đợi tứ thơ và ngôn ngữ nghệ thuật ở mức cao cần thiết.
Cũng như thơ nói chung thuộc mọi lứa tuổi, cái hay của thơ dành cho trẻ em phụ thuộc vào thời điểm ra đời, và sự tồn tại của tác phẩm trong quá trình phát triển của lịch trình xã hội - thời đại. Trẻ em hôm nay đã thay đổi nhiều về hoàn cảnh sống, về tâm lý, trình độ hiểu biết... Có những bài thơ xưa kia rất hay, nhưng đến nay đã trở nên cũ kỹ.
Không nên chê trách sách giáo khoa có một số bài thơ bình thường, không được hay lắm. Sách giáo khoa dùng để dạy và học theo chủ đề, định hướng giáo dục là chính. Nếu có sáng tác nào bảo đảm đủ cả hai yêu cầu nội dung và nghệ thuật một cách mĩ mãn thì càng tốt.
Không phải bất kỳ nhà thơ tên tuổi nào từng viết nhiều cho trẻ em, cũng luôn luôn có thơ hay. Có những tác giả ít viết, không được nhiều bạn đọc biết đến, không có bài trong sách giáo khoa hoặc ít được tham gia vào các tập tuyển thơ danh giá, lại có thơ hay.
Đối với người trưởng thành yêu thơ, không cần ai hướng dẫn, vẫn biết là thơ hay hoặc thơ dở. Nhưng đối với bạn đọc nhỏ tuổi, chúng ta nên hướng dẫn cảm thụ thơ, giúp trẻ em nhận biết cái hay, cái đẹp của bài thơ.
Việc phân loại, minh định thơ hay là cần thiết. Có thơ hay cho riêng từng lứa tuổi và có thể soạn xếp thành hai nấc bậc chất lượng là hay và hay nhất.
Chúng tôi đã khảo sát nhiều quyển sách thơ và bình thơ tiêu biểu xuất bản từ năm 1975 đến năm 2022 (gần 50 năm) để tìm ra những bài thơ hay rồi nêu tỉ lệ về số lượng trong quan hệ với tất cả các bài thơ trong mỗi quyển sách trên quan điểm cá nhân.
Hương cốm, Nxb Kim Đồng, 1975 (in 20.300 cuốn). Tuyển chọn: không rõ ai, cuối sách ghi: Biên tập: Định Hải. Tỉ lệ bài hay: 6 bài trên tổng số 36 bài.
Tuyển tập thơ thiếu nhi 1945 - 1985, Nxb Kim Đồng, 1986. Nhóm tuyển chọn: Phạm Hổ, Văn Hồng, Hữu Thỉnh, Xuân Quỳnh, Quang Huy, Định Hải. Tỷ lệ bài hay: 24/125.
Thơ cho tuổi thơ 1975 - 1990, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 1990. Tuyển chọn: không thấy nêu. Cuối sách ghi: Biên tập: Thái Thăng Long. Tỉ lệ bài hay: 2/29.
Thơ với tuổi học trò (thơ chọn kèm lời bình), tập 1, Nxb Lao động, 1993. Tuyển chọn: Trinh Đường. Tỉ lệ bài hay: 14/23.
Văn học cho thiếu nhi, Nxb Văn học, 1995. Hội đồng giám định: Phạm Hổ, Lữ Huy Nguyên, Nguyễn Quỳnh, Định Hải. Tỉ lệ bài hay 40/203.
Thơ chọn với lời bình dành cho học sinh tiểu học, Nxb Giáo dục, 1997. Tuyển chọn: Nhiều tác giả. Chủ biên: Trần Thị Phú Bình - Lê Hữu Tỉnh. Tỉ lệ bài hay: 16/62.
Những bài thơ em yêu (thơ chọn kèm lời bình), Nxb Giáo dục, 1998. Tuyển chọn: Phạm Hổ, Nguyễn Nghiệp. Tỉ lệ bài hay: 22/100.
Tuyển tập thơ hay dành cho thiếu nhi, 2 tập, Nxb Trẻ TP. Hồ Chí Minh, 1999. Nhóm tuyển chọn: Định Hải, Nguyễn Trí Công. Tỷ lệ bài hay: 11/147.
Thơ thiếu nhi chọn lọc, Nxb Thanh niên, 2000. Nhóm tuyển chọn Định Hải, Xuân Dục, Minh Phúc. Tỷ lệ bài hay: 34/164.
Tuyển chọn những bài thơ hay dành cho tuổi học trò, Nxb Lao động, 2003. Tuyển chọn: Quang Khải. Tỷ lệ bài hay: 22/155.
Văn học thiếu nhi Việt Nam - thơ tuyển, Nxb Từ điển bách khoa, 2004. Biên soạn: Nguyên An, Định Hải. Thẩm định: Phạm Hổ, Phùng Ngọc Hùng, Trần Đăng Khoa, Vân Thanh. Tỉ lệ bài hay: 74/634.
Tìm vẻ đẹp bài thơ ở tiểu học, Nxb Giáo dục, 2004. Nhóm tuyển chọn: Nguyễn Trí, Nguyễn Trọng Hoàn, Giang Khắc Bình. Tỉ lệ bài hay: 7/40.
Thơ nhi đồng Việt Nam và thế giới chọn lọc (Nxb Thanh niên, 2012). Nhóm tuyển chọn: Đinh Hải, Quang Huy, Minh Phúc. Tỉ lệ bài hay: 19/91 (Chúng tôi không khảo sát phần thơ thế giới. Tập thơ này nêu rõ "thơ nhi đồng" cho nên bài hay được nới rộng về phương diện nghệ thuật biểu hiện).
Luyện tập về cảm thụ bài thơ trong sách Tiếng Việt, từ lớp 1 đến lớp 5 (hai tập), Nxb Giáo dục Việt Nam, 2012. Tái bản nhiều lần. Tuyển chọn kèm lời bình: Phạm Đình Ân. Tỉ lệ bài hay: 47/113.
Thơ cho tuổi thơ (Giới thiệu và bình thơ), (Nxb Hội Nhà văn, 2017). Tuyển chọn: Vũ Nho. Tỉ lệ bài hay: 12/61.
65 bài thơ hay dành cho thiếu nhi, Nxb Kim Đồng, 2022. Tuyển chọn: Cao Xuân Sơn. Đây là tập thơ tuyển mới nhất, khác biệt, khó làm. Sách ra nhân dịp kỷ niệm 65 năm nhà xuất bản Kim Đồng, bởi thế số lượng bài bị khuôn vào con số 65, quá ít ỏi. Thêm nữa, sách chỉ do một người làm, có quan niệm rất riêng của một nhà thơ - cũng viết cho trẻ em - về thơ hay, thoát khỏi một cách táo bạo lối đi cũ mòn. Ngoài những bài thơ hay mà nhiều người đã biết, người tuyển chọn đã có phát hiện về các thi phẩm Chị (Kim Ba), Bà (Trần Mạnh Hảo), Gạo tắm (Nguyễn Lãm Thắng), v.v. Chúng tôi trân trọng và chấp thuận sự tuyển chọn 65 bài thơ hay do tác giả nhà thơ Cao Xuân Sơn thực hiện ở ấn phẩm đặc biệt này.
Qua 16 thí dụ nêu trên, chúng tôi có con số tỉ lệ lượt bài hay trong tổng số bài khảo sát là: 475/1699. (Đối với riêng từng quyển sách, thì đó là những đơn vị tác phẩm, nhưng khi liệt kê tất cả từ 2 quyển trở lên, thì đó là những lượt tác phẩm, bởi các sách in sau hoặc in cùng đều trùng nhau ít nhiều).
Tiếp cận thơ hay nhất
Từ 475 lượt bài thơ hay, chúng tôi chọn một lần nữa để (sau khi bỏ trùng lặp) để rút ra những đơn vị bài thơ hay nhất (khoảng 70 bài). Các trường hợp đương nhiên là: Trần Đăng Khoa 7 bài, Võ Quảng 6 bài, bạn đọc có thể chọn ra dễ dàng, không cần nhắc lại nữa. Ngoài ra, những trường hợp rất quen thuộc, rất đáng nhớ, nhưng xem là thơ rất hay thì chưa hẳn, được xếp vào nhóm cần đặc biệt chú ý, đó là các bài Đi học (tên khác là Hương cốm tới trường) của Minh Chính, Mặt trời xanh của tôi của Nguyễn Viết Bình, Lượm của Tố Hữu, mấy bài của Huy Cận... Bởi thế, chúng tôi cũng không đưa vào nhóm thơ hay nhất. Riêng Định Hải, chúng tôi loại bỏ hầu hết những bài thơ từng đưa vào sách giáo khoa tiểu học, thay vào đó là 6 bài (ít ra là hay nhất của ông?): Lấy đường cho em, Trăng rằm, Tiếng ve, Trò chơi của biển, Cuốc mẹ cuốc con, Gọi bạn.
Sau đây là những bài thơ hay nhất còn lại: Chú bò tìm bạn, Đàn gà mới nở (Phạm Hổ), Hoa mơ (Ngô Quân Miện). Thương ông (Tú Mỡ), Bé nhìn biển, Bà (Trần Mạnh Hảo), Ngưỡng cửa (Bằng Việt), Chợ chim (Hữu Thỉnh), Quê hương (Đỗ Trung Quân), Đêm qua chim chích ngủ đâu (Nguyễn Hoàng Sơn), Chuyện cổ tích về loài người, Bầu trời trong quả trứng (Xuân Quỳnh), Cánh cửa nhớ bà (Đoàn Thị Lam Luyến), Nhà không có bố (Nguyễn Thị Mai), Ngày hôm qua đâu rồi (tên khác: Bóc lịch - Bế kiến quốc ), Mẹ vắng nhà ngày bão (Đặng Hiển), Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ (Nguyễn Khoa Điềm), Cả nhà đi học, Con chuồn chuồn đẹp nhất (Cao Xuân Sơn), Mẹ và cô, Ong mật rừng U Minh (Trần Quốc Toàn), Nhà bố ở (Nguyễn Thái Vận), Đồng hồ báo thức (Hoài Khánh), Cánh cam lạc mẹ (Ngân Vịnh), Đi làm nương (Nguyễn Thị Hường Lý), Sang năm con lên bảy (Vũ Đình Minh), Điện, Biển (Đặng Hấn), Trong căn nhà vàng (Nguyễn Thái Dương), Với con (Bùi Việt Mỹ), Đôi bạn, Sợi dây phơi (Hoàng Tá), Cây quên mình (Đàm Chu Văn), Chuyện bên hồ (Phạm Đông Hưng), Cháu nghe câu chuyện của bà (Ngân Vịnh), Ngày hội rừng xanh, Qua cầu (Vương Trọng), Cây rơm, Cua càng thổi xôi (Nguyễn Ngọc Phú), Buổi tối trong vườn, Tiếng khóc bên vệ đê (Thanh Hào), Nhổ tóc sâu (Bùi Công Tường), Tiếng chim (Nguyễn Châu), Đám mưa con (Phi Tuyết Ba), Cơm lam (Lò Ngân Sủn), Cái roi ngày ấy (Đinh Phạm Thái), Chị (Kim Ba), Gạo tắm (Nguyễn Lãm Thắng), Ruộng bậc thang (Nguyễn Đức Quang).
Những bài thơ hình như chưa được in sách, xin giới thiệu Nắng tương (Hoàng Anh Tuấn - Báo Văn nghệ, 22-7-2017 và bài Tiếng đêm của Nguyễn Thế Vinh (Tạp chí Sông Châu, tỉnh Hà Nam, số 7+8 - 2019). Các bài Cây bên đường (Bùi Đức Khiêm), Bóng cây (Thái Vĩnh Linh) không rõ in ở đâu. Nguyên văn Cây bên đường: “Con đường nằm ở giữa/ Hai hàng cây hai bên/ Buổi sáng, khi mặt trời lên/ Hàng cây bên này/ Ngả bóng sang che cho bạn// Buổi chiều, khi mặt trời chưa lặn/ Hàng cây bên ấy/ Lại rủ bóng sang bên này// Ngày lại ngày/ Con đường nằm ở giữa/ Nhìn hàng cây che bóng mát cho nhau”. Bóng cây: “Hòn đảo không có cây, Trắng một màu đất, cát /Cầm súng gác đêm ngày/ Bố là cây bóng mát// Mênh mông bên bờ biển/ Trời xanh không gợn mây/ Giữa trưa hè đồng muối, Mẹ cũng là bóng cây...”
Chúng tôi chú ý đến thơ viết cho trẻ em của nhà thơ Lê Thị Mây. Trong tập thơ chọn lọc Hoa phượng sân trường (Nxb Văn học, 2024) bà gửi đến các em 259 bài thơ. Số bài thật hay một cách trọn vẹn không nhiều như mong đợi (nếu muốn chọn một số bài thì phải sửa câu, cắt đoạn...), nhưng phải nói rằng đó là thơ của một tác giả tài hoa. Bà có nhiều câu thơ hay. Chẳng hạn: “Bếp tro nhóm lửa tưng bừng/ Mùa đông ngậm một củ gừng xuýt xoa, hoặc Sao mai ướt đẫm tiếng gà/ Trắng đêm mẹ thức bóng nhòa ngọn cau hoặc Mẹ ơi áo mẹ nắng mưa/ Đầu hôm mẹ giặt vạt vừa nhúng trăng/ Sâu thơi miệng giếng no rằm/ Dây tình con nối tháng năm múc đầy”. Thơ Lê Thị Mây gián tiếp nhắc bạn nghề nên chú ý đến câu thơ, dẫu rằng làm được câu thơ hay cho trẻ em là rất khó. Một số câu thơ hay của tác giả này hướng đến độc giả lớn tuổi.
Riêng trường hợp cá nhân tôi, xét về thơ hay, tôi tự loại bỏ bài Tắc kè hoa, mặc dù đã được tuyển chọn vào sách giáo khoa tiểu học, lại trùng tên với một tập thơ cùng tác giả, kể cả bài Mượn ông cái kính, bởi đó là những bài thơ bình thường. Không bàn đến thơ đố, thì ngoài một số bài thơ hay, khi nói đến thơ trên mức hay (ít ra là đối với riêng một tác giả) thì tôi thấy, trong khoảng ba trăm bài thơ đã xuất bản trong năm mươi năm qua, có các bài: Quà của bố, Đất đi chơi biển, Cỏ may bền bỉ, Bạn cõng thầy cõng, Kỉ niệm hiếm có, Đường trên suối dưới, Ngẫu nhiên gặp gỡ, v.v. (trong các tập thơ Đất đi chơi biển - 2007, Thềm trăng trải chiếu - 2020, Tay con tay mẹ - 2024),.v.v. Mong được bạn đọc minh định.
Lời kết
Qua khảo sát tìm thơ hay dành cho trẻ em, chúng tôi thấy khoảng cách từ tổng số các bài thơ (trong đó có thơ hay) đến số lượng bài thơ hay nhất là rất xa: 1.699 lượt bài → khoảng 70 bài. Đã nói đến thơ hay thì nên có ít dòng nói đến thơ yếu kém, để tìm ra nguyên nhân để tránh, nhằm tăng số lượng thơ hay và thơ hay nhất.
Một là, thơ tả cảnh thiên nhiên, kể việc quen mòn, lặp lại quá nhiều, ít mạnh dạn sáng tạo, đổi mới. Tràn lan hình ảnh mùa hè với tiếng ve, hoa phượng đến trăng sáng, cơn mưa, sóng biển... Bằng biện pháp nghệ thuật đồng thoại truyền thống ít đổi mới, hình ảnh những con vật: khỉ, hổ, sóc, cáo... (thú hoang) đến gà, chó, mèo, thỏ, lợn, chuột... hoạt động sôi nổi - như người có mặt thường xuyên trên nhiều trang thơ. Trong khi đó, thơ về đời sống hiện thực, các quan hệ gia đình, nhà trường, xã hội đầy ấm áp hoặc xót thương lại không được chú ý một cách thỏa đáng.
Hai là, thơ có tính giáo dục, nhưng nhiều khi khuyên răn lộ liễu, mang tư tưởng chính trị khô khan mà xem nhẹ tư tưởng nghệ thuật (hoặc không có tư tưởng gì), dẫn đến thơ chỉ tả suông, kể nhạt, ngay cả chức năng giải trí vừa chơi vừa học cũng không đạt.
Ba là, người viết không xác định rõ ràng nấc bậc lứa tuổi bạn đọc trẻ thơ, để hướng đến khi suy nghĩ và sáng tạo. Sách tuyển xếp chung thơ dành cho tuổi rất bé vào thơ tuổi đã lớn. Tác giả đưa vào sách riêng cũng lầm lẫn như thế. Nên hiểu rằng, cùng một bài thơ, có thể sẽ chẳng hấp dẫn gì đối với lứa tuổi bé nhất mà lại cuốn hút trẻ tuổi mười hai, mười bốn.
Bốn là, nhiều tác giả ít duyên với thơ viết cho trẻ em, nghèo về tâm hồn, không chăm chút kỹ năng, đôi khi có viết (hoặc viết nhiều đi nữa), vẫn chỉ cho ra sản phẩm yếu hoặc trung bình, nhưng hễ có dịp nhà xuất bản hoặc hội đoàn nào ra "tuyển thơ thiếu nhi" là ông/ bà hăng hái gửi bài. Bài yếu kém, choán phần lớn là vậy.
Năm là, hiện nay, tác giả thơ viết cho trẻ em hầu hết là người trẻ, rất trẻ xuất hiện nhiều do xã hội, hội đoàn kêu gọi, cỗ vũ. Đáng mừng, nhưng cũng nên bình tĩnh xem xét lại. Sách bây giờ dễ in. Báo ở trung ương không nhiều thì thơ rút về công bố ở báo, tạp chí tỉnh nhà. Tác phẩm yếu kém và trung bình là chính. Phải chăng viết thơ hay cho trẻ thơ, phần lớn lại vẫn là những tác giả trên trung niên và đứng tuổi?

Nhân dịp nhà văn, dịch giả Lê Bá Thự cho ra mắt hai cuốn sách "Lê Bá Thự - Tiểu luận & Phê bình văn học" và "Lê...
Bình luận