Lý luận, phê bình văn học và những chuyển đổi

Trước hết, xin nói ngay, bài viết này không phải một “nghiên cứu” hay một “khảo cổ văn học”, mà chỉ là những ghi chép của một người làm nghề dạy học, qua đó ít nhiều gợi ra không khí/“câu chuyện lý luận, phê bình” văn chương đương đại.

Đầu tiên là về thực trạng. Có thể nhận thấy, lâu nay, hễ bàn đến lý luận, phê bình văn học là đồng nghĩa với thở than, nhiều nhất là về đội ngũ, tiếp đến là về chất lượng và định hướng. Điều này phổ biến đến mức, nó dường như trở thành một vấn đề muôn thuở, không nói không xong, nói ra thì, biết rồi, “rõ khổ”. Đáng tiếc, những than thở này, phần nhiều là sự thật.

Cảm giác đầu tiên là những đứt gãy và mỏng manh về đội ngũ. “Đội ngũ lý luận, phê bình ngày càng teo tóp”, “Lý luận, phê bình văn học vừa yếu, vừa thiếu”, “Khoảng trống đội ngũ lý luận, phê bình văn học nghệ thuật”… Thì bấy nay, sau một thế hệ vàng (nhiều người trong số đó đã mất, đã già hoặc rút khỏi đời sống văn học), hỏi còn mấy ai chuyên sâu lý luận, phê bình. Cho nên, lúc nào cũng thiếu hụt kinh niên về đội ngũ. Chẳng thế mà, cứ vài năm, người ta lại “đốt đuốc đi tìm nhà lý luận, phê bình văn học”.

Vì sao như vậy? Câu trả lời ở đây chẳng có gì bí ẩn. Trước hết, hãy tạm gác lòng tự ái sang bên để nhìn vào sự thật. Như nhiều người đã chỉ ra, từ trong truyền thống, chúng ta vốn không mạnh, không giàu về lý luận, phê bình văn học, và trên thực tế, lý luận, phê bình văn học dường như chưa bao giờ được coi trọng đủ mức cần thiết. Thế nên, bên cạnh tình trạng ngại, sợ, còn có chuyện coi thường lý thuyết, một số thấy nó chẳng có tác dụng gì. Thế là, bấy nay, người ta vẫy vùng trong lịch sử văn học, say mê kể chuyện nhà văn, diễn giải miên man tác phẩm, trong khi luôn thiếu những nhận thức, tư duy mảng khối về văn học. Chúng ta “thừa” người đọc nhưng lại thiếu cách đọc, mô hình đọc (tức đọc sâu, đọc bằng lí tính). Ở đại học và một số viện nghiên cứu, số lượng đề tài nghiên cứu lịch sử văn học luôn áp đảo số nghiên cứu lý luận, phê bình. Hằng năm, chỉ có vài ba đề tài khoa học theo hướng nghiên cứu lý thuyết của một nhóm các nhà khoa học ở viện hoặc trường, như muối bỏ bể. Việc giới thiệu lý thuyết vốn dĩ khó khăn. Việc đọc nó hầu như cũng ít được quan tâm, ngay cả đối với những người đáng ra cần quan tâm nhất. Trong giới đại học, số người theo đuổi lý luận, phê bình ngày càng ít. Một số trong đó thiếu dự hướng, hoặc không theo đuổi đến cùng. Các công trình lý luận mang tính dẫn dắt tư duy, các diễn đàn học thuật lý luận, phê bình thưa vắng.

Lý luận, phê bình văn học và những chuyển đổi - 1

Muốn đổi mới tư duy văn học, cần đổi mới nhận thức và cách tiếp cận văn học. (Ảnh minh họa)

Quan sát một chút, có thể thấy những giới hạn trong tầm nhìn và định hướng. Tôi lấy ví dụ, mấy chục năm sau khi đất nước thống nhất, chúng ta cơ bản chưa có một chính sách hay kế hoạch quy mô, hệ thống thật sự nào trong giới thiệu, dịch thuật, nghiên cứu lý luận văn học hiện đại thế giới sang tiếng Việt. Các nhà nghiên cứu, nhà giáo chủ yếu tự mày mò, tìm hiểu. May mắn thảng hoặc có được một vài đề tài/dự án dịch thuật hay hội thảo liên quan. Đề tài khoa học gần đây cũng có xu hướng ưu tiên ứng dụng, gắn với giảng dạy và lịch sử văn học nhiều hơn. Thành ra, việc giới thiệu lý thuyết phê bình văn học thế giới còn rời rạc, thiếu hệ thống (điều này cũng trồi sụt giống như việc quảng bá văn học Việt Nam ra quốc tế).

Thêm nữa, một chuyện đời thường là thù lao, nhuận bút cho bài nghiên cứu, phê bình trên báo chí hiện nay quá thấp (trung bình khoảng 500.000đ/bài), thậm chí ít hơn hoặc không có, thành thử không ai sống được bằng phê bình. Người ta làm nghiên cứu, phê bình văn học chủ yếu là vì công việc, vì chuyên môn, nhiệm vụ. Nói viết không ai đăng, đăng không ai đọc thì có phần ngoa ngoắt, nhưng tình trạng “ế” lý luận, phê bình là có thật. 

Ở trường phổ thông, lý luận văn học dễ bị “dị ứng” hơn hết (tôi xin lỗi các nhà giáo nghiêm túc, hiểu lý luận). Cơ bản các giáo viên chỉ thích cái gì “sẵn làm sẵn ăn”, đặc biệt là các loại giáo án làm sẵn, theo kiểu cầm tay chỉ việc. Đụng đến khái niệm lý luận văn học là đẩy ra, hoặc khi cần thì mới hỏi tứ tung. Cũng bởi không chắc lý luận, mà trên các diễn đàn mới rộ lên những tranh cãi kiểu: nhân vật trữ tình trong bài thơ này là ai, nhân vật trữ tình có phải là tác giả hay không? Rồi bao lẫn lộn về tác giả tiểu sử và hình tượng tác giả, bao tranh luận không đâu, thậm chí vô bổ về nghĩa tác phẩm, chủ ý của nhà văn… Gần đây, chương trình Ngữ văn Giáo dục phổ thông 2018 chuyển hướng sang dạy theo thể loại, các vấn đề lý luận văn học lúc ấy trở nên cần thiết. Thế là, lỗ hổng lớn về lý thuyết lộ diện. Thói quen “văn mẫu” khiến nhiều giáo viên không thể xử lý được những vấn đề lý thuyết văn học vô cùng căn bản. 

Giới sáng tác rất ít người coi trọng lý luận, phê bình. Nói chính xác hơn, đa số nhà văn chỉ quan tâm đến những bài phê bình xem nó viết cái gì, về ai, có viết về mình không, còn lại, các công trình lý luận, phê bình nói chung rất ít được để ý, chúng luôn nằm ở bên rìa. Khi sáng tác, nếu có nhân vật để giễu nhại thì đó thường là nhân vật nhà lý luận, phê bình. Trong các cuộc trà dư tửu hậu, người phê bình luôn ngầm được xem là “công dân hạng nhì” trong viết lách. Tâm lý này in hằn đến mức, có một vài nhà phê bình viết truyện, làm thơ rồi tuyên bố “bỏ phê bình”, cứ như là để cho bõ hờn, để “rửa hận”. Một số người còn không hiểu, nghiên cứu lý luận, phê bình là một công việc, nó hoàn toàn không đồng nhất với việc tán tụng nhà văn và tác phẩm. 

Giờ nói thêm chút về phê bình. Phê bình nào cũng có giá trị của nó. Tuy nhiên, quan sát các diễn đàn văn học gần đây, thấy xuất hiện chủ yếu kiểu phê bình tác phẩm. Phê bình tác phẩm hay hiện tượng thì cũng tốt thôi, vấn đề là ở chỗ, dường như phê bình này đang thiên lệch về phê bình nội dung gắn với những ám ảnh xã hội học trên mức cần thiết. Đâu đó, người ta vẫn quy chiếu, đồng nhất giản đơn nội dung tác phẩm với hiện thực. Để rồi, từ sáng tác đến kiểm duyệt, từ nghiên cứu đến giảng dạy, người ta cải biên mệnh đề “văn học phản ánh hiện thực” theo đủ cách khác nhau. Vì văn học phản ánh hiện thực nên không thể hiểu nó như một trò chơi. Thế nên, tính năng giải trí bị hạ thấp, thu hẹp. Tác phẩm nào phản ánh nội dung xã hội tiêu cực là phải “chấn chỉnh” ngay, bởi như thế cũng đồng nghĩa, nhà văn có dấu hiệu “bôi đen hiện thực”. Hệ quả là, để tránh điều phiền toái, có người cực chẳng đã phải ghi, đây là tác phẩm hư cấu, đây là câu chuyện không có thật, thậm chí, có người tránh luôn hiện thực. Chuyện này không chỉ diễn ra trong văn học.

Thứ nữa là phê bình văn học hiện nay quá thiên về thù tạc. Phê bình thù tạc có ở mọi lúc, mọi nơi, mọi mặt báo, phổ biến hơn cả là các nhà văn khen nhau, nhóm bạn văn khen nhau. Khen nhau cũng không sao, vấn đề là khen nhau những chỗ không đáng khen và cách đọc thì quá cũ. Bài phê bình chủ yếu kể chuyện tác giả, diễn giải nội dung, kể lể cốt truyện hoặc lan man cảm xúc, thiếu hẳn một mô hình đọc. Đáng tiếc là, kiểu phê bình này chiếm đa số trên các tờ báo văn nghệ hiện nay. Nhìn từ góc độ học thuật, chúng gần như không có tác dụng gì. Có chăng, chỉ là để giải trí. 

Trở lên nói những chuyện buồn. Giờ xin nói đến những chuyện vui, chuyện hay, và cả chuyện may, bởi nếu không có chúng, không biết nền lý luận, phê bình của chúng ta sẽ về đâu. 

Xin dông dài một chút. Thế hệ chúng tôi lớn lên khi đất nước đã thống nhất nhưng còn rất nhiều đói khổ. Thời phổ thông, ngoài mấy cuốn sách giáo khoa thì tuyệt nhiên không có một cuốn nào để tham khảo về văn học. Thế nên, chẳng có gì ngạc nhiên khi học đại học, thấy thư viện lèo tèo vài cuốn sách và phần lớn chúng, dù có đặt “nền móng” thế nào thì về sau cũng đã trở thành vật hiện hữu trong bảo tàng văn học. Rất ít trong số chúng sau này, được đọc, trừ những người làm khảo cổ. Thế cũng là may, và tại sao có cái may như vậy? Tôi cho đó là bởi chúng ta có những cơ duyên. Có cơ duyên từ những chuyển đổi tư tưởng nhận thức rất lớn từ thời “Đổi mới”. Có cơ duyên trong chuyển dịch tư duy của một thế hệ các nhà lý luận, phê bình nhạy bén, dấn thân. Chính các nhà lý luận, phê bình, xuất phát từ nhu cầu thời đại, nhu cầu tự thân, theo những cách khác nhau, đã có những pha “lột xác” ngoạn mục góp phần làm thay đổi cách nhìn của chúng ta về văn học. Hoàng Ngọc Hiến, Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Đăng Mạnh, Phạm Vĩnh Cư, Lê Ngọc Trà, Trần Đình Sử, Huỳnh Như Phương, La Khắc Hòa, Trương Đăng Dung, Lại Nguyên Ân, Đỗ Lai Thúy, Phạm Xuân Nguyên... và nhiều nữa. Một số khác, trái lại, tự đóng khung mình trong các hệ hình truyền thống. Một số không còn động lực, sức lực và mong muốn di chuyển về cái mới. 

Những thay đổi quan trọng đầu tiên xuất hiện trong các bộ giáo trình lý luận văn học. Không khó để nhận ra, tới tận cuối những năm 1980, đầu 1990, các giáo trình lý luận văn học mặc dầu đã được chỉnh sửa, cập nhật, thậm chí viết mới song cơ bản vẫn ám ảnh cách nhìn xã hội học với văn chương. Tôi không nói cách tiếp cận này làm sao, mà vấn đề ở chỗ, nó gần như được xem như công cụ duy nhất và quan trọng nhất để giải mã văn học. Nhiều chương mục giáo trình (tính giai cấp, tính nhân dân, tính dân tộc, văn học và chính trị, văn học và tôn giáo…) đọc không khác sách chính trị, triết học là bao. Khác với đời sống nghiên cứu, phê bình, các giáo trình thường mang tính “ổn định” hơn. Thật không dễ gì để các tác giả có thể chỉnh sửa chúng hằng năm. Do đó, so với những thay đổi từ đời sống nghiên cứu, phê bình, các bộ giáo trình thường có phần chậm cập nhật các vấn đề hiện đại hơn một chút.

Ai nấy đều biết, để đưa một hệ thức vào không quyển văn học đến mức thực hành được là một công việc khó khăn. Lấy ví dụ như thi pháp học. Để đưa khung lý thuyết vào, nhiều nhà nghiên cứu đã rất khổ công, trong đó tiêu biểu nhất là giáo sư Trần Đình Sử. Có thể nói, Trần Đình Sử là người đã dày công hàng chục năm dòng để biến nó thành bộ công cụ giải mã văn chương với tư cách một nghệ thuật. Tuy nhiên, cho đến tận ngày nay, số người hiểu ý nghĩa thực sự của thi pháp học không nhiều. Thậm chí có người, miệng nói thi pháp học, nhưng khi phân tích tác phẩm thì lại đem đối lập nhị phân tác phẩm thành hai phạm trù nội dung và hình thức!

Giảng dạy ở đại học, tôi được chứng kiến những cuộc đổi thay quan trọng, mà người trong giới hay gọi là thay đổi hệ hình. Trước 1986, các giáo trình lý luận văn học chủ yếu dựa trên mỹ học Mác - Lênin, lý luận văn học Xô-viết và mô hình văn chương hiện thực xã hội chủ nghĩa. Sau đổi mới, giáo trình dần tiếp thu các trường phái lý luận phương Tây hiện đại và hậu hiện đại như: Hình thức luận, Phê bình mới, Tự sự học, Phân tâm học, Chủ nghĩa cấu trúc, Hậu cấu trúc…, từ đó, làm phong phú thêm quan niệm, cách nhìn, cách tư duy về văn học.

Cũng bắt đầu từ giới đại học, người ta chuyển từ mô hình văn học phản ánh, cách tiếp cận xã hội học sang thi pháp học, phân tâm học, ký hiệu học… Các bộ giáo trình cấp tiến, một cách tự nhiên, chuyển dần tư duy văn học từ Timofeev, Khrapchenko, Pospelov… sang Bakhtin, Wellek, Genette, Todorov, Barthes, Foucault, Kristeva, Derrida, Frye, Tamarchenko… Cũng theo một cách tự nhiên, người ta gần như rất ít, hoặc không nhắc đến những cái tên kinh điển kiểu Timofeev, Khrapchenko…, trong khi, không nhiều năm trước đó, người ta trích dẫn rất nhiều, thậm chí có người “thuộc lòng” tư tưởng, nhận định của các ông. Ở đây, không phải vấn đề “à la mode” hay đổi chiều, mà, theo một cách giản đơn, sự chuyển đổi hệ hình giúp người ta bắt nhịp nhanh hơn với tư duy văn chương đương đại.

Chẳng hạn, cách tiếp cận thi pháp học, dầu không phải hoàn toàn mới mẻ song rõ ràng đã tạo ra một sự thay đổi lớn lao trong nghiên cứu, phê bình văn học, bởi lẽ, nó đặt vấn đề một cách hệ thống về việc tiếp cận văn chương với tư cách nghệ thuật.

Lý thuyết liên văn bản giúp ta hiểu, giờ đây, không thể nói về phong cách cá nhân một cách giản đơn như trước nữa. Rồi lý thuyết hậu hiện đại, giải cấu trúc, hậu thực dân, phê bình sinh thái, nữ quyền… tất cả đã góp phần làm thay đổi cả nội hàm và ngoại diên nghiên cứu văn chương. Ngược dòng lại một chút, có thể thấy, nếu những cụm từ như hệ hình, diễn ngôn, liên văn bản, cái chết của tác giả, sử thi và tiểu thuyết, hậu hiện đại, phê bình sinh thái, lý thuyết hậu thực dân, phê bình nữ quyền, tự sự hậu kinh điển… vốn xa lạ trong hệ sinh thái của những người nghiên cứu, phê bình văn học thì nay đã dần trở nên quen. Các phạm trù nhà văn, hiện thực, văn bản, người đọc được quan tâm nghiên cứu nhiều mặt hơn trên bình diện lý thuyết, góp phần gợi dẫn, mở đường cho sự đa dạng trong cách tiếp cận văn chương ở cả phổ thông và đại học hiện nay.

Tiếp đến, là những chuyển dịch xuất hiện trong các công trình nghiên cứu, phê bình văn học. Điều đáng mừng là, nghiên cứu, phê bình hiện nay cho phép đa dạng hóa cách đọc và diễn giải văn bản văn học, thay vì chỉ tập trung vào nội dung - tư tưởng - hiện thực phản ánh. Chỉ nhìn riêng về phương pháp đã thấy, cách tiếp cận văn học đã trở nên phong phú hơn trước rất nhiều. Có phê bình từ tác giả, có phê bình từ văn bản, từ bạn đọc. Có phê bình ngoại quan, nội quan, có phê bình xã hội học, phê bình thẩm mỹ…

Có thể nói, việc mở rộng phạm vi tiếp cận lý thuyết văn học hiện đại và hậu hiện đại thế giới, sự quan tâm đến văn học mạng, văn học thị trường, văn học đồng tính, sự chuyển dịch hệ giá trị trong đánh giá văn học từ đơn chiều sang đa chiều, từ định hướng sang đối thoại là những điều đáng kể nhất của lý luận, phê bình văn học những năm gần đây. Điều này cho thấy những bước chuyển đáng quý trong nhận thức, tư duy về văn học, mặc dầu nhìn trên tổng thể, nó không khác gì những hạt muối bỏ bể.

Muốn đổi mới tư duy văn học, cần đổi mới nhận thức và cách tiếp cận văn học. Và như thế, nó cần được bắt đầu bởi tư duy lý luận văn học. Sự thay đổi tư duy lý luận, phê bình cần đồng bộ, nhưng phải bắt đầu từ đại học. Chính đại học, trong đó bao gồm các đại học sư phạm và các cơ sở đào tạo cử nhân văn chương là những nơi đầu tiên cần chuyển đổi hệ thức. Bởi lẽ, nếu đội ngũ này cứ cố thủ trong những pháo đài cũ, thì sẽ chẳng bao giờ có cái gọi là đổi mới tư duy văn học. Thực tế hiện nay cho thấy, số lượng ít ỏi các nhà nghiên cứu chuyên sâu khiến việc truyền bá, giới thiệu lý thuyết văn học hiện đại vào giảng đường đại học vô cùng hạn chế.

Lý luận, phê bình cần đa dạng. Bởi sự đa dạng này, trên một ý nghĩa nào đó sẽ góp phần hình thành nhãn quan văn học cũng như làm phong phú cách tiếp cận văn học của độc giả. Không phải cái mới nào cũng hay, cũng đúng. Nhưng nếu không có cái mới, lý luận, phê bình sẽ tự giam mình trong khung cũ. Và hệ quả nhãn tiền là, nền văn học của chúng ta sẽ mất đi cơ hội bước cùng nhịp với đời sống văn chương thế giới.

Phùng Gia Thế

Tin liên quan

Tin mới nhất