Ngựa trong thi ca Việt
Trong các con vật của hệ can chi, ngựa là một trong hai con vật (cùng với chó) được đánh giá cao nhất về mức độ thủy chung tình nghĩa bởi có câu khuyển mã chi tình. Cũng có thể nói, ngựa là một trong những loài vật rất thông minh và biết bày tỏ cảm xúc của mình với con người. Đời sống của cộng đồng cư dân Việt Nam cổ truyền vốn gắn bó với trâu nhiều, thế nhưng ngựa vẫn đi vào khá nhiều thành ngữ tục ngữ ca dao và trở thành nguồn cảm hứng lớn cho văn học nghệ thuật từ xưa đến nay.
1. Con ngựa được dùng làm biểu trưng cho nhiều phẩm chất, trạng thái, kết quả tốt đẹp như: thẳng thắn (Thẳng như ruột ngựa), đoàn kết, chia sẻ (Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ), mạnh mẽ (Đường dài mới hay sức ngựa), giàu sang, được trọng vọng (Lên xe xuống ngựa), thành công (Mã đáo thành công). Ngựa cũng được dùng làm biểu trưng cho nhiều câu chuyện, tình huống phong phú khác trong đời sống như: Ngựa non háu đá (chỉ những người trẻ tuổi có tính cách hung hăng, thiếu chín chắn), Cưỡi ngựa xem hoa (chỉ những người làm việc qua loa, không cẩn thận), Ngựa quen đường cũ (ý nói chứng nào tật ấy, không sửa chữa được sai lầm khuyết điểm của mình), Ngựa lồng cóc cũng lồng (chỉ sự đua đòi bắt chước một cách lố bịch), Làm thân trâu ngựa, Kiếp trâu ngựa (chỉ những người phải hầu hạ kẻ khác, cuộc sống khổ cực đọa đày).
Ngựa cũng đi vào những câu ca dao thể hiện những quan sát, kinh nghiệm cuộc sống, biểu lộ tình cảm của con người: “Ngựa hay chẳng quản đường dài/ Nước kiệu mới biết tài trai anh hùng, Đường dài ngựa chạy biệt tăm/ Người thương có nghĩa, trăm năm cũng về”. Có câu ca dao về ngựa gắn với sự kiện lịch sử trọng đại. Khi nghĩa quân của Lê Lợi tiến về đóng ở bến Bồ Đề, chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công đánh đuổi quân Minh, dân gian đã truyền tụng câu ca: “Nhong nhong ngựa ông đã về/ Cắt cỏ Bồ Đề cho ngựa ông ăn”.

Tranh ngựa của họa sĩ Lê Trí Dũng.
2. Với một đất nước phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh trong suốt chiều dài lịch sử, ngựa là phương tiện không thể thiếu trong chiến đấu, di chuyển, truyền tin. Nói đến ngựa có khi cũng là cách để tỏ rõ lòng quyết tâm chiến đấu chống quân xâm lược, như những câu trong Hịch tướng sĩ của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn: “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt nước mắt đầm đìa. Chỉ tiếc rằng chưa được xẻ thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng”. Trong Chinh phụ ngâm, hình ảnh người trai dũng mãnh lao ra trận tiền, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng được ghi lại cũng gắn với hình ảnh da ngựa:
“Chí làm trai dặm nghìn da ngựa
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao
Giã nhà đeo bức chiến bào
Thét roi cầu Vị, ào ào gió thu”.
Nhưng cũng trong thời trung đại, con ngựa còn đi vào thơ với những sắc thái đặc biệt khác. Trong thơ Ninh Tốn (1744 - 1795), một đại thần thời Lê Trung Hưng và Tây Sơn, hình ảnh con ngựa gắn với vẻ đẹp yêu kiều của người phụ nữ:
“Dương liễu xuân đê chính trước thiên
Vô đoan mã thượng kiến thuyền quyên
Bí trì ngọc lộ song chi duẩn
Yên cứ kim loan lưỡng ngẫu liên”
(Đang vút roi xuân đê liễu biếc
Ngựa ai chợt thoáng bóng thuyền quyên
Đôi chồi măng ngọc ghì cương lụa
Hai ngó sen vàng kẹp nép yên)
(Mã thượng mỹ nhân).
Ngựa (mã) cũng là tên một quân cờ trong trò chơi cờ tướng. Trong bài thơ Đánh cờ người được tương truyền là của Hồ Xuân Hương, hình ảnh con ngựa xuất hiện với ý nghĩa nước đôi lấp lửng, nửa nói về việc chơi cờ, nửa nói về việc luyến ái nam nữ:
“Thoạt mới vào chàng liền nhảy ngựa/
Thiếp vội vàng vén phứa tịnh lên”.
Ngựa trong thơ Bà huyện Thanh Quan lại là hoài niệm về một quá vãng đã lùi xa:
“Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương”
(Thăng Long thành hoài cổ).
Đại thi hào Nguyễn Du lại nhắc đến ngựa trong bài Thành hạ khí mã (Ngựa bỏ chân thành) với một nỗi niềm khác. Dù không tránh khỏi nỗi bùi ngùi vì bị bỏ rơi, bị lãng quên song con ngựa già không vì thế mà mất đi cốt cách khí chất của một thời đã từng tung hoành trận mạc:
“Ngựa già ai bỏ góc thành hoang
Lông nám đuôi cùn da bọc xương
Lạnh ấy cỏ thu đường thạch lũy
Mây un ngày tối dặm sa trường
Ơn người, đói vẫn không cầu cạnh
Nợ nước, già đâu ngớt vấn vương
Sương gió, tánh trời mừng giữ vẹn
Thân đừng vướng nữa nghiệp yên cương”
(Quách Tấn dịch).
Sang thời hiện đại, trong thơ kháng chiến, hình ảnh con ngựa con đi vào thơ của chủ tịch Hồ Chí Minh và thơ Tố Hữu, đều gắn với niềm vui thắng trận:
“Tin vui thắng trận dồn chân ngựa
Nhớ cụ thơ xuân tặng một bài”
(Tặng Bùi Công - Hồ Chí Minh)
“Tin về nửa đêm
Hỏa tốc hỏa tốc
Ngựa bay lên dốc
Đuốc chạy sáng rừng
Chuông reo tin mừng
Loa kêu từng cửa”
(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên - Tố Hữu).
Trong thời kỳ Thơ Mới, người đưa ngựa vào thơ nhiều nhất có lẽ là Nguyễn Bính. Với 7 tập thơ xuất bản trước cách mạng, ngựa đã xuất hiện trong thơ Nguyễn Bính tới 11 lần, chiếm đầu bảng so với các loài động vật khác. Bản thân Nguyễn Bính cũng là một nhà thơ tuổi Ngựa (ông sinh năm Mậu Ngọ 1918), có lẽ vì thế mà ngựa trong thơ ông được ưu ái hơn chăng. Thi sĩ từng tự ví mình là ngựa:
“Em vốn đường dài thân ngựa lẻ
Chị thì sông cái chiếc đò nan
Buổi chiều đứng ngắm mây lưu lạc
Bến cũ nằm nghe sóng lỡ làng”
(Xuân lại tha hương).
Ngựa trong thơ Nguyễn Bính đưa người đọc trở về một thời xưa cũ của nông thôn Bắc Bộ ngày trước, có niềm vui vinh quy bái tổ của người chồng đỗ đạt, người vợ ngóng chờ:
“Chồng tôi cưỡi ngựa vinh quy
Hai bên có lính hầu đi dẹp đàng
Tôi ra đứng tận gốc bàng
Chồng tôi xuống ngựa cả làng ra xem”
(Thời trước).
Ngựa gắn với bước đường giang hồ lữ thứ của người lữ khách:
“Chim nào kêu mỏi ngàn cây
Ngẩn ngơ đôi chiếc ngựa gầy giong xe”
(Đường rừng chiều)
Ngựa cũng gắn với những mong ngóng, chờ đợi, ước ao trong tình yêu đôi lứa:
“Từ đấy về đây xa quá đỗi
Đường đi bằng ngựa hay bằng thuyền”
(Nhớ)
“Chua xót lòng tôi mơ ước mãi
Áo bào nguyệt bạch, ngựa kim ô”
(Một trời quan tái).
Ngựa cũng gắn cả với những câu chuyện buồn về sinh ly tử biệt:
“Một chiếc xe tang màu trắng đục
Hai con ngựa trắng xếp hàng đôi”
(Viếng hồn trinh nữ)
“Chiêu Quân lên ngựa mất rồi”…
(Một con sông lạnh).
3. Trong ca khúc Việt Nam hiện đại, một số nhạc sĩ cũng đã đưa ngựa trở thành hình tượng trung tâm của ca khúc như Trần Tiến với Tùy hứng lý ngựa ô, Phạm Duy - Ngọc Chánh với Vết thù trên lưng ngựa hoang. Trần Tiến đã phát triển và sử dụng chất liệu dân ca Nam Bộ để viết tiếp câu chuyện về tình yêu: “Dưới bóng cây ngô đồng, có con ngựa dừng chân, có hai người yêu nhau… Khớp khớp khớp khớp con ngựa ô ngựa ô ngựa ô ngàn năm thương nhớ. Đất nước có bao bài ca tình yêu ngựa ô, để anh đón nàng”. Phạm Duy - Ngọc Chánh thì viết ca khúc dựa theo ý tiểu thuyết của nhà văn Duyên Anh, gửi gắm số phận bi kịch của một con người tưởng đã nắm được hạnh phúc trong tay nhưng kết thúc lại là cái chết nghiệt ngã: “Một hôm ngựa bỗng thấy thanh bình. Thảm cỏ tình yêu dưới chân mình. Ân tình mở cửa ra với mình. Ngựa hoang bỗng thấy mơ để quên những vết thù… Ngựa hoang về tới bến sông rồi. Cởi mở lòng ra với cõi đời. Nhưng đời làm ngựa hoang chết gục. Và trên lưng nó ôi còn nguyên những vết thù”.
Nhưng người đưa ngựa vào các ca khúc một cách đậm đặc nhất phải kể đến Trịnh Công Sơn. Ngựa trong ca từ Trịnh Công Sơn có khi diễn tả sự trôi chảy của thời gian: “Vừa tàn mùa xuân rồi tàn mùa hạ. Một ngày đầu thu nghe chân ngựa về chốn xa” (Một cõi đi về). Ngựa gắn với những đau thương, những phai tàn trong một cuộc chiến chưa đến hồi kết: “Ngựa hồng đã mỏi vó/ Chết trên đồi quê hương” (Xin mặt trời ngủ yên). Ngựa gắn với những nỗi mơ hồ khó nắm bắt, như muốn níu kéo những gì chỉ còn là hoài niệm: “Ngựa buông vó, người đi chùng chân đã bao lần” (Dấu chân địa đàng).
Ngựa cũng là tiếng reo vui trong ước mơ ngày đất nước thống nhất: “Ngựa bay trong gió lòng reo muôn vó, cho dân ta bừng lớn trong tự do” (Huế, Sài Gòn, Hà Nội). Ngựa gắn với tình yêu đôi lứa, với kỷ niệm một thời không thể nào quên: “Vó ngựa tình sâu đất nồng nỗi nhớ” (Thuở Bống là người), “Nhớ ngựa thồ ngoại ô xa vắng, nối xôn xao hàng quán đêm đêm” (Em còn nhớ hay em đã quên). Ngựa gắn với những triết lý, suy tư về đời sống, về cái hữu hạn và vô hạn, về thân phận và kiếp người: “Hay mình đã lạc loài? Vó ngựa trên đời hay dấu chim bay?” (Xa dấu mặt trời), “Người nhìn mãi, theo từng chuyến xe ngựa qua rồi. Người nhìn dấu, xe lăn đi dấu lăn trên đời. Ngựa xa rồi, người vẫn ngồi, bụi về với mây” (Phúc âm buồn).
Trong ca khúc có dung lượng dài nhất của Trịnh Công Sơn, có dáng dấp như một trường ca, bài Đóa hoa vô thường cũng có hình ảnh ngựa, cụ thể là tiếng ngựa như một nhắc nhở, một day dứt, một thức tỉnh, một đốn ngộ: “Từ đó trong hồn ta/ Ôi tiếng chuông não nề/ Ngựa hí vang rừng xa/ Vọng suốt đất trời kia”. Tóm lại, ngựa đã trở thành một biểu tượng nghệ thuật nhiều mặt, đa nghĩa trong ca từ của Trịnh Công Sơn.
Ngựa còn xuất hiện trong một số ca khúc thiếu nhi đầy nhí nhảnh tươi vui mà mỗi lần nhẩm theo lời bài hát, mỗi chúng ta lại như được cầm trong tay tấm vé để trở về tuổi thơ trong trẻo. Xin được dùng phần lời của hai ca khúc để khép lại bài viết này: “Bố là tàu lửa bố là xe hơi. Bố là con ngựa em cưỡi em chơi” (Bố là tất cả - Nhạc và lời: Thập Nhất), “Nhong nhong nhong cha làm con ngựa. Để cho con lên cưỡi trên lưng. Nhong nhong nhong cha làm con ngựa. Để cho con vui thỏa tiếng cười. Nhong nhong nhong ngựa cha mệt quá. Con không biết con nói ngựa phi. Nhong nhong nhong ngựa phi tận cùng. Hai cha con cùng ngã lăn đùng” (Nhong nhong nhong - Nhạc và lời: Thế Hiển).

Giữa nhịp sống hiện đại hối hả, thơ ca vẫn tồn tại như một khoảng lặng quý báu cho những ai muốn dừng lại để...
Bình luận