Đội quân tóc dài của làng văn

(Arttimes) - Theo thống kê mới nhất của Hội Nhà văn Việt Nam, tính đến 2020, tổng số hội viên là hơn 1200, trong đó có 200 hội viên nữ. Đó thực sự là một “con số biết nói”.

Đọc lại “Phái đẹp cuộc đời & cây bút” (3 tập, NXB Hội Nhà văn, 2015), tôi nghĩ tới hình ảnh đội quân tóc dài trong văn chương. Trong chiến tranh đã có những khi đội quân tóc dài làm kẻ thù khiếp sợ. Trong thời bình, đội quân tóc dài đã đem lại niềm tin về một tương lai của văn chương nước nhà.

Đội quân tóc dài của làng văn - 1 Phái đẹp cuộc đời & cây bút

Trong số 123 nữ sĩ hiện diện trong tuyển tập Phái đẹp cuộc đời & cây bút (tất nhiên là chưa đầy đủ) có những bậc “trưởng lão” trong làng văn như Nguyệt Tú (sinh 1926), Nguyễn Thị Cẩm Thạnh (sinh 1927), Thanh Hương (sinh 1929), Đặng Anh Đào (sinh 1934). Lại có những cây bút trẻ khỏe như Đỗ Bích Thúy (sinh 1975) Nguyễn Ngọc Tư (sinh 1977), Trần Hoàng Thiên Kim (sinh 1981)...Tính chi li ra đội quân tóc dài trong văn chương nối tiếp đến 5 thế hệ. Tôi nghĩ một trong những điều kiện tồn vong của văn chương là sự tiếp nối sáng tạo các thế hệ.          

Từ trái tim đến trái tim là quy luật của sáng tạo nghệ thuật, trong đó có nghệ thuật ngôn từ. Người nữ viết thơ tưởng chỉ có những lời thủ thỉ, tâm sự thường tình, ai ngờ: “Tôi là bông lúa vàng tươi/Cúi thấp xuống phù sa đến nỗi/Rạng đông lên tôi nhìn thấy bầu trời/Và ngôi sao mai như bóng trái tim tôi/In lên màu nước sáng/Những bạn bè tôi cúi xuống thấp hơn/Tấm thân nặng trĩu không đủ sức rì rào/Họ thầm thì những lời no ấm” (Lâm thị Mỹ Dạ - Lời của bông lúa). Trừ một số rất ít, tôi tin độc giả ngày nay không thích một lối thơ hoặc là rền vang hả hê, hoặc là ủy mị ẩm ướt quá mức. Người phụ nữ truyền thống có nhiều ràng buộc, người phụ nữ hiện đại có nhiều khao khát tự do. Nhưng “cái nào hơn cái nào?” đã được nhà thơ đặt ra như một câu hỏi ám ảnh tâm thức. Tôi thích bài thơ Tự do và ràng buộc của Nguyễn Thị Hồng Ngát là có cái lý do của nó:

Giống như con thuyền không neo

Muôn đợt gió thổi qua thổi lại

Thế đấy

Ôi, ràng buộc và tự do

Cái nào hơn cái nào?

Người nữ và thơ nữ thường gợi ở độc giả phái mày râu cái cảm giác “dịu dàng quá không chịu nổi”. Nhưng đôi khi ta lại thấy ở đâu đó, lúc nào đó họ bỗng trở nên “đanh đá”, thậm chí “ngang ngạnh” và mạnh mẽ một cách đáng yêu như Đoàn Thị Lam luyến dám Làm nhà trên lưng cá voi. Một người nữ mà cả gan:

Tôi mơ tát cạn biển này

Để tìm cho được tháng ngày đôi ta

Nhưng rồi biển quá bao la

Ai-bảo-làm-nhà-trên-lưng-cá-voi?

Một vài dẫn dụ như thế trong thơ để thấy dẫu cái tình là gốc của sáng tác nhưng cái tình đã thăng hoa, kết tinh, tỏa sáng, lan truyền nhờ vào cái chất trí tuệ được đốt cháy. Ai bảo người nữ chỉ biết “lụy tình”, “dại tình”?

Đọc văn xuôi nữ, riêng tôi lại càng cảm thức được cái chất trí tuệ thấm đượm trong những trang văn. Có thể ai đó thiển cận nghĩ rằng văn chương của phái đẹp thường ủy mị, sướt mướt. Hãy thử đọc một lần xem sao Kẻ nô tỳ được trang sức của Trần Thị Trường, bạn sẽ bớt đi cái định kiến về văn nữ dường như chỉ kể lể. 

Đừng nghĩ người nữ chỉ thích kể lể một câu chuyện buồn vui nào đó của chính mình hoặc người thân quen của mình. Có những khi sau câu chuyện được kể ra có vẻ như là “chuyện thường ngày ở huyện” lại lấp lánh một triết lý nào đó về cuộc đời, về con người kiểu như Quanh chuyện sống với người già của Phan Thị Vàng Anh. Vấn đề quy luật “sinh lão bệnh tử”, vấn đề thế hệ, vấn đề tồn tại theo cái nhìn hiện sinh, tôi nghĩ, đầy ắp trong một truyện ngắn vỏn vẹn 2000 chữ. 

Có một Nguyễn Thị Minh Thái lúc nào cũng “tung tăng như cá tươi” (Hồ Anh Thái), đọc rộng biết nhiều, viết lý luận phê bình tinh tế và sắc sảo mấy ai bằng nhưng bập vào viết truyện ngắn ngang ngửa với mấy người chuyên trụ hạng với thể loại “nhỏ” này trong văn chương. Tôi thấy thú vị khi chị tự nguyện đứng vào đội hình Văn với truyện ngắn Ngồi đợi ở bậc thềm. Một cái truyện trĩu nặng vì tâm trạng. Một lối kể như mũi khoan xoáy sâu vào nội tâm. Những đảo chiều không gian - thời gian như điện ảnh… Tất cả nhào nặn một thành một khối được dồn nén tối đa và bùng nổ tối đa. Triết lí mà cứ thoảng nhẹ như không bởi cái hơi thở đời sống đương đại phả vào từng câu chữ.               

Người ta nói sinh ra nghệ thuật là để chống lại sự nhàm chán của cuộc đời. Chính vì thế nghệ thuật bản thân nó không được phép lặp lại và thật đáng buồn nếu tất cả chủ thể sáng tạo rập khuôn, một màu, một giọng, một cách lối thể hiện. Trong thơ độc giả nhận ra một lối “lặng lẽ tỏa hương” kiểu như Lệ Thu, Phan Thị Thanh Nhàn, Bùi Kim Anh, Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn Thị Hồng, Nguyễn Thị Hồng Ngát, Tuyết Nga, Phạm Hồ Thu, Nguyễn Bảo Chân, Phạm Thu Yến,…Thơ của các nữ sĩ này không “lắm điều”, có vẻ như chỉ là những tiếng nói thầm, rất khiêm tốn, đôi khi cố tình giấu mình. Nhưng rất nhiều những say mê, thổn thức. 

Lại có một lối thơ mạnh mẽ, quyết liệt kiểu như Đoàn Thị Lam Luyến, Hoàng Việt Hằng, Vi Thùy Linh, Chu Thị Thơm, Huệ Triệu…Họ “ăn sóng nói gió” nhưng trong sâu thẳm họ cô đơn và khát khao chia sẻ, cũng như rất nhiều những mềm lòng. Một lối viết lấy cái chân thật làm đầu nên thơ họ giản dị, mộc mạc như lúa ngô khoai sắn, gần gũi và thiết yếu như nắng gió khí trời. Đó là thơ của Hoàng Thị Minh Khanh, Đỗ Bạch Mai, Lê Thị Mây, Nguyễn Thị Mai, Nguyễn Thị Đạo Tĩnh, Trần Kim Anh, Nông Thị Ngọc Hòa, Trần Thị Nương…

Trong văn xuôi nổi lên một lối viết giàu triết luận như Trần Thị Trường, Nguyễn Thị Minh Thái, Phan Thị Vàng Anh,…Tác phẩm của họ mạnh về “vấn đề”, nghĩa là có xu hướng nghiêng triết lý đời sống, đôi khi như là những luận đề nhưng đã cố kết được với chất sống tươi nguyên. Lối viết trữ tình thể hiện rõ ở Trần Thùy Mai, Nguyễn Thị Ngọc Hà, Vũ Minh Nguyệt, Trương Thị Thanh Huyền, Lê Thị Bích Hồng…Truyện của họ không quá chú trọng cốt truyện mà nhiều chất thơ, nhiều những “nhánh” rẽ ngang giàu tính chất “trữ tình ngoại đề”. Lối viết “tả chân” vốn được coi như một truyền thống của văn chương Việt Nam in dấu đậm trong truyện của Hà Thị Cẩm Anh, Lê Minh Khuê, Hiền Phương, Nguyễn Thị Anh Thư, Trầm Hương, Vũ Thảo Ngọc, Võ Diệu Thanh, Nguyễn Ngọc Tư, Phong Điệp…Truyện của họ nhiều tình huống gây cấn, nhiều chi tiết hay dễ “bắt mắt” độc giả.

Những nữ sĩ viết lý luận phê bình cũng rất đa thanh sắc: Một Đặng Anh Đào tài hoa, phóng khoáng in dấu trên từng trang viết về văn chương thế giới và Việt Nam. Một Lưu Khánh Thơ năng động, cây bút phê bình đa năng nhiều thể loại từ văn, thơ, kịch, đến chân dung. Một Lý Hoài Thu tinh tế và cẩn trọng, chắt chiu chữ nghĩa. Một Tôn Phương Lan mềm mại nhưng không kém phần sâu sắc trong tiếp nhận văn chương. Một Bích Thu lặng lẽ thành công với những tiểu luận - phê bình bám sát thời sự văn chương đương đại Việt Nam. Một Hỏa Diệu Thúy, cái tên không nói lên chất văn vốn rất điềm đạm, nhẹ nhàng. Một Cao Thị Hồng tỏa ngòi bút xuống lý luận, phê bình và sáng tác thơ…

Hà Nội, tháng 3/2022

None

Bùi Việt Thắng

Tin liên quan

Tin mới nhất

TP.HCM tưng bừng kỷ niệm 73 năm Ngày truyền thống Nhiếp ảnh Việt Nam

TP.HCM tưng bừng kỷ niệm 73 năm Ngày truyền thống Nhiếp ảnh Việt Nam

Sáng ngày 17/3/2026, Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam và Hội Nhiếp ảnh Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) tổ chức lễ kỷ niệm 73 năm Ngày truyền thống Nhiếp ảnh Việt Nam (15/3/1953-15/3/2026). Bà Trương Mỹ Hoa, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Nước đã đến dự, chung vui cùng các Nghệ sĩ Nhiếp ảnh, theo Tạp chí Nhiếp ảnh và Đời sống.

Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam tổ chức về nguồn nhân kỷ niệm 73 năm Ngày truyền thống Nhiếp ảnh Việt Nam (15/3/1953 - 15/3/2026)

Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam tổ chức về nguồn nhân kỷ niệm 73 năm Ngày truyền thống Nhiếp ảnh Việt Nam (15/3/1953 - 15/3/2026)

Sáng 14/3, nằm trong chuỗi hoạt động kỷ niệm 73 năm Ngày truyền thống Nhiếp ảnh Việt Nam (15/3/1953-15/3/2026), Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam tổ chức chuyến hành hương về nguồn tại Khu di tích lịch sử Quốc gia, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 147/SL thành lập “Doanh nghiệp quốc gia chiếu bóng và chụp ảnh Việt Nam khai sinh ngành Điện ảnh và Nhiếp ảnh cách mạng ngày nay thuộc khu Đ

Nghệ nhân, doanh nhân Hà Thị Vinh: Bông hồng vàng Việt Nam

Nghệ nhân, doanh nhân Hà Thị Vinh: Bông hồng vàng Việt Nam

Làng Bát Tràng (xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm) được thiên nhiên ưu ái ban tặng vị trí đắc địa: tọa lạc bên bờ tả ngạn sông Hồng lịch sử lại rất gần với kinh thành Thăng Long, điều đó đã kiến tạo nên dòng chảy giao thương tấp nập, sầm uất. Văn hóa xứ sở là linh hồn của một vùng sinh thái, nổi tiếng với làng nghề gốm sứ Bát Tràng - một di sản văn hóa vật thể

Số hóa di sản văn hóa – chìa khóa lan tỏa giá trị truyền thống

Số hóa di sản văn hóa – chìa khóa lan tỏa giá trị truyền thống

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, việc số hóa di sản văn hóa đang trở thành hướng đi quan trọng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống. Thông qua các nền tảng công nghệ, di sản không chỉ được lưu giữ bền vững mà còn có cơ hội lan tỏa rộng rãi, giúp công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ, tiếp cận và hiểu sâu hơn về lịch sử, văn hóa dân tộc, theo Cổng th

Bộ VHTTDL ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 01/NQ-CP năm 2026, thúc đẩy phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch

Bộ VHTTDL ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 01/NQ-CP năm 2026, thúc đẩy phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vừa ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 08/01/2026 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026, nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện trong các lĩnh vực của ngành, theo Cổng thông tin điện tử Bộ VHTTDL.

Vệt nắng thổ cẩm trên khung cửi của người Ba Na bên hồ Đồng Mô, Hà Nội

Vệt nắng thổ cẩm trên khung cửi của người Ba Na bên hồ Đồng Mô, Hà Nội

Chiều buông chậm trên Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam. Ánh nắng muộn như kẻ lữ hành mải bước, chợt dừng chân rồi “ngủ quên” trên mái nhà sàn phủ màu thời gian. Từng vệt vàng dịu nhẹ trườn qua phên nứa, đậu lên khung cửi, lên những sợi chỉ đang căng mình chờ thành tấm vải. Trong khoảng không gian ấy, màu sắc, âm thanh và hơi thở của núi rừng Tây Nguyên dường như cùng