“Phút giây huyền diệu - nhà văn và quá trình sáng tạo”, một cuốn sách hay của Ma Văn Kháng

Nhà văn, dẫu là những tài năng lớn, trước hết cũng là một con người nhưng đâu là cái tư chất riêng của nhà văn so với những người làm những ngành nghề khác? Nghề văn cũng là một nghề như trăm nghìn nghề nghiệp khác nhưng đâu là cái đặc thù của cái nghề “Ai bảo mắc duyên vào bút mực/ Sống đời mang lấy số long đong” (Nguyễn Bính - Xuân tha hương) này? Quá trình sáng tạo của một nhà văn diễn ra như thế nào, có thể tường minh được không hay còn có những góc khuất, những bí ẩn, những điều huyền diệu như là những thứ bất khả tri. Nhiều nhà lý luận văn học và cũng không ít nhà văn nổi tiếng đã viết về vấn đề này, và người đọc vẫn còn mong chờ, vẫn khao khát được đọc tiếp những công trình như thế. Vui mừng thay, cuốn sách “Phút giây huyền diệu - nhà văn và quá trình sáng tạo”, tập tiểu luận và bút kí về nghề văn của nhà văn Ma Văn Kháng do Nhà xuất bản Đại học Sư phạm vừa ấn hành năm 2025, đã đem đến cho bạn đọc những điều họ đang mong chờ, trong đó, có những bài đã chạm được đến vấn đề cốt lõi của lý luận văn học, về nhà văn và quá trình sáng tạo.

Đọc tiểu luận Phút giây huyền diệu, ta thấy, Ma Văn Kháng hằng chăm chú và có ý thức tổng kết kinh nghiệm sáng tác của mình, đồng thời cũng luôn quan sát, đúc rút kinh nghiệm của những nhà văn khác, đặng làm giàu cho kho tàng kiến thức của mình. Ông cho ta biết, K. Paustovsky, nhà văn Nga Xô viết “gọi cái giây phút kỳ diệu ấy là sự xuất hiện tia chớp […], điều kiện đầy đủ để tia chớp xuất hiện chính là sự ứ đầy căng thẳng bão hòa của các đám mây tích điện” (tr.42). Trong sự hình dung của K. Paustovsky, “cảm hứng giống như mối tình đầu, khi tim ta rộn ràng cảm thấy trước những cuộc gặp gỡ li kỳ, đôi mắt đẹp tuyệt trần, những nụ cười và những đôi mắt dang dở. Lúc đó thế giới bên trong của chúng ta trở nên tinh tế và chuẩn xác như một cây đàn kỳ diệu, đáp lại mọi âm thanh của cuộc đời, kể cả những tiếng động thầm kín nhất” (tr.43 - 44). Puskin viết: “Cảm hứng là lúc tai ta nhận được lời thần. Còn Lermontov thì cho rằng, đó là lúc mối lo âu trong tâm hồn ta lắng dịu đi. Và Pau (Paustovsky) thêm: cảm hứng có màu sắc thơ riêng biệt, cảm xúc có cái ẩn ý thơ” (tr.44).

Ngòi bút Ma Văn Kháng tưởng như say sưa, nghiêng ngả tuôn trào khi viết về cảm hứng sáng tạo của nhà văn: Cảm hứng, “đó là một trạng thái thần khởi thoải mái, đến một cách bất thần và kích thích mạnh mẽ năng lực tiếp nhận hiện thực và sáng tạo bay bổng của con người. Ai trong đời mình mà đã không trải qua những giây phút cảm hứng. Turghenev, nhà văn Nga gọi cảm hứng là trạng thái Trời đến gần ta, để diễn tả cái chất hướng thượng có tính chất thần thánh trong cảm nhận và xúc động của con người. Rất đáng chú ý khi ông cho rằng, cảm hứng là một trạng thái tinh thần phức hợp, trong đó có trộn lẫn cả niềm sung sướng vô tận, niềm say mê tràn đầy với nỗi sợ hãi, dằn vặt khủng khiếp, vì ngay lúc đó, không thể buột ra khỏi tay mình miếng đất màu mỡ để gieo trồng, nhà văn bắt đầu công việc lao động nhọc nhằn của một cuồng si ngôn từ” (tr.44).

Cái hay, cái sâu sắc của Phút giây huyền diệu là ở chỗ, Ma Văn Kháng đề cao cảm hứng nhưng không tuyệt đối hóa nó, nhà văn không thể cứ đợi chờ cảm hứng đến như kẻ há miệng chờ sung. Muốn có được “phút giây thiêng”, nhà văn phải sống sâu sắc, “Sống rồi mới viết”, phải tắm mình trong bầu không khí của thời đại, phải lao động hết mình. Ma Văn Kháng say sưa mà vẫn tỉnh táo khi cho rằng, trong sáng tạo văn chương nghệ thuật “Không có sự ăn may thuần túy. Nhưng vẫn có cái gọi là may mắn, tình cờ trời cho. Và vấn đề không phải là há miệng chờ sung. Mà là hãy sống kỹ lưỡng tích cực và thật tự nhiên với tất cả cung bậc của cuộc đời” (tr.49). “Cảm hứng là một trạng thái lao động nghiêm túc. Hiển nhiên là thế rồi. Tchaikovsky cả quyết: cảm hứng là trạng thái tinh thần của con người mang hết sức mình ra làm việc như một con bò đực thiến, chứ không phải là chỉ ve vẩy tai một cách õng ẹo!” (tr.45). 

Từ những hiểu biết tinh tế, sâu sắc về cảm hứng sáng tạo, Ma Văn Kháng đã lựa chọn và phân tích, lý giải đầy thuyết phục cảm hứng sáng tạo, những phút giây kỳ diệu của Nguyễn Thành Long khi viết thiên truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa, của Xuân Cang khi viết tiểu thuyết Những ngày thường đã cháy lên, của Dương Duy Ngữ viết tiểu thuyết Người giữ đình làng, của Nguyễn Trọng Tân khi viết Trang gia phả viết bằng vôi, của Nguyễn Khắc Trường khi viết tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma, của Lev Tolstoy khi sáng tác Khatgi - Murat, của Pouchukinne khi sáng tác bài thơ tình nổi tiếng Phút giây huyền diệu,… Ma Văn Kháng không hề đơn giản vấn đề sáng tạo khi đưa ra nhận xét, tuy có quy luật chung nhưng mỗi nhà văn lại có con đường riêng, không ai giống ai. “Tất nhiên, chúng ta đều hiểu, con đường đi từ tia chớp ban đầu tới một hình tượng văn chương hoàn chỉnh là vô cùng lắt léo, phi vật thể, phi truyền thống và phức tạp, chứ không đơn giản. Đó là chuỗi biến thể qua những chặng đường của trí tưởng tượng và những kinh nghiệm cùng những nỗ lực vô bờ bến của cá nhân” (tr.47).

Từ sự chiêm nghiệm sáng tác của mình cùng với sự quan sát, phân tích, tổng hợp kinh nghiệm sáng tác của nhiều nhà văn khác, Ma Văn Kháng đã khép lại bài tiểu luận bằng một kết luận đầy thuyết phục: Hoàn cảnh cảm hứng, tình huống sáng tạo, “cảm hứng thần tiên là tia chớp hãn hữu chỉ hiện ra trong một bầu trời ứ đầy mây tích điện để mở đầu và sau đó tiếp nối bằng cả một quá trình sáng tạo bền bỉ say mê, đó là cuộc gặp gỡ kỳ lạ và vô cùng lý thú của đời sống văn chương. Đó là điểm giao kết tài tình giữa ngẫu nhiên và tất yếu do cuộc sống tạo ra. Với tôi, đó là một kiểu hình thành tác phẩm phổ biến có tính quy luật, đó là quy trình làm nên một hợp tử, để một sự sống hoài thai, ra đời” (tr.50).

“Phút giây huyền diệu - nhà văn và quá trình sáng tạo”, một cuốn sách hay của Ma Văn Kháng - 1

GS.TS. NGND Trần Đăng Suyền, PGS. TS Nguyễn Bá Cường - Tổng biên tập Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Th.S Hà Phương Anh, Trưởng ban biên tập Khoa học xã hội, NXB Đại học Sư phạm, người biên tập cuốn “Phút giây huyền diệu - nhà văn và quá trình sáng tạo” và nhà văn Ma Văn Kháng.

Phút giây huyền diệu là một tiểu luận xuất sắc của Ma Văn Kháng, xứng đáng có mặt trong những tuyển tập hay nhất bàn về cảm hứng sáng tạo của nhà văn. Ta hiểu vì sao Ma Văn Kháng lại lấy tên bài viết này đặt tên chung cho tập sách Phút giây huyền diệu trước đây, và lần này là Phút giây huyền diệu - nhà văn và quá trình sáng tạo của ông.

Cũng như những ngành nghề khác, nhà văn cũng có những bạn bè, có những tình bạn cao quý, cảm động, thiêng liêng, và cũng có cả những ganh ghét, đố kỵ, hận thù. Ma Văn Kháng không che dấu mà phơi ra cái sự thật “tàn nhẫn”: “con người thì ở đâu cũng vậy thôi! Nó có đủ cả nết tốt và thói xấu. Người làm nghề văn không khác. Ai mà chẳng có niềm tự tôn về mình. Chẳng xấu gì nếu tám, chín trăm nhà văn thì có lẽ cũng từng ấy cái ảo mộng vĩ cuồng. Mỗi kẻ mang danh hiệu cao quý này, nói không ngoa đâu, đều hình thành cho mình một khái niệm về bản thân mình và thường là tự ái tự kỷ, tâng nịnh mình. Mà người xưa đã nói, đức nhỏ mà muốn ngôi cao, tài nhỏ mà muốn làm việc lớn, chính là cái mầm của họa lục đục vậy” (tr.103).

Chẳng có nghề nào sự cạnh tranh ghê gớm hơn lĩnh vực văn chương nghệ thuật. “Văn chương hơn ở đâu hết lại là nơi sự chọn lọc diễn ra thật vô cùng khắt khe, khắc nghiệt. Một thế kỷ qua, lựa đi lọc lại còn được bao nhiêu văn tài? Thêm nữa, một tác phẩm xuất sắc một khi đã xuất hiện, là lập tức có khả năng gây ra ảo giác làm lu mờ ngay những tên tuổi đang sáng giá nhất đương thời. Nghiệt ngã thay, thành công của người này dễ gây hiệu ứng làm bộc lộ sự kém cỏi, làm tủi hổ người kia. Thành ra gọi đây là nơi “trường văn trận bút” cũng có ý muốn nói về sự đua tài cùng nhau. Đua tài! Cuộc tranh đua thú vị này sao lại né tránh và sợ hãi nhỉ? Không! Đua tài là một động lực của cuộc sống chứ sao! Chỉ tiếc, cùng với đua tài là thói đố kỵ đã nảy sinh và trở thành một trạng thái tâm lý cố hữu của người bạn cùng nghề viết lách.

Xuân Diệu có lần đã tâm sự: “Hễ thấy hai nhà văn ngồi với nhau, chắc chắn sẽ nói xấu người thứ ba, tôi thường lảng tránh”. Trả lời câu hỏi của một bạn đọc: Tại sao ông cứ tự tâng bốc mình thế? Maiakovski, nhà thơ Nga Xô viết đáp: Người bạn trung học của tôi là William Shakespeare luôn luôn khuyên tôi: Chỉ nói tốt về mình, còn cái xấu về mình đã có bạn bè nói hộ rồi. “Những kẻ nguyền rủa anh sẽ buồn/ Chả còn anh cho họ giết/ Dao sẵn rồi, họ không dễ để yên”. Đó là một khổ thơ nói về sau cái chết của mình ở bài Từ thế chi ca, trong Di cảo của Chế Lan Viên. Nghĩa là nhà thơ đến tầm cỡ thi bá mà vẫn còn vấn vương lắm chuyện yêu ghét hận thù” (tr.105). Tự sự trải nghiệm và chiêm nghiệm đời sống, Ma Văn Kháng đưa ra lời khuyên chân thành: “Sống chung là cả một nghệ thuật. Quan hệ nhà văn với nhau là một quan hệ tế nhị. Cái áo ấm sặc sỡ quý phái bao giờ cũng được phủ ngoài bằng một lớp áo sa mỏng tang cho khỏi lộ liễu. Đó là phong cách thẩm mỹ của người Việt mình. Đừng để mình quá chói lọi bên bạn bè. Sống có nghĩa là để những người khác cùng sống với mình. Sống còn có nghĩa là chia sẻ tình nghĩa với bạn bè, đồng loại, sống là cho đi!” (tr.109).

Ma Văn Kháng trong tập sách Phút giây huyền diệu - nhà văn và quá trình sáng tạo còn nói đến mối quan hệ giữa nhà văn và bạn đọc. Đây là những bạn đọc không thuộc “lớp độc giả chuyên nghiệp”, “những độc giả “không quân hàm”, không quen biết, đa năng, đa thức, bách khoa toàn thư. Những độc giả thông thái. Họ biết tất. Họ biết giá trị một tác phẩm [...]. Có điều là những đánh giá ấy không có diễn đàn và chỉ tồn tại ở dạng lặng thầm” (tr.213). Nhiều độc giả như thế, vì yêu quý nhà văn, sau khi đọc sáng tác của Ma Văn Kháng, đã chân thành góp ý cho ông những sai sót, những điều chưa hợp lý trong tác phẩm.

Ma Văn Kháng còn nói đến Những người bạn đồng hành, tức là những bạn đọc chuyên nghiệp, những nhà lý luận, phê bình văn học gần gũi, thân thiết với ông. Cái lớn của Ma Văn Kháng qua những trang viết này là ở chỗ ông thật sự yêu quý những cây bút phê bình đã viết về những sáng tác của ông, chân thành ghi nhận cả những lời khen cả những lời “chê” (mà chắc gì đã đúng), và vượt qua những lề thói thông thường khen là bạn, chê là thù thường thấy xưa nay. Nếu có nhà văn nào đó đầy thành kiến với giới phê bình thì Ma Văn Kháng lại quả quyết: “Trái đất này mà không còn voi thì buồn lắm! Bắt chước câu nói của nhà bảo vệ môi trường, tôi cũng muốn nói rằng, sáng tác mà không có nhà lý luận phê bình thì buồn lắm. Cứ nghĩ mà xem. Buồn lắm, buồn thật đấy! Nhà lý luận phê bình, bạn đồng hành của nhà sáng tác!” (tr.190).         

*

Ma Văn Kháng trong bài Bí thuật của nghề nghiệp, cho ta biết, hồi những năm cuối 60 đầu 70 của thế kỷ XX, Chế Lan Viên đi Liên Xô về nói với những nhà văn trẻ đang tập tọng viết: “Hội Nhà văn toàn Liên bang Xô viết có 5000 hội viên, nhưng sẽ chỉ còn lại 4 - 5 ông là may mắn rồi. Nghĩa rằng, đặc thù của nghề văn là ở nơi xuất phát thì đông nhưng chỉ rất ít người tới đích” (tr.171). Nguyễn Đình Thi, năm 1970, nói với các nhà văn trẻ từ các tỉnh về họp Hội nghị Các cây bút trẻ, nói: “Cả đời tôi chỉ mong có được một truyện ngắn, một bài thơ được mọi người nhớ. Lúc ấy tôi thấy trong lòng đầy tự ái: Các ông này ra điều ta đây, cứ hay quan trọng hóa vấn đề!” (tr.171).

“Phút giây huyền diệu - nhà văn và quá trình sáng tạo”, một cuốn sách hay của Ma Văn Kháng - 2

Nhà văn Ma Văn Kháng

Khi đã thành nhà văn nổi tiếng, đã được tặng nhiều giải thưởng văn học cao quý, Ma Văn Kháng thực sự thấm thía tâm sự của những cây bút đàn anh nói trên. Ông viết: “Bây giờ già rồi, trải nghiệm rồi, đọc nhiều rồi, nghĩ lại mới thấy đúng là viết văn đến độ nào rồi mới biết thế nào là nghề văn, là văn chương. Lại nói câu nói của bạn tôi, Nguyễn Khắc Trường, nhà văn, tác giả Mảnh đất lắm người nhiều ma nổi tiếng: Nói thật là tôi đến giờ lắm lúc cũng chưa hiểu thế nào là văn chương […]. Bây giờ cuối đời rồi, viết cả mấy chục cuốn sách rồi, vậy mà viết tiếp một cái gì, vẫn thấy chả tự tin tẹo nào, vẫn thấy hoang mang lắm! Và thú thật, bây giờ mới thấy được, không phải chỉ là cái ngọt ngào, mà chính là cái cay đắng nghiệt ngã ở cái nghề văn của mình. Thú nhận này của tôi gặp cái khắc khoải của Văn Chinh, một nhà văn kỹ tính và tinh quái khi nghe anh nói rằng: Tôi học viết văn vào lúc người ta dạy cho biết văn học có thể can dự vào thế sự và vào việc hoàn thiện con người. Giờ tóc đã hoa râm, tôi thấy hiển nhiên là ngòi bút mình bất lực... Ngước nhìn lên, thấy cụ L.Tolstoy già nua khóc bảo ông M. Gorki hăm hở rằng: “Anh cứ sống đi rồi thấy rằng, nó, con người vẫn thế”. Lại toát mồ hôi nhủ rằng, phát hiện thêm về con người là khó như tìm ra một hành tinh khác vậy” (tr.172).

Dẫu có chút khiêm tốn khi nói về mình nhưng cái “toát mồ hôi”, cái giác ngộ của Ma Văn Kháng “phát hiện thêm về con người là khó như tìm ra một hành tinh khác vậy” là một nhận thức đúng đắn, sâu sắc, muôn thuở, muôn đời về văn chương nghệ thuật. Là một yêu cầu, đòi hỏi nghiệt ngã nhất, cao nhất trong sáng tạo của nhà văn. Nó đòi hỏi nhà văn phải có tư tưởng riêng, phải tạo được cho mình một phong cách độc đáo mà biểu hiện then chốt, cốt lõi của phong cách là phải có cái nhìn riêng, có tính chất khám phá, phát hiện về thế giới và con người. Sự giác ngộ của Ma Văn Kháng đã bắt gặp quan niệm của nhà văn Pháp Marl Prust (1871 - 1922): “Thế giới được tạo lập không phải một lần, mà mỗi lần người nghệ sĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế giới được tạo lập” (Thời gian tìm lại được). Phong cách, tính độc đáo của một nhà văn biểu hiện sâu đậm nhất ở cái nhìn, cách nghĩ hơn là ở văn phong. Với những nhà văn có phong cách, tác phẩm của họ luôn mở ra được cái gì đó về thế giới và con người mà trước đó, vẫn như là bị phong kín. Ma Văn Kháng cũng quả quyết: “Nhà văn, kẻ sáng tạo ra cái chưa hề có trong hiện thực! Chưa hề có trong hiện thực!” (tr.131). Nhà văn có tài năng lớn, có phong cách nghệ thuật độc đáo là người, qua tác phẩm của mình, tạo ra một thế giới nghệ thuật riêng, một xã hội riêng, theo quy luật riêng của nó. Vì thế, người ta thường ví những nhà văn lớn, những nghệ sĩ lớn như một tiểu hóa công. 

Đúng vậy, những nhà văn lớn, những nghệ sĩ lớn là những tiểu hóa công. Đây là cái đam mê sáng tạo của nhà văn qua ngòi bút Ma Văn Kháng: “Đó là một quá trình nhà văn bị thiêu đốt bằng cơn nhiệt hứng để đi tìm một hình dạng có giới hạn có khả năng hàm chứa cái vô hạn. Đó là một quá trình bị mê hoặc bằng ảo ảnh thần thánh hóa trước cái kết thúc tối hậu. Đó là một cơn đam mê quăng mình vào cuộc phiêu lưu trong đám sương mù của chữ nghĩa để diễn tả cho đúng cái điều mình định nói. Đó là một công cuộc theo đuổi tận lực kiệt cùng sự hoàn thiện, trong tinh thần luôn muốn vươn tới một cái gì đó đẹp hơn cái đang hiện tồn với ảo giác rằng mình đang làm công việc vĩ đại có thể thay đổi cả thế giới…” (tr.30). Ma Văn Kháng cho ta biết: năm 1976, đạo diễn Đặng Nhật Minh đi thực tập ở Bulgari. “Hỏi, học được những gì về nghề trong thời gian đó. Nghệ sĩ nhân dân kể: Một lần trong khi một đạo diễn Bulgaria đang tập cho diễn viên, thấy bên ngoài có tiếng ồn ào, ông này bỗng bật hét: Có im đi không! Không biết là Chúa đang tạo thế à! Và những tiếng ồn ào nghe vậy liền im phắc. Đạo diễn ngoài hiện trường là Chúa Trời!” (tr.60 - 61). 

Trong bài Tôi đã học viết như thế nào, M. Gorki viết: “Con người tưởng tượng Thượng đế của mình là đấng toàn tri, toàn năng, thần thông quảng đại, nghĩa là gán cho Thượng đế những khát vọng cao cả nhất của mình. Thượng đế chỉ là một sự “bịa đặt” của loài người nảy ra  từ “cuộc đời nghèo nàn cơ cực” và nỗi lòng khao khát mơ hồ của con người muốn dùng sức mình làm cho cuộc sống phong phú hơn, nhẹ nhàng hơn, công bằng hơn và đẹp đẽ hơn. Con người đã nâng Thượng đế lên trên cuộc sống, vì những phẩm chất và ước muốn cao cả nhất của con người nảy sinh trong quá trình lao động đã không có chỗ đứng trong thực tế, nơi đang diễn ra một cuộc đấu tranh khốc liệt vì miếng ăn”  Gorki, Bàn về văn học, tập I, Nxb Văn học, Hà Nội, 1970, tr.240). Những nhà văn, những nghệ sĩ vĩ đại, như trên đã nói, họ là một tiểu hóa công. M. Gorki cho ta biết về L. Tolstoy: “Xưa nay ông cụ vẫn ca ngợi hết lời sự bất tử ở thế giới bên kia, nhưng thật ra cái mà ông ham thích là sự bất tử trên thế gian này”. Hãy nghe Gorki viết về cuộc trò chuyện của ông với Tolstoy. Tác giả Chiến tranh và hòa bình nói với Gorki: “… Đấy anh vẫn nói đến cái đẹp. Nhưng cái đẹp là gì? Cái cao cả nhất và hoàn mỹ nhất là Thượng đế […]. Ông cụ ngồi trên đi - văng, hai chân gập xuống dưới gầm, trong chòm râu nở một nụ cười đắc thắng, giơ ngón tay lên dọa tôi: Chuyện này thì anh đừng hòng tảng lờ, không làm thinh được đâu!. Và tôi, người không bao giờ tin Thượng đế, không hiểu sao chợt ngước mắt lên nhìn ông một cách rất e dè, có phần sợ sệt nữa, lòng tự nhủ: “Con người này chẳng khác nào Thượng đế!”. Quả đúng vậy, những nhà văn vĩ đại, những thiên tài văn học cổ kim đông tây không phải là Thượng đế nhưng họ chẳng khác nào Thượng đế!      

Tập Phút giây huyền diệu - nhà văn và quá trình sáng tạo là tác phẩm của một nhà văn đạt đến trình độ hoàn toàn tự giác, luôn có ý thức về quá trình sáng tạo của nhà văn. Qua tập sách đặc sắc này, Ma Văn Kháng hầu như đã bao quát được những bước, những khâu cơ bản của quá trình sáng tạo của nhà văn. Đây là tập tiểu luận và bút ký xuất sắc về nghề văn, với nhiều nhận xét tinh tế, sâu sắc, dẫu quen mà vẫn lạ, vẫn đầy bất ngờ, vì nó không chỉ có tầm bao quát mà còn bổ sung, khắc sâu thêm một vấn đề cốt lõi nào đó trong quá trình sáng tạo của nhà văn. Nhiều đoạn văn viết tràn đầy cảm hứng, nghiêng ngả trong cơn hưng phấn, như là lên đồng, như là sự thăng hoa của cảm xúc. Phút giây huyền diệu - nhà văn và quá trình sáng tạo không chỉ cung cấp những kiến thức sâu sắc, bổ ích cho bạn đọc thông thường mà còn là tư liệu quí cho những nhà lí luận, phê bình văn học; đồng thời cũng có ý nghĩa gợi mở cho các nhà văn trẻ trên con đường tìm một lối đi riêng trong quá trình sáng tạo nghệ thuật. Đây là một cuốn sách hay, góp phần làm phong phú thêm sự nghiệp văn học của Ma Văn Kháng.

Trần Đăng Suyền

Tin liên quan

Tin mới nhất

Lịch thi đấu cúp bóng chuyền Hoa Lư 2026 mới nhất

Lịch thi đấu cúp bóng chuyền Hoa Lư 2026 mới nhất

(Tin thể thao, tin bóng chuyền) Cúp bóng chuyền Hoa Lư 2026 quy tụ 12 đội mạnh của bóng chuyền Việt Nam, tranh tài từ 18/3 đến 23/3 tại Ninh Bình. Kết quả bốc thăm chia bảng hứa hẹn nhiều trận đấu hấp dẫn ngay vòng bảng.

ĐT nữ Việt Nam quyết đấu Nhật Bản tranh vé tứ kết giải châu Á,

ĐT nữ Việt Nam quyết đấu Nhật Bản tranh vé tứ kết giải châu Á, "tướng" Chung nói gì?

Trước cuộc đối đầu với ứng viên vô địch Nhật Bản ở lượt trận cuối vòng bảng Asian Cup nữ 2026 (16h ngày 10/3), HLV Mai Đức Chung cho biết ĐT nữ Việt Nam đã chuẩn bị kỹ lưỡng và sẵn sàng bước vào thử thách lớn. Dù đánh giá cao sức mạnh của đối thủ, toàn đội vẫn đặt quyết tâm thi đấu hết mình để tự quyết cơ hội của mình.