Trò chuyện với Tiến sĩ Võ Hương Quỳnh về “Sự dịch chuyển của văn học và dịch văn học Việt Nam" Kỳ 2

(Arttimes) - Mỗi nhà thơ đều có quyền định nghĩa bản thể thi ca của riêng mình, và tôi trân trọng những sự định vị mang những dấu ấn đời sống khác nhau của họ, bởi giá trị thật sự của một bài thơ không đến từ những định nghĩa hay định vị bản thể thi ca đó, mà giá trị thực sự của thơ được thể hiện ở triết lý và cảm thức của nhà thơ về cuộc sống khiến người đọc phải trăn trở, hoài nghi, thức tỉnh, và thay đổi

PV: Trong số các nhà thơ thuộc thế hệ mới, những người lang thang trên phố, kể chuyện đời thường, nhiều người định nghĩa thơ của họ là “thơ rác, thơ nghĩa trang, thơ bẩn”. Theo chị, ý nghĩa của vị trí này là gì? Và tác giả nên đầu tư vào khía cạnh nào để nâng cao giá trị, tư tưởng tác phẩm của mình hơn nữa?

TS Võ Hương Quỳnh: Mỗi nhà thơ đều có quyền định nghĩa bản thể thi ca của riêng mình, và tôi trân trọng những sự định vị mang những dấu ấn đời sống khác nhau của họ, bởi giá trị thật sự của một bài thơ không đến từ những định nghĩa hay định vị bản thể thi ca đó, mà giá trị thực sự của thơ được thể hiện ở triết lý và cảm thức của nhà thơ về cuộc sống khiến người đọc phải trăn trở, hoài nghi, thức tỉnh, và thay đổi. Ở Mỹ, khoa Văn học luôn đi đầu trong những phong trào đấu tranh cho sự bình đẳng xã hội.

Chẳng hạn, các đồng nghiệp và sinh viên trong khoa Văn học Anh-Mỹ ở trường Hawaii nơi tôi đang giảng dạy không chỉ đấu tranh bằng ngòi bút, mà họ còn dấn thân vào các phong trào biểu tình bất bạo động để giành lại công lý cho những thành phần phải chịu thiệt thòi, bị đàn áp trong xã hội. Nhìn chung, tôi vẫn tin rằng để viết nên một tác phẩm có tư tưởng và giá trị trường tồn thì các nhà văn, nhà thơ, bên cạnh việc tiếp cận gần hơn với đời sống, cần phải bền bỉ trang bị cho mình nền tảng vững chắc về triết học, chính trị, văn hoá, tâm lý học, lịch sử, v.v. Bởi văn học sẽ không thể chạm đến trái tim những người đọc chân chính nếu không dựa trên những nền tảng tư duy về tri thức nhân loại.

Trò chuyện với Tiến sĩ Võ Hương Quỳnh về “Sự dịch chuyển của văn học và dịch văn học Việt Nam" Kỳ 2 - 1 Tiến sĩ Võ Hương Quỳnh vẫn tin rằng để viết nên một tác phẩm có tư tưởng và giá trị trường tồn thì các nhà văn, nhà thơ, bên cạnh việc tiếp cận gần hơn với đời sống PV: Trong thời đại của Internet, sự khác biệt giữa nhà văn nội địa Việt Nam và nhà văn hải ngoại có còn giá trị?

TS Võ Hương Quỳnh: Sự phát triển của công nghệ thông tin cũng đang xoá mờ đi rất nhiều biên giới. Tuy nhiên, vẫn còn những rào cản vô hình đã tạo nên sự khác biệt giữa nhà văn hải ngoại và nhà văn trong nước. Rào cản đó chính là tư duy về lịch sử và văn hoá.

Trong khi các nhà văn hải ngoại thường viết về ký ức và những trăn trở với quá khứ, thời cuộc, thì các nhà văn trẻ trong nước lại có khuynh hướng mải mê thể nghiệm, khám phá những đề tài hiện đại hoặc phong cách sáng tác mới mà chưa thực tham gia đối thoại về văn học để tạo nên sự giao thoa về ý thức hệ, lịch sử, chính trị và từ đó tìm thấy những tiếng nói chung. Những nhà văn gốc Việt sinh ra ở nước ngoài và sáng tác bằng tiếng Anh thì không hiểu lắm về tiếng Việt cũng như văn hoá của Việt Nam, và những sáng tác của họ cũng chưa được phổ biến nhiều ở trong nước, nên tuy là mạng xã hội và Internet luôn rộng mở, sự khác biệt giữa nhà văn trong nước và hải ngoại vẫn còn khá lớn.

PV: Tại sao thơ văn Việt Nam được giới thiệu ra nước ngoài còn quá ít? Điều này, theo chị là do đâu? Và có cách gì để cải thiện tình trạng đó?

TS Võ Hương Quỳnh: Sở dĩ thơ văn Việt Nam vẫn còn chưa được biết đến nhiều trên thế giới vì thứ nhất là vấn đề quy trình khá phức tạp: chẳng hạn, để xuất bản sách như tiểu thuyết, tuyển tập thơ, hồi ký ở Mỹ thì trước hết tác giả cần phải dịch tác phẩm của mình ra tiếng Anh và phải chủ động tiếp cận với công ty trung gian (agent) chuyên về xuất bản ở Mỹ để giới thiệu tác phẩm của mình. Nếu được chấp nhận, công ty trung gian đó sẽ tự tìm nhà xuất bản và thực hiện tất cả những khâu còn lại như ký hợp đồng bản quyền, phát hành, quảng bá trên truyền thông, lấy đánh giá phản hồi của độc giả, v.v. Thứ hai, những thể loại có thể xuất bản tại thị trường nước ngoài thường phải có dấu ấn đặc sắc về chính trị, văn hoá, lịch sử, con người của Việt Nam trong mối tương quan với thế giới, chẳng hạn như những đề tài về chiến tranh và hậu chiến; toàn cầu hoá, văn hoá hậu thuộc địa, v.v. mới có thể thu hút được độc giả bên ngoài vì nó cho thâý một Việt Nam không tách biệt hay tồn tại ngoài thế giới.

Theo tôi, các tác giả trong nước vẫn có thể dịch ra tiếng Anh và xuất bản những tác phẩm như truyện ngắn, thơ, và tiểu luận của mình ở những tạp chí văn học nước ngoài mà không cần qua trung gian. Tuy nhiên, để mang nền văn học Việt Nam đến gần hơn với thế giới, cần có những dự án kết nối và hợp tác giữa các nhà văn trong nước và các nhà văn ở hải ngoại biết tiếng Anh để cùng dịch và xuất bản hai chiều ở trong và ngoài nước.

PV: Xin cảm ơn chị! 

Kiều Bích Hậu None

Tin liên quan

Tin mới nhất

TP.HCM tưng bừng kỷ niệm 73 năm Ngày truyền thống Nhiếp ảnh Việt Nam

TP.HCM tưng bừng kỷ niệm 73 năm Ngày truyền thống Nhiếp ảnh Việt Nam

Sáng ngày 17/3/2026, Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam và Hội Nhiếp ảnh Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) tổ chức lễ kỷ niệm 73 năm Ngày truyền thống Nhiếp ảnh Việt Nam (15/3/1953-15/3/2026). Bà Trương Mỹ Hoa, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Nước đã đến dự, chung vui cùng các Nghệ sĩ Nhiếp ảnh, theo Tạp chí Nhiếp ảnh và Đời sống.

Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam tổ chức về nguồn nhân kỷ niệm 73 năm Ngày truyền thống Nhiếp ảnh Việt Nam (15/3/1953 - 15/3/2026)

Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam tổ chức về nguồn nhân kỷ niệm 73 năm Ngày truyền thống Nhiếp ảnh Việt Nam (15/3/1953 - 15/3/2026)

Sáng 14/3, nằm trong chuỗi hoạt động kỷ niệm 73 năm Ngày truyền thống Nhiếp ảnh Việt Nam (15/3/1953-15/3/2026), Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam tổ chức chuyến hành hương về nguồn tại Khu di tích lịch sử Quốc gia, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 147/SL thành lập “Doanh nghiệp quốc gia chiếu bóng và chụp ảnh Việt Nam khai sinh ngành Điện ảnh và Nhiếp ảnh cách mạng ngày nay thuộc khu Đ

Nghệ nhân, doanh nhân Hà Thị Vinh: Bông hồng vàng Việt Nam

Nghệ nhân, doanh nhân Hà Thị Vinh: Bông hồng vàng Việt Nam

Làng Bát Tràng (xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm) được thiên nhiên ưu ái ban tặng vị trí đắc địa: tọa lạc bên bờ tả ngạn sông Hồng lịch sử lại rất gần với kinh thành Thăng Long, điều đó đã kiến tạo nên dòng chảy giao thương tấp nập, sầm uất. Văn hóa xứ sở là linh hồn của một vùng sinh thái, nổi tiếng với làng nghề gốm sứ Bát Tràng - một di sản văn hóa vật thể

Số hóa di sản văn hóa – chìa khóa lan tỏa giá trị truyền thống

Số hóa di sản văn hóa – chìa khóa lan tỏa giá trị truyền thống

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, việc số hóa di sản văn hóa đang trở thành hướng đi quan trọng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống. Thông qua các nền tảng công nghệ, di sản không chỉ được lưu giữ bền vững mà còn có cơ hội lan tỏa rộng rãi, giúp công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ, tiếp cận và hiểu sâu hơn về lịch sử, văn hóa dân tộc, theo Cổng th

Bộ VHTTDL ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 01/NQ-CP năm 2026, thúc đẩy phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch

Bộ VHTTDL ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 01/NQ-CP năm 2026, thúc đẩy phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vừa ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 08/01/2026 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026, nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện trong các lĩnh vực của ngành, theo Cổng thông tin điện tử Bộ VHTTDL.

Vệt nắng thổ cẩm trên khung cửi của người Ba Na bên hồ Đồng Mô, Hà Nội

Vệt nắng thổ cẩm trên khung cửi của người Ba Na bên hồ Đồng Mô, Hà Nội

Chiều buông chậm trên Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam. Ánh nắng muộn như kẻ lữ hành mải bước, chợt dừng chân rồi “ngủ quên” trên mái nhà sàn phủ màu thời gian. Từng vệt vàng dịu nhẹ trườn qua phên nứa, đậu lên khung cửi, lên những sợi chỉ đang căng mình chờ thành tấm vải. Trong khoảng không gian ấy, màu sắc, âm thanh và hơi thở của núi rừng Tây Nguyên dường như cùng