Văn chương và những vấn đề toàn cầu (Nhìn từ tiểu thuyết của Linda Lê)

Viết văn không bằng tiếng mẹ đẻ - mà bằng một ngôn ngữ “mạnh”: tiếng Pháp - riêng điều này đã cho thấy Linda Lê không lựa chọn trở thành nhà văn của chỉ một dân tộc, một quốc gia. Tuy vậy, không thể đoạn tuyệt với cái tôi đời thực vốn có một quốc tịch, một quê hương, rốt cuộc Linda Lê vẫn thuộc về một nơi chốn, dẫu đó là nơi “không thể xác định”, bấp bênh và không ngừng chuyển dịch; dẫu tự tác giả luôn cảm thấy không thật sự gắn kết với một nơi nào. Không thuộc về nơi này cũng chẳng thuộc về nơi kia, hay đồng thời vừa ở nơi này, lại vừa ở nơi kia, phải chăng đây là cảm giác chung của những “nhà văn toàn cầu”, những nhà văn lưu vong, từ đời thường cho đến trang viết, mà Linda Lê là một trong số ấy. Như nhiều tác phẩm của các nhà văn không biên giới, tiểu thuyết của Linda Lê là những bản mô tả chi tiết, sống động về các vấn đề toàn cầu hóa, với tiêu điểm là những thân phận lưu đày.

Viết như một công dân toàn cầu

Cùng viết với ý thức là một công dân toàn cầu, song sự lựa chọn của các nhà văn lưu vong không phải lúc nào cũng giống nhau. Cao Hành Kiện chỉ viết về căn tính và tâm thức văn hóa Trung Quốc gắn với các câu chuyện truyền thuyết, lịch sử của một thời đã qua, trong khi Murakami ưu tiên hơn cho một Nhật Bản hiện đại với những giá trị phổ quát thay vì giá trị truyền thống. Từ Mỹ và qua các trang văn, Khaled Hosseini lựa chọn trở về quê nhà Afghanistan, trong khi Đới Tư Kiệt rời bỏ đất nước và chỉ thành danh ở bên ngoài Trung Quốc, với Paris là quê hương mới. Thuận lục lọi kí ức, ngoái nhìn Việt Nam thời bao cấp cùng những bi kịch của người Việt xa xứ, từ nước Pháp; khác hẳn Linda Lê, cũng mang cùng điểm nhìn không gian ấy, song từ chối nguyên quán, quan tâm nhiều hơn đến những thân phận thiếu quê hương.

Sự lựa chọn ngôn ngữ văn học của các nhà văn quốc tế ấy cũng không hoàn toàn giống nhau, liên quan đến mức độ hội nhập với nơi ở mới và sự gần gũi hay xa rời gốc gác. Thuận, Murakami, Cao Hành Kiện…, trung thành, ôm ghì lấy ngôn ngữ mẹ đẻ, viết cho độc giả quê nhà từ bên ngoài biên giới. Ngược lại, chủ động khước từ tiếng mẹ đẻ, Khaled Hosseini, Sơn Táp hay Linda Lê viết văn bằng ngôn ngữ của nước sở tại, khẳng định sự nghiệp văn học của mình với thế giới.

Song, ngay cả khi cùng không lựa chọn tiếng mẹ đẻ, chủ ý của các nhà văn cũng rất khác nhau khi mượn văn chương để đối diện và truy tìm căn tính. Hosseini dùng ngôn ngữ vay mượn để đưa dân tộc đến gần hơn với thế giới, xóa bỏ biên giới giữa các quốc gia vốn trùng trùng khác biệt bởi văn hóa Đông - Tây. Sơn Táp chọn tiếng Pháp cho cộng đồng độc giả mới dù tác phẩm của chị vẫn lấy đề tài từ lịch sử, văn hóa quê nhà, với hình tượng trung tâm là các nhân vật nữ mang đậm dáng vẻ hình hài và tâm hồn Trung Quốc.

Linda Lê, đặc biệt hơn, cự tuyệt ngôn ngữ mẹ đẻ để đối diện với cái nằm ngoài mọi biên giới, để từ “cái khác” bàn về những vấn đề mang tính nước đôi và rồi chạm đến những giá trị phổ quát. Với lựa chọn ấy, Linda Lê dường như là nhà văn lưu vong đủ “khách quan” để không nhìn các vấn đề của nhân loại thời toàn cầu hóa từ những quán tính văn hóa của dân tộc, quốc gia. Chỉ với Linda Lê, các lằn ranh mới thật sự bị mờ hóa, không ngừng dịch chuyển, nhòe đi; để cái bên này và bên kia trở nên khó phân tách, như đúng bản chất của khái niệm toàn cầu hóa.

Là “một khách trú, một đứa con rơi, bơ vơ trên tất cả xứ sở trên thế gian này ngoài huyền thoại của văn chương” (Đinh Linh), giống như nhiều nhà văn lưu vong, Linda Lê chọn viết để được cứu rỗi. Đây là một sự lựa chọn đầy dũng cảm, bởi, như chị chia sẻ: “Viết trong ngôn ngữ không phải là ngôn ngữ của mình, chẳng khác gì làm tình với một thây ma”. Xem mình là một công dân của ngôn ngữ Pháp, thay vì là một công dân “Pháp ngữ”, sáng tạo, trong trường hợp của Linda Lê, trở thành một hình thức tự lưu đày. Và từ sự lưu đày đó, những trói buộc của con người trong một thời đại tưởng như không còn bị giới hạn bởi không gian địa lý, có điều kiện được hiển lộ, như chính sự bất toàn của toàn cầu hóa vẫn không ngừng đổ bóng, bao phủ loài người. Ám ảnh nhận diện những thân phận tự lưu đày thông qua hành vi viết trở thành một mạch ngầm siêu văn bản xuyên suốt các tác phẩm của Linda Lê.

Văn chương và những vấn đề toàn cầu (Nhìn từ tiểu thuyết của Linda Lê) - 1

"Vu khống", "Tiếng nói", "Thư chết", "Sóng ngầm", "Vượt sóng" - những tác phẩm tiểu thuyết đã được dịch sang tiếng Việt của Linda Lê.

Từ Vu khống, Tiếng nói, Thư chết đến Sóng ngầm, Vượt sóng (những tác phẩm đã được dịch sang tiếng Việt), có thể thấy, hình tượng tác giả và kiểu nhân vật nhà văn luôn trở đi trở lại, làm nên tính siêu hư cấu rất đặc biệt của tiểu thuyết Linda Lê. Mối quan hệ giữa hư cấu và thực tại trong tác phẩm vì vậy khá phức tạp, vừa song song tồn tại, vừa lẫn vào nhau, vừa là biểu hiện của thế giới quan tác giả, vừa là kết quả của lối viết hiện đại khi văn học được xem là một trò chơi ngôn ngữ.

Motip nhà văn có gốc gác từ một nước nhược tiểu (một mặt chối bỏ, một mặt lại bị ám ảnh bởi cội rễ), nhờ hành vi viết mà tìm thấy bản ngã, xác lập căn tính, xuất hiện với tần số cao trong các tác phẩm. Đó là một cô gái “dân Chà Chệt viết văn bằng tiếng Pháp” như “một cách để thoát khỏi gia đình, để bảo vệ sự cô đơn, sự toàn vẹn tâm thần” (Vu khống). Đó còn là một nhà văn có “ông nội là bần cố nông gốc Việt Nam và gần như mù chữ khi đặt chân đến Pháp”, xem viết như một nỗ lực chống chọi để không bị tiêu tan, một hành vi chống trả với các trật tự đã được thiết lập - viết để cắt nghĩa cho sự tồn tại của chính mình (Vượt sóng)... Được kể từ cái nhìn giàu trải nghiệm của người trong cuộc (các nhân vật nhà văn lưu vong mang bóng dáng của chính tác giả), các câu chuyện về người nhập cư, sự kì thị, hay sự kháng cự và hội nhập văn hóa… đã tạo nên một “căn tính nhập cư đương đại” trong tiểu thuyết của Linda Lê.

Độ nhòe giữa thực tại văn bản và thực tại đời sống, đặc biệt ở hình tượng nhân vật nhà văn (vừa là sản phẩm hư cấu, vừa in dấu cái tôi tác giả), cũng khiến tính lập lờ nước đôi trở thành “căn tính tác giả” của nhà văn người Pháp gốc Việt này. Nói cách khác, cảm thức lưu vong và tâm thế viết như một nhà văn không biên giới đã giúp Linda Lê chạm đến nhiều vấn đề của toàn cầu hóa.

Chấn thương và lưu vong

Biểu hiện rõ nhất của những lai ghép văn hóa, xóa nhòa đường biên/giới tuyến thời toàn cầu hóa là vấn đề nhập cư. Những làn sóng di dân, những người bỏ lìa quê hương đến nơi ở mới đã góp phần tạo ra những xáo trộn văn hóa. Họ vừa làm nên sự đa dạng văn hóa, vừa day nhấn về sự khác biệt vốn là nguyên nhân của việc mất bản sắc. Bằng cái nhìn của người trong cuộc, Linda Lê đã nhận diện số phận của những người lưu vong, chỉ ra những vết thương của thế giới thời toàn cầu hóa, từ trong tính ưu việt của xu hướng hội nhập.

“Nơi ở của người lưu vong là một thứ địa phương tính vô giới hạn (nonlimited locality). Nghĩa là không thực sự ở đâu cả”. Họ không thuộc về bất cứ đâu bởi với họ, “mọi không gian đều bị lọc qua lăng kính của quê gốc trong khi chính cái gọi là quê gốc lại chỉ là một kết tập của hồi ức và dự phóng, một cái gì vừa thuộc về quá khứ lại vừa thuộc về tương lai” (Nguyễn Hưng Quốc). Việc không thật sự thuộc về nơi nào bởi vừa đứt rễ với quê cũ, vừa không thể bám rễ với nơi ở mới là cội nguồn của những chấn thương, không chỉ là những sang chấn lưu vong của từng cá nhân, mà còn bao gồm những mặc cảm của thân phận nhập cư, trong mối quan hệ với người bản xứ. Chọn miêu tả cuộc sống của những công dân Pháp mà dấu ấn quê hương “nhược tiểu” vẫn không thôi in dấu, Linda Lê đã trưng ra một góc tối của thế giới thời toàn cầu hóa, cùng những ảo tưởng về một ngôi nhà chung của nhân loại.

Văn chương Linda Lê tràn ngập số phận bi thương của những người bị đẩy lìa khỏi gia đình, quê hương và sống mòn ở một nơi chưa bao giờ xem họ là thành viên thực sự. Đó là một chàng trai, vì tình yêu loạn luân mà bị cưỡng bách lưu đày xa xứ, bị buộc trở thành người điên, để rồi không thể chịu nổi âm thanh của những kẻ tâm trí lành mạnh, bởi “dù bằng tiếng Pháp hay tiếng dân Chà Chệt, tiếng léo xéo cũng chỉ che giấu sự hão huyền của kiếp sống thừa” (Vu khống). Đó còn là người lính thợ Việt Nam, Diet Trần, tủi nhục vì thân phận lưu vong cho đến lúc chết, và vẫn tiếp tục di truyền mặc cảm nhập cư cho con trai, Martin Trần, qua cái họ “nước ngoài” trên đất Pháp (Vượt sóng).

Sự tội nghiệp của những số phận nhập cư ấy còn là ở chỗ họ cự tuyệt nguồn gốc nhược tiểu, quay lưng với đồng hương như một phản ứng ngược để tự vệ, chống trả. Cô gái trong Vu khống đã tức tối khi có người nói với cô bằng tiếng mẹ đẻ của cô. Cô căm ghét việc bị những người đồng hương gợi chuyện, “lấy cớ tình cờ cùng ở nơi xứ lạ quê người”. Martin Trần trong Vượt sóng thì xấu hổ vì thân phận con lai, không thừa nhận người bố Việt Nam và luôn miệng chửi rủa “bọn da màu” khi tự xem mình như người Pháp bản xứ.

Đáng chú ý là sự xung đột, kì thị và mặc cảm “bên lề” này còn diễn ra giữa cư dân đô thị và tỉnh lẻ ngay trong cùng một xứ sở. Linda Lê đã mô tả rất sâu sắc tình thế lưỡng lự của nhân vật người cha trong Thư chết, một người muốn là họa sĩ nhưng lại làm việc trong ngân hàng, một người Việt “đã chứng kiến tất cả các cuộc chiến tranh, đã tham gia tất cả các cuộc cách mạng” và đã rời miền Bắc sau khi đất nước bị chia cắt, bí mật vượt vĩ tuyến mười bảy vào Nam, lang thang khắp nơi cho đến khi gặp người đàn bà của đời mình và bị coi là một kẻ mất gốc, thất thế. Đó cũng là những mâu thuẫn giữa việc chấp nhận hay vượt qua thân phận ngoài rìa của nhân vật Racin trong Vu khống vốn nuôi mối thù dai dẳng với các kí giả Paris, đến đỗi “chính anh cũng trở thành một kí giả Paris, phần để tự trừng trị mình và vì tự chán ghét mình, phần vì nhu nhược và tự biết mình không làm gì khác được”.

Trong tiểu thuyết Linda Lê, bị kì thị, tự kì thị và cả kì thị người khác đều là biểu hiện của những chấn thương tâm lí không thể chữa lành ở những thân phận lưu vong, ngay cả khi họ ý thức rõ về một thế giới không lằn ranh trong thời toàn cầu hóa.

Bình đẳng và chung sống

Toàn cầu hóa giúp người ta nhận ra giá trị của sự đa dạng văn hóa. Việc nhiều dân tộc trong một quốc gia, hay việc nhiều quốc gia trong một khu vực cùng chia sẻ những giá trị chung, bất kể những khác biệt từ bản sắc chính là “sự cực đại đa dạng trong cực tiểu không gian” (M. Kundera), một biểu hiện đặc thù của tính đa văn hóa và liên văn hóa. Từ Pháp, và chọn Pháp như là trung tâm của sự cộng gộp, lai ghép văn hóa, Linda Lê không chỉ đề cập đến những sang chấn lưu vong mà còn nhấn mạnh đến sự bình đẳng của những kẻ khác/cái khác, khi mà đối thoại và hội nhập văn hóa là một xu thế tất yếu của nhân loại.

Cho dẫu phải “sống bằng những chối bỏ, nuôi mình bằng những phản bội” trong những tháng ngày lưu vong trên đất Pháp, nhân vật “Tôi” trong Vu khống vẫn “kiêu hãnh là dân Chà Chệt viết văn bằng một ngôn ngữ không phải của mình”, thậm chí “lại muốn thêm được hồ nghi con hoang, được bán tin bán nghi con lai”. 

Có thể nói, thách thức để được là chính mình, dẫu chịu thân phận bên lề, hay chống chọi để sống với sự phân biệt giữa người bình thường và người điên, cặp đôi cậu/ cháu người Chà Chệt phải chịu cảnh lưu đày xa xứ trong tiểu thuyết Vu khống, trở thành biểu tượng của sự kháng cự và vượt qua kì thị trong quá trình cùng chung sống và đòi hỏi bình đẳng của con người.

Không lựa chọn chỉ ra những khác biệt văn hóa từ những miêu tả đối sánh, cái khác/ kẻ khác trong tiểu thuyết của Linda Lê được nhấn mạnh từ sự kì thị và vượt qua kì thị của các cá nhân trong quá trình va chạm, chung sống. Đó là sự khác biệt đến mức phủ định nhau như mẹ con Lou, bởi Lou chọn lấy Văn và sinh ra một đứa con không thuần chủng, chống lại các quan niệm định kiến và “hoang tưởng về ưu thế của người phương Tây” của mẹ (Sóng ngầm). Đó còn là những khác biệt bởi sự lỏng lẻo, thiếu gắn kết, ngay trong chính cộng đồng người nhập cư, xuất phát từ mức độ hội nhập và “sức ỳ” trong việc gìn giữ hay rũ bỏ căn tính gốc (Vu khống, Thư chết).

Tuy vậy, cái khác chính là gốc rễ của sự đa dạng, là căn nguyên của xu hướng đối thoại, hội nhập văn hóa. Bằng việc nhận diện quá trình chung sống và tìm kiếm địa vị bình đẳng của người nhập cư ở Pháp, bao gồm cả những trải nghiệm của bản thân, Linda Lê đã chứng tỏ sự đa dạng văn hóa là một giá trị lớn của thế giới, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Có thể xem Văn, một biên tập viên giỏi nghề của một tòa soạn có tiếng ở Paris, rời quê hương Việt Nam và đến Pháp từ năm 15 tuổi, trong tiểu thuyết Sóng ngầm, là hình mẫu tiêu biểu cho kiểu người nhập cư có khả năng chung sống bình đẳng trong môi trường “nước lớn”. Văn chứng minh cho việc hoàn toàn có thể chung sống bình đẳng trong một môi trường biết chấp nhận và tôn trọng những khác biệt văn hóa, dẫu tự anh không thể chấm dứt tình trạng kì thị hay xu hướng co cụm, mặc cảm của phần lớn người lưu vong. Tất nhiên việc đề cao, chú trọng cái chung hơn cái riêng, cái trung tâm hơn là cái ngoại biên, bên lề, của Văn cũng ít nhiều làm mờ dần cái bản sắc thiểu số. Đa văn hóa và liên văn hóa là đặc tính dễ nhận thấy của thời toàn cầu hóa. Song những trả giá của nhân loại và những “mất mát” không dễ nhận thấy của Văn (không nói tiếng mẹ đẻ trong suốt 30 năm sống đời lưu vong, không một lần trở về quê hương, không giao tiếp với đồng bào và gần như “mất gốc”) cũng là điều cần suy ngẫm. Để thấy, chung sống bình đẳng, chưa bao giờ là thật sự dễ dàng.

Viễn tượng một “quê xứ con người” 

Cùng với những cuộc dịch chuyển, mất nơi ở và xác lập nơi ở mới, việc tự nhận biết bản thân thuộc về nơi nào của con người trở nên khó khăn. Quá trình làm quen với không gian cư trú, của những người lưu vong lại càng đặc biệt hơn, bởi gắn liền với “một chuỗi kinh nghiệm về giải lãnh thổ hoá và tái lãnh thổ hoá liên tục” (Nguyễn Hưng Quốc). Họ một mặt, có xu hướng coi nhẹ ranh giới để thích nghi với nơi ở mới, một mặt, tạo lập ranh giới mới để bớt cảm giác “lơ lửng”, chông chênh giữa một chốn hai quê.

Hiểu rõ cảm giác không thuộc về đâu của những thân phận lưu vong, bằng văn chương, Linda Lê đã xóa nhòa mọi sự phân cách để mỗi người luôn đồng thời là người kia/ kẻ khác. Có thể nói, tính lưỡng phân của giới tuyến đã chi phối cách nhìn của Linda Lê về vấn đề dân tộc - quốc gia trong thời kì toàn cầu hóa. Bởi, như nhiều người nhập cư khác, Linda Lê luôn thuộc về phía bên kia, dẫu nhìn từ bên phía nào của mọi làn ranh (với Pháp, Linda Lê thuộc về Việt Nam, song với Việt Nam, cô lại là công dân Pháp). Tình trạng lập lờ, nước đôi này là bi kịch nhưng cũng là cơ hội để Linda Lê nhận diện hai mảnh phân thân của những người lưu vong, một - gắn với khát khao truy tìm cội nguồn và một - gắn với những lãng quên, chối bỏ khi xem quê hương chính là nơi cư trú. 

Nhân vật trong tiểu thuyết của Linda Lê thường ý thức rõ về tình trạng thiếu/ mất quê hương và không ngần ngại tự thú: “Chúng tôi không thuộc nơi nào”, “Gốc rễ chúng tôi bập bềnh mặt nước”. Đối thoại của nhân vật người điên trong tiểu thuyết Vu khống với cuốn sách, người bạn duy nhất của anh, đã lột tả sự đơn độc đến tận cùng của những thân phận lưu đày xa xứ.

Có thể nói, đối thoại bằng độc thoại, tự thuật của nhân vật là đặc trưng nổi bật của tiểu thuyết Linda Lê. Trong Thư chết, từ những đối thoại vắng mặt với người cha đã chết của nhân vật “tôi”, Linda Lê đã lột tả những lỗi hẹn đớn đau trong hành trình lần về cội rễ của những đứa con đã có lúc quên lãng quê nhà. Đó là nỗi nhớ “không phải tôi nhớ cha tôi, mà chính tiếng nói, là những lời nói của người”, thứ “tiếng nói đã nâng đỡ tôi suốt 20 năm qua” đã mang theo nỗi đau của một đứa con sống tha hương, khi nhìn về cố quốc: “Chữ L tràn trề nước mắt, chữ O nghẹn tiếng kêu, chữ C tỏa ra ánh trăng bệnh hoạn, chữ S gợi nhắc hình dạng đất nước của tuổi thơ tôi, chữ I run rẩy là hình ảnh của cha tôi, một người cố đứng thẳng nhưng gần ngã gục đến nơi”. Đó còn là “vị sầu tủi dưới lưỡi” của một cái tôi lưu vong khác trong lời tự thú “đã lâu rồi tôi không còn cảm thấy vị ấy trong miệng, vị một chất độc nhen bừng máu tôi, hâm nóng gan ruột tôi. Tôi thấy mình trở lại hàng bao năm trước, hồi còn ở Đất Nước” (Vu khống).

Dường như có một “căn tính văn bản” trong các tác phẩm của Linda Lê, liên quan đến cảm hứng cội rễ và số phận lưu đày của các nhân vật mang hình bóng của chính tác giả.

Tình thế lưỡng phân là cội nguồn của những cảm xúc mâu thuẫn khi nghĩ về nguồn cội. Linda Lê từng thú nhận: “Khi thì tôi coi Việt Nam giống như một loài cây độc toả xuống cái bóng chết chóc, bởi nỗi nhớ có thể trở thành một điều xấu xa nguy hiểm, lúc thì Việt Nam lại giống như một cái cây cổ thụ nơi tôi tìm được chỗ trú ngụ và giúp tôi phòng chống lại sự vỡ mộng”.

Từ chối ngôn ngữ mẹ đẻ, né tránh nhắc đến tổ quốc, song hầu hết tiểu thuyết của Linda Lê lại viết về chính những con người ra đi từ nơi ấy. Chọn quên đi bản sắc, hay nhấn mạnh vào tính mong manh của dân tộc tính, tiểu thuyết của Linda Lê còn mang cảm thức hư vô. Nhân vật người điên trong Vu khống chọn cái chết để chấm dứt cuộc sống mờ nhạt, vô danh khi rốt cuộc anh không thuộc về một nơi nào. Antoine Sorel tìm về lại quê hương Việt Nam để lật lại một trang đời của người ông gốc Việt song vẫn mờ mịt, lạc lõng trên chính quê hương bởi sự thờ ơ, quên lãng của lịch sử, của đồng bào. Tìm mà không thấy, kể cả thấy cũng không để làm gì, Antoine Sorel rốt cuộc cũng đã mệt mỏi trong quá trình truy tìm cội rễ và căn tính. Cái chết tự chọn của anh là trở thành biểu tượng của thân phận con người khi đối diện với cái hư vô. Trước cái chết, có hay không có sự hiện diện của quê hương trên xứ người cũng đều là vô nghĩa. Truy tìm nguồn cội liệu có thật sự cần thiết trong viễn tượng một “quê xứ con người”.

 Mang cảm thức chia xé của người lưu vong và “can đảm nhìn lại ngôn ngữ và quê hương như một sự bất toàn của mình” (Nguyễn Xuân Hoàng), bằng văn chương, Linda Lê đã đề cập đến “cái giá” của toàn cầu hóa. Toàn cầu hóa khiến thế giới trở thành ngôi nhà chung hay đã khiến nhân loại đánh mất nguồn cội, chơi vơi trong “cõi không nơi nào”?

Toàn cầu hóa liệu có thể xóa được mọi ngăn cách giữa các dân tộc, quốc gia, các nhóm người, trong khi con người mãi mãi không thể loại trừ căn tính gốc? Không né tránh đề cập tâm lí bấu víu vào cố quốc (cho dù gắn với những ám ảnh tồi tệ, đau đớn, với cả những oán thán, chán chường) trong nỗ lực hội nhập của người lưu vong, Linda Lê đã chạm đến khát vọng truy tìm cội nguồn, căn tính và cũng là truy tìm bản ngã của nhân loại. Bởi đó là cách để không quên đường về trong quá trình dịch chuyển hướng ra thế giới; bởi nhà, quê hương, tổ quốc xét đến cùng vẫn luôn là chỗ tựa bám víu của con người, ngay cả với viễn tượng toàn nhân loại đều chỉ thuộc về một “quê xứ con người”.

Thái Phan Vàng Anh

Tin liên quan

Tin mới nhất