Kiến tạo diện mạo mới cho múa đương đại Việt

Từ một loại hình nghệ thuật hình thành trên nền tảng tư duy thẩm mỹ phương Tây, múa đương đại khi đến Việt Nam không chỉ được tiếp nhận như một hệ thống kỹ thuật biểu diễn mới mà còn bước vào quá trình tiếp biến văn hóa đầy sáng tạo. Nếu ở giai đoạn đầu, các nghệ sĩ chủ yếu học hỏi ngôn ngữ vận động, phương pháp sáng tác và tư duy dàn dựng của thế giới, thì theo thời gian, họ đã chuyển hóa những giá trị tiếp nhận ấy thành một hệ thống biểu đạt mang đậm bản sắc Việt Nam.

Đóng góp quan trọng nhất của các nghệ sĩ múa Việt Nam không nằm ở việc bổ sung thêm một hệ thống kỹ thuật mới cho múa đương đại, mà ở khả năng Việt hóa ngôn ngữ nghệ thuật này. Từ vốn văn hóa dân tộc, chiều sâu lịch sử, tâm thức phương Đông đến những biến chuyển của đời sống hôm nay, tất cả được chưng cất thành chất liệu sáng tạo, giúp múa đương đại Việt Nam vừa hội nhập với nghệ thuật thế giới, vừa hình thành một diện mạo riêng trong dòng chảy đương đại.

Kiến tạo diện mạo mới cho múa đương đại Việt - 1

Ballet “Dó”. Ảnh: Thanh Hoa 

Việt hóa ngôn ngữ múa đương đại

Sự xuất hiện của múa đương đại đã mở ra một bước ngoặt quan trọng đối với nghệ thuật múa Việt Nam. Khác với tính quy phạm của ballet cổ điển hay những cấu trúc động tác đã được định hình trong múa dân gian, múa hiện đại giải phóng cơ thể khỏi những khuôn mẫu cố định, coi chuyển động là phương tiện trực tiếp biểu đạt cảm xúc, tư tưởng và trải nghiệm sống. Từ đó, người biên đạo có điều kiện mở rộng tư duy sáng tác, vượt khỏi lối kể chuyện minh họa để kiến tạo những tầng nghĩa mới bằng chính ngôn ngữ của cơ thể.

Tuy nhiên, thành tựu nổi bật của múa đương đại Việt Nam không dừng ở việc làm chủ kỹ thuật quốc tế. Điều quan trọng hơn là các nghệ sĩ đã chuyển hóa hệ thống ngôn ngữ ấy thành phương tiện kể những câu chuyện của người Việt. Thay vì mô phỏng các khuynh hướng sáng tác phương Tây, nhiều biên đạo lựa chọn con đường bản địa hóa, khai thác kho tàng văn hóa dân gian, tín ngưỡng, lịch sử, đời sống lao động và triết lý phương Đông như những mạch nguồn sáng tạo.

Trong quá trình ấy, các yếu tố truyền thống không còn hiện diện như lớp minh họa hay dấu hiệu nhận diện văn hóa mà được tái cấu trúc qua lăng kính của múa đương đại. Những động tác lao động, nghi lễ, phong tục, âm nhạc dân gian, nhịp sống làng quê hay triết lý Á Đông được chuyển hóa thành những hình tượng nghệ thuật giàu bản sắc, vừa gìn giữ tinh thần dân tộc, vừa mở rộng khả năng biểu đạt của ngôn ngữ chuyển động.

Tác phẩm múa Sương sớm của biên đạo Tấn Lộc là minh chứng tiêu biểu cho quá trình tiếp biến ấy. Không dựa vào cốt truyện hay lời thoại, tác phẩm kiến tạo không gian nghệ thuật từ những chuyển động nhịp sống của người nông dân, từ đôi quang gánh, hạt lúa, tiếng chày giã gạo, phiên chợ sớm... Những hình ảnh quen thuộc của văn minh lúa nước được đặt trong cấu trúc múa đương đại để tạo nên một vẻ đẹp mới, nơi ký ức văn hóa được đánh thức bằng chính ngôn ngữ của cơ thể.

Kiến tạo diện mạo mới cho múa đương đại Việt - 2

Múa "Sương sớm". Ảnh TL

Ở một hướng tiếp cận khác, tác phẩm Thiền của NSND Trần Ly Ly khai thác chiều sâu triết học phương Đông thông qua nghệ thuật hình thể. Không gian sân khấu tối giản, ánh sáng cô đọng, chuyển động giàu tính tạo hình cùng sự kết hợp giữa múa đương đại và hip hop đã mở ra hành trình nội tâm của con người trên con đường tìm kiếm sự tĩnh tại và bản thể. Triết lý Phật giáo không được diễn giải bằng ngôn từ mà hiện hữu trong nhịp thở, khoảng lặng và sự vận động của cơ thể.

Trong khi đó, tác phẩm Cầm giả ca của NSƯT Thanh Hằng lại tạo nên một cấu trúc sân khấu giàu tính tổng hợp khi kết hợp xẩm, tiếng đàn cò, trình diễn trực tiếp cùng ngôn ngữ múa hiện đại. Hình tượng người ca nữ hiện lên bằng sự cộng hưởng của chuyển động, âm thanh, ánh sáng và không gian, tạo nên một trải nghiệm thẩm mỹ giàu chất thơ, nơi truyền thống và đương đại cùng song hành trong một chỉnh thể nghệ thuật thống nhất.

Kiến tạo diện mạo mới cho múa đương đại Việt - 3

Múa “Cầm giả ca”. Ảnh: Thanh Hoa 

Điểm gặp gỡ của những tác phẩm ấy là truyền thống không còn đứng đối lập với hiện đại. Văn hóa dân tộc trở thành mạch nguồn nuôi dưỡng sáng tạo còn ngôn ngữ múa đương đại là phương tiện để những giá trị ấy tiếp tục được tái sinh trong đời sống hôm nay. 

Bồi đắp giá trị biểu đạt mới

Nếu quá trình Việt hóa ngôn ngữ chuyển động tạo nên bản sắc cho múa đương đại Việt Nam thì đóng góp quan trọng của các nghệ sĩ múa còn nằm ở việc mở rộng biên độ biểu đạt của loại hình nghệ thuật này. Không chỉ tìm kiếm những hình thức vận động mới, múa đương đại còn mở ra khả năng phản ánh sâu hơn đời sống tinh thần, những biến chuyển trong tâm lý và những câu hỏi về con người trong xã hội hiện đại.

Khác với nhiều tác phẩm múa truyền thống thường hướng đến việc tôn vinh vẻ đẹp thiên nhiên, lao động hay những giá trị cộng đồng, múa đương đại chuyển trọng tâm vào thế giới bên trong của con người. Cô đơn, khủng hoảng bản ngã, ký ức hậu chiến, giới tính, niềm tin, tâm linh, áp lực đô thị hay hành trình tìm kiếm bản thể trở thành những chủ đề được khám phá bằng chính ngôn ngữ của cơ thể.

Ở đó, hiện thực không còn được tái hiện theo lối kể chuyện trực tiếp hay minh họa đơn thuần. Cảm xúc và tư tưởng được kiến tạo thông qua cấu trúc chuyển động, nhịp điệu, khoảng lặng, ánh sáng, âm thanh và không gian sân khấu. Sự thay đổi trong phương thức biểu đạt này giúp múa đương đại vượt khỏi giới hạn của một loại hình trình diễn chỉ dựa vào kỹ thuật cơ thể để trở thành một hình thức nghệ thuật giàu tính suy tưởng và đối thoại.

Một minh chứng tiêu biểu cho hướng đi này là vở ballet đương đại do ekip nghệ sĩ múa Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam thể hiện. Tác phẩm kết hợp nền tảng ballet cổ điển phương Tây với chất liệu văn hóa Việt Nam. Dưới sự dàn dựng của tổng đạo diễn Hương Na Trần cùng hai biên đạo NSƯT Phan Lương và nghệ sĩ Vũ Ngọc Khải, Dó không chỉ đưa những hình ảnh quen thuộc như nơm, quạt giấy, chiếu hoa, giấy dó lên sân khấu mà còn chuyển hóa chúng thành cấu trúc vận động mang chiều sâu văn hóa Việt.

Điểm khác biệt của nằm ở cách tác phẩm làm mới ngôn ngữ ballet từ góc nhìn văn hóa Việt. Nếu ballet cổ điển thường hướng tới những đường nét vươn cao, thoát khỏi trọng lực, thì đưa cơ thể trở về gần với mặt đất qua những chuyển động xoắn, cuộn, trượt, gợi nhịp điệu lao động và đời sống của cư dân nông nghiệp. Các chất liệu dân gian vì thế không còn là yếu tố trang trí mà trở thành nguồn cảm hứng tạo nên ngôn ngữ biểu đạt riêng, mở ra những liên tưởng về ký ức, thân phận và vòng tuần hoàn của đời sống.

Song hành với sự đổi mới về nội dung là sự thay đổi trong tư duy kiến tạo tác phẩm. Âm nhạc không còn chỉ làm nền cho chuyển động; ánh sáng, nghệ thuật sắp đặt, trình diễn trực tiếp của nhạc công, đạo cụ đời thường hay thiết kế không gian đều trở thành những thành tố của ngôn ngữ sân khấu. Ranh giới giữa múa, âm nhạc, mỹ thuật thị giác và nghệ thuật trình diễn ngày càng được mở rộng, tạo nên những cấu trúc nghệ thuật đa tầng, giàu tính tương tác và nâng cao năng lực biểu hiện của múa đương đại.

Dó cũng cho thấy sự thay đổi trong cách kể chuyện của nghệ thuật múa hôm nay. Tác phẩm sử dụng tổ khúc Bốn mùa của Antonio Vivaldi qua bản phối khí đương đại để kể một câu chuyện Việt Nam. Thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào âm nhạc truyền thống để khẳng định bản sắc, ekip sáng tạo lựa chọn đặt tinh thần Việt trong sự cộng hưởng của âm thanh, ánh sáng, phục trang, không gian sân khấu và chuyển động cơ thể. Đây cũng là một cách tiếp cận cho thấy bản sắc không chỉ nằm ở việc sử dụng chất liệu quen thuộc, mà còn ở khả năng chuyển hóa những chất liệu ấy thành một hình thức biểu đạt mới.

Với việc kết hợp ballet, múa đương đại, âm nhạc, ánh sáng và mỹ thuật sân khấu, Dó cho thấy khả năng kể câu chuyện Việt Nam bằng một ngôn ngữ nghệ thuật mang tính toàn cầu. Tác phẩm là minh chứng cho thấy bản sắc trong nghệ thuật đương đại không nằm ở việc giữ nguyên những yếu tố truyền thống mà ở khả năng chuyển hóa chúng thành những hình thức biểu đạt mới, phù hợp với cảm thức của thời đại.

Với múa đương đại, điều quan trọng không nằm ở việc tìm một lời giải cố định mà ở khả năng cảm nhận những rung động thẩm mỹ mà chuyển động gợi mở. Khán giả vì thế cũng không còn giữ vai trò tiếp nhận thụ động. Mỗi người bước vào tác phẩm bằng vốn sống và trải nghiệm riêng để đồng sáng tạo ý nghĩa. Biên đạo không áp đặt một thông điệp duy nhất mà mở ra nhiều khả năng diễn giải, biến quá trình thưởng thức thành cuộc đối thoại giữa tác phẩm và người xem. 

Dĩ nhiên, quá trình tiếp nhận và sáng tạo ấy không diễn ra theo một đường thẳng. Đã có thời điểm một số tác phẩm lạm dụng hình thức ghép nối cơ học giữa kỹ thuật hiện đại và chất liệu truyền thống khiến tác phẩm trở nên khó tiếp cận hoặc xa rời công chúng. Tuy nhiên, chính những thử nghiệm đó giúp các nghệ sĩ nhận thức rõ hơn rằng hội nhập không đồng nghĩa với sao chép. Giá trị của múa đương đại không được quyết định bởi mức độ tương đồng với các khuynh hướng quốc tế, mà bởi khả năng kể câu chuyện của chính dân tộc mình bằng một ngôn ngữ nghệ thuật có tính phổ quát.

Ngày nay, múa đương đại Việt Nam không chỉ là sự kết hợp giữa kỹ thuật hiện đại và chất liệu truyền thống. Quan trọng hơn, loại hình nghệ thuật này đã trở thành phương tiện biểu đạt giàu khả năng phản ánh tâm lý, tình cảm và những vấn đề của con người Việt Nam trong bối cảnh mới: từ ký ức chiến tranh đến nhịp sống đô thị, từ không gian văn hóa làng quê đến những xung đột nội tâm, từ khát vọng trở về cội nguồn đến hành trình tìm kiếm bản thể giữa một thế giới không ngừng biến đổi.

Có thể thấy, đóng góp lớn nhất của các nghệ sĩ múa Việt Nam không chỉ nằm ở việc tiếp nhận và làm chủ một ngôn ngữ nghệ thuật mới mà còn ở khả năng mở rộng biên độ biểu đạt của múa đương đại bằng chính bản sắc văn hóa, chiều sâu lịch sử và tâm thức Việt.

Qua quá trình tiếp biến và sáng tạo không ngừng, múa đương đại Việt Nam đã từng bước định hình một diện mạo riêng, vượt qua cái bóng của một loại hình nghệ thuật du nhập để trở thành không gian sáng tạo - nơi truyền thống và hiện đại gặp gỡ, đối thoại. Ở đó, ngôn ngữ của cơ thể không chỉ thể hiện vẻ đẹp của chuyển động, mà còn cất lên tiếng nói về con người, văn hóa và những vấn đề của đời sống đương đại; đưa những câu chuyện, cảm thức và tinh thần Việt hòa vào dòng chảy nghệ thuật quốc tế bằng một tiếng nói riêng, giàu bản sắc và sức sống. Đó chính là giá trị bền vững mà các nghệ sĩ Việt Nam đóng góp cho hành trình phát triển của múa đương đại Việt Nam.  

Nguyễn Thị Thanh Hoa

Tin liên quan

Tin mới nhất

Để học sinh mê đọc sách truyền thống

Để học sinh mê đọc sách truyền thống

Hiện nay, không riêng gì người lớn mà ngay cả học sinh cũng có xu hướng lười đọc sách truyền thống. Thậm chí, sách điện tử cũng không lôi cuốn học trò bằng mạng xã hội, game online, nhạc số, phim ảnh trên các trang chia sẻ.

Định vị thương hiệu Hà Nội - thành phố sáng tạo

Định vị thương hiệu Hà Nội - thành phố sáng tạo

Thực hiện Chương trình hành động số 08-CTr/TU ngày 17-3-2026 của Thành ủy Hà Nội thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7-1-2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, thành phố Hà Nội đang có những bước đi đột phá, tập trung vào những vấn đề lớn, có tính chiến lược đối với việc phát triển văn hóa Thủ đô, theo báo Hà Nội mới.