Đời sống quá khứ, hiện tại và văn hóa các tộc người miền núi phía Bắc trong một số tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam và Cao Duy Sơn

Mỗi khi nói về, chẳng hạn như “sức mạnh nội sinh” hoặc “quyền lực mềm” của quốc gia dân tộc Việt Nam khi hòa vào làn sóng toàn cầu hóa, người ta thường nhắc đến từ văn hóa: “Văn hóa Việt Nam”, “Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam” v.v... Cách gọi tên sự vật, sự việc như vậy không sai, nhưng nó rất dễ khiến ta bị sập vào cái “bẫy phổ quát”, tức là chỉ nhìn thấy những nét lớn, mang tính quy luật đơn giản và sức mạnh áp đặt rộng khắp mà bỏ qua những phương diện nhỏ, mảnh, mang tính khác biệt và rất đa dạng, phong phú, phức tạp trong cái sự khác biệt ấy. Văn hóa Việt Nam là như thế.

Văn hóa Việt Nam vốn là văn hóa đa vùng miền (theo sự phân bổ không gian Bắc Trung Nam hoặc núi cao - núi thấp - đồng bằng châu thổ - đồng bằng duyên hải) đồng thời là văn hóa đa tộc người . Nhưng khi nói về văn hóa Việt Nam nói chung, thường người ta lại coi đó chỉ là văn hóa của người Việt/ Kinh các vùng đồng bằng châu thổ và duyên hải, còn văn hóa của các tộc người thiểu số miền núi - Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Thanh Hóa - Nghệ An, Trường Sơn - Tây Nguyên và một phần Đông Nam Bộ - thì rất hay bị lờ đi, bị gạt ra ngoài khái niệm. Dĩ nhiên điều đó là không đúng.

Vì thế khi tham gia thảo luận về văn hóa Việt (hiểu đầy đủ là văn hóa Việt Nam) trong văn học Việt Nam đương đại, như một cố gắng bổ khuyết mang tính cá nhân, tôi muốn nói đến một mảng tác phẩm viết về miền núi phía Bắc: các tiểu thuyết nổi bật của hai nhà văn gạo cội là Cao Duy Sơn và Đoàn Hữu Nam. Cao Duy Sơn viết về đời sống trong quá khứ, hiện tại và văn hóa của các tộc người vùng non nước Cao Bằng quê hương ông (Đông Bắc); còn Đoàn Hữu Nam, cũng với những đối tượng nghệ thuật như thế, nhưng là ở Lào Cai (Tây Bắc) nơi ông sinh sống từ rất lâu, tích lũy nhiều trải nghiệm, nhiều tri thức và đã trở thành ra như một người bản địa thực thụ.

Đời sống quá khứ, hiện tại và văn hóa các tộc người miền núi phía Bắc trong một số tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam và Cao Duy Sơn - 1

Mù Cang Chải. Ảnh Nguyễn Văn Hợp

Quá khứ và hiện tại của đời sống miền núi phía Bắc trong các tiểu thuyết của Cao Duy Sơn và Đoàn Hữu Nam

Sở dĩ có câu chuyện về “đời sống quá khứ và hiện tại” ở các tác phẩm tiểu thuyết viết về miền núi phía Bắc của hai nhà văn Cao Duy Sơn và Đoàn Hữu Nam - trong khuôn khổ chủ đề “văn hóa Việt trong văn học Việt Nam đương đại” - là vì tôi rất tâm đắc với một luận giải của nhà văn Nguyên Ngọc về mối quan hệ giữa văn hóa và tự nhiên qua trường hợp cái làng Tây Nguyên: “Mà làng ở Tây Nguyên là gì? Đấy là một khoảnh đất con người đã cắt ra được của cái bao trùm tất cả là rừng hoang dã. Là cái phần nhỏ bé của tự nhiên hoang dã mà con người đã thuần hóa được cho mình, cái khoảnh tự nhiên (nature) đã được con người biến thành văn hóa (culture). Mối quan hệ cơ bản của sự tồn tại ở đây là vậy, bên này là tự nhiên: rừng, bên kia là không gian văn hóa: làng. Ở giữa là con người. Con người tồn tại chông chênh trên cái ranh giới luôn biến động ấy...” (Rừng trong văn hóa Tây Nguyên, Sách Dọc đường 3).

Điều đó có nghĩa rằng, khá đơn giản, Cứ hễ có con người xuất hiện giữa tự nhiên và tác động vào tự nhiên để tổ chức nên đời sống theo các mô hình nào đó mà họ quyết định lựa chọn, thì ở từng lĩnh vực hoạt động và ở toàn bộ các lĩnh vực hoạt động của con người, theo dòng thời gian sử tính từ quá khứ đến hiện tại, đã chính là văn hóa. Một thứ văn hóa “hình nhi hạ”, theo nghĩa rộng, chủ yếu chỉ/trỏ đến sự tồn tại của con người. (Còn văn hóa “hình nhi thượng”, theo nghĩa hẹp, bao gồm các thiết chế chính trị, luật pháp, tôn giáo, các quy phạm ứng xử, hệ thống các niềm tin, nghi lễ, phong tục tập quán, các hình thức sáng tạo và sinh hoạt văn nghệ - cùng những sản phẩm của chúng, dưới dạng vật thể hoặc tinh thần - là cái đến sau).

Đi vào các tiểu thuyết của Cao Duy Sơn và Đoàn Hữu Nam ta cũng có thể thấy vấn đề đúng như vậy. Cao Duy Sơn viết về đời sống của người Tày, Nùng, Dao - có sự cộng cư với các nhóm người Việt, Hoa - ở “vương quốc đá vôi” Cao Bằng, mà địa danh thường được nhắc đến trong tác phẩm chính là quê hương ông: lũng Cô Sầu, huyện Trùng Khánh (cũ). Đoàn Hữu Nam chủ yếu viết về đời sống của người Dao, và nhất là người H’mông, ở các huyện Bắc Hà, SaPa, Mường Khương... thuộc địa phận tỉnh Lào Cai.

Đời sống quá khứ, hiện tại và văn hóa các tộc người miền núi phía Bắc trong một số tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam và Cao Duy Sơn - 2

Trên cao nguyên đá Đồng Văn. Ảnh Đinh Mạnh Hà

Đời sống ấy cũng chính là văn hóa ấy, ở đây là văn hóa trên cơ tầng địa lý vùng núi cao phía Bắc, giáp biên giới Việt - Trung, có rừng rậm vực sâu, có thung khe sông suối thác ghềnh, có các chủng loài động vật và thực vật đặc hữu. Con người sống giữa lòng tự nhiên, học lấy sự hiểu biết về các đặc điểm, tính chất của giới tự nhiên xung quanh để sinh tồn và, hơn thế, để biến nó trở thành một phần bản sắc của mình.

Lấy một ví dụ: rừng. Rừng là môi trường tự nhiên bao trùm, vây quanh không gian văn hóa làng của con người trong các tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam - nhà văn này không, hoặc ít có những trang viết về các thị xã, đô thị miền núi như Cao Duy Sơn, điều này sẽ nói sau - nên rừng là nơi sinh sống, mà cũng là nơi trốn tránh ẩn nấp mỗi khi lâm nguy của người miền rừng, như các nhóm thổ phỉ trong tiểu thuyết Thổ phỉ (2011) hay nhân vật trưởng bản người H’mông Giàng Seo Phù trong tiểu thuyết Rễ người (2020). Các nhóm thổ phỉ người H’mông, Dao, Giáy, Nhắng, Khơ Mú... nổi dậy chống phá chính quyền cách mạng khắp nơi trong khoảng từ cuối 1945 đến cuối 1956.

Đã có những lúc thổ phỉ thắng thế, nhưng khi bị càn quét, truy đuổi, chúng lại chạy vào rừng, nhờ rừng rậm che chở, bao bọc, từ đó xốc lại lực lượng, gây khó khăn không ít cho công cuộc tiễu phỉ của chính quyền. Hay trưởng bản Giàng Seo Phù khi vô ý đánh chết người, sợ bị trả thù, bị tù đày thì cũng đã chạy trốn vào rừng hơn một năm. Và chính trong cái cảnh một thân một mình, phải đối mặt với vô vàn hiểm nguy, Phù đã học được những kỹ năng tồn tại quý giá, tích lũy được những hiểu biết cần thiết để có thể nương dựa vào rừng mà tìm thấy đường sống giữa muôn nẻo chết. Rừng không phân biệt con người theo ý thức hệ của anh ta, rừng chỉ bảo vệ hoặc tấn công những người hiểu hay không hiểu nó.

Đặc biệt, trong tiểu thuyết Thổ phỉ, viết về rừng như một không gian đời sống miền núi vừa quen thuộc lại vừa đầy sức mạnh huyền bí, không đo đếm được, không lường trước được, Đoàn Hữu Nam thường đưa ra những trang mô tả phóng đại đến không tưởng các sinh vật rừng trong cơn loạn. Loạn hổ chẳng hạn: “Hổ dữ đến, ranh giới lãnh địa bị xóa nhòa, các loài tan tác trong sợ hãi. Nghe tiếng gầm của chúng hầu hết các loài có da có thịt bọc xương tự ỉa tự đái. Nghe tiếng gầm của chúng, thần núi thần rừng bạt vía, kẻ chui sâu vào lòng đất, cứt đùn khắp mặt đất như bãi biển ban sáng, kẻ bay vút lên giời cao, nước đái phọt ra rơi xuống như giời đang đổ mưa”.

Đời sống quá khứ, hiện tại và văn hóa các tộc người miền núi phía Bắc trong một số tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam và Cao Duy Sơn - 3

"Thổ phỉ" của Đoàn Hữu Nam. Ảnh: Báo Tuyên Quang

 

Và sức mạnh của loài kiến, khi chúng lập lại trật tự cho con người: “Lúc vua kiến dẫn đàn đàn lũ lũ thần dân xông vào cũng là lúc hai bản bị tuyệt diệt. Loáng một cái những cái đầu u mê chứa đầy thù hận đang bàn mưu tính kế không còn mẩu thịt bám vào xương. Loáng một cái những cây cột cái, cột quân, xà dọc, xà ngang, rui mè, phên vách, mái lợp bị gặm rỗng. Ngôi nhà đổ sụp xuống, bếp lửa bùng lên, xác kiến, xác người, xác động vật, cây cối, phân gio bốc lên khét lẹt, gây như nướng cả rừng người”.

 Sở dĩ như vậy, có lẽ một phần do nỗi ám ảnh đây là thời loạn, thời của nổi phỉ: “thời thế như nồi thắng cố đang sôi; thú to, thú nhỏ gầm ghè, tranh giành, cướp giật khắp nơi”, cái thời đã được viết trong lịch sử đời sống quá khứ miền biên viễn bằng một trang đậm. Hiện tượng nổi phỉ trong tiểu thuyết Thổ phỉ của Đoàn Hữu Nam có thể được giải thích từ nhiều nguyên nhân chính và phụ, nhưng có một nguyên nhân không thể bỏ qua: sự phản kháng của quyền lực miền núi trước sức mạnh áp đặt của quyền lực miền xuôi.

Điều này khác hẳn với Cao Duy Sơn. Ở các tiểu thuyết gây được tiếng vang đáng kể như Hoa mận đỏ (1999), Đàn trời (2006), Chòm ba nhà (2009) Cao Duy Sơn thường viết về rừng trong đời sống quá khứ từ điểm nhìn hồi cố đầy yêu thương, buồn dịu, thấm thía.

Chủ thể hồi cố thường là người đàn ông tuổi trung niên hoặc chớm già, ông ta nhớ lại tuổi thơ ấu và thời thanh niên của mình, ở rừng. Chòm ba nhà, một tiểu thuyết được dựng lên bằng rất nhiều dữ liệu tự truyện, phản ánh khá rõ nội dung này. Chòm ba nhà là một cái xóm nhỏ nằm giữa rừng, cách xa thị xã, nơi cư dân chủ yếu là mấy gia đình người Hoa. Chú bé San (người Tày, cũng là người kể chuyện) thường đến đây chơi với người chị nuôi tên Lương (người Việt) sống một mình, và mấy đứa trẻ đồng lứa người Hoa.

Bọn trẻ sống, đùa chơi giữa rừng, học cách đi rừng trong đêm tối, dạy nhau nướng khoai kiểu “ìu mằn” (khoai bỏ trong lò xếp bằng những hòn đất nung đỏ), cùng nhau tát cá, chung nhau một trận nhớ đời khi bị thú dữ dồn đuổi, rình rập. Ở đây San và các bạn còn được chơi với lão Thỉ chăn bò, cựu chiến sỹ thời kháng Pháp, bạn chiến đấu của tướng Chu “hùm xám Bắc Sơn”, được nghe lão kể nhiều chuyện về vị tướng huyền thoại này, rồi được tham gia cùng lão trong vụ giải cứu chị Lương khỏi cái giếng âm phủ và bàn tay thù địch của bọn lão Tu, Chư mũi đỏ xấu tính.

Đời sống tuổi thơ nơi miền rừng ấy của San nói chung diễn ra khá êm đềm, tuy không khỏi có những lúc pha các mảng xám lạnh của một xã hội khắc khổ thời tem phiếu nói chung và của một gia đình sa sút, có người cha yếm thế ôm bàn đèn dọc tẩu nói riêng. Mọi chuyện đảo lộn, tan nát khi quan hệ giữa hai nước trở nên căng thẳng. Người Hoa về nước, trong đó có gia đình các bạn của San ở chòm ba nhà. Chiến tranh biên giới nổ ra, San thành anh bộ đội cầm súng chiến đấu sống chết với quân thù, có khi lại giáp mặt bạn cũ lúc này đang ở chiến tuyến bên kia. Bom rơi đạn nổ. Người chết, người sống, người ra đi không trở lại, xóm chòm ba nhà bị bỏ hoang, bao nhiêu rộn rã yên vui ngày nào đã thành kỷ niệm quá vãng. Và những hình ảnh mà San vẫn thường tưởng tượng từ lúc còn là một cậu bé ngồi trên bậu cửa sổ thả hồn mơ mộng: phía chân trời xuất hiện những đám mây vàng như kén đang trôi đi như những con tàu, trên là đoàn người ngựa xiêm áo rực rỡ... rốt cuộc cũng chỉ là những ảo ảnh mà thôi.

Đó là đời sống, là văn hóa trên cơ tầng rừng - và thường được đặt ở thì quá khứ - trong các tiểu thuyết của Cao Duy Sơn. Còn đời sống nơi các thị trấn, thị xã, thành phố miền núi - ta ngầm hiểu rằng ấy là thành phố Cao Bằng - lại thường được ông đặt trong thì hiện tại (Đoàn Hữu Nam ít có điều tương tự). Tiểu thuyết Đàn trời là một ví dụ tiêu biểu. Chiếm nhiều dung lượng câu chữ và hành động nhất trong tiểu thuyết này là những chuyện diễn ra trong không gian phố, không gian nhà trong phố, không gian công quyền, công sở, bệnh viện, nhà hàng đặc sản v.v…...

Toàn là mưu mô và thủ đoạn kiếm chác danh lợi, tiền, tình của đám quan chức cấp tỉnh tha hóa về đạo đức, lối sống. Chúng cấu kết với các doanh nghiệp làm ăn bất lương và bọn tay chân xuất thân lưu manh để nâng khống giá thành vật liệu, bòn rút các dự án phát triển miền núi, tiền thu về đầy ắp tài khoản cá nhân và để lại cho dân những công trình chất lượng tệ hại.

 Kẻ xấu, đám đồng lõa thì được chúng cất nhắc, ban ơn, còn những người trung thực, thẳng thắn, dũng cảm đấu tranh để sự thật được phơi bày trước công luận, công lý như các nhà báo Thức, Yến, Vương “văn thối” thì bị chúng hãm hại, vùi dập cho tan tành. Vương “văn thối” từng bị cho thôi việc, phải ra ven đường bán từng lít xăng lẻ, có lúc cả xăng lẫn lán bán xăng đều bị bọn chúng tống tiễn cho thần hỏa. Thức thì còn bi đát hơn: bị chúng phục kích ám toán, thoát chết được thì lại bị tống vào trại giam một thời gian, ra tù phải tìm kế sinh nhai bằng cách vào núi đào vàng, cũng suýt chết vì núi lở…...

Nói chung, đây là cuốn tiểu thuyết theo motif kể về cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa những con người trong sạch, dũng cảm nhưng nhỏ bé với bọn người tham lam, xấu ác nhưng đang nắm quyền lực trong tay. Nó sẽ phẳng, bẹt như rất nhiều cuốn tiểu thuyết khác nếu không có tuyến tự sự về mụ Sắn Pì. Nhân vật người đàn bà Tày già cả, không chồng không con, thọt chân và cao to thô kệch hơn cả đàn ông ấy xuất hiện, lập tức cuốn tiểu thuyết của Cao Duy Sơn có một bề dày từ quá khứ đến hiện tại, tạm gọi là bề dày lịch sử. Mụ Sắn Pì xuất hiện, vẽ ra cái toàn cảnh thị xã Cao Bằng những ngày đầu giải phóng (tháng 10 năm 1950, chiến dịch Biên giới), cái không khí cách mạng vừa sục sôi vừa rất đỗi lộn xộn với những tiếng reo hò và súng bắn dao chém trừng phạt kẻ thù giai cấp của quần chúng các tộc người thiểu số.

 Mụ Sắn Pì, khi ấy là đứa bé gái, ngẫu nhiên đã giúp một ông phán chế độ cũ tên Sầu thoát chết, rồi theo ông lặn lội về xuôi. Lẽ ra mụ đã cùng ông Phán Sầu lên tàu thủy vào Nam năm 1954, nhưng do lạc nhau mà mụ ở lại. Không phải ở lại một mình, mà trên tay mụ giờ đây là đứa bé trai mới sinh, con của vợ chồng ông giáo bạn ông phán, họ bị kẻ địch giết vì nghi là Việt Minh. Diễn ra điều hy hữu: Sắn Pì ôm đứa bé từ Hải Phòng vượt đèo vượt núi, xuyên rừng vượt thác, nắng mưa bão lũ bất kể, về lại Cao Bằng và chỉ chịu đánh mất nó vào một đêm tuyết rơi mịt mùng trên đỉnh Phia Đéng, khi mụ đã ngất lịm. (Đứa bé ấy chính là Thức, được một gia đình người Dao cứu sống, mang về nuôi dạy). Tuyến tự sự về mụ Sắn Pì, có thể nói, khiến cho cốt truyện của tiểu thuyết Đàn trời trở nên bề thế và hấp dẫn hơn, đồng thời nó tăng cường, làm đậm thêm chất đời sống miền núi (Cao Bằng) bằng những sự kiện và những con người từ quá khứ đến hiện tại.

Văn hóa các tộc người miền núi phía Bắc trong các tiểu thuyết của Cao Duy Sơn và Đoàn Hữu Nam

Như đã nói ở trên, cách con người tổ chức đời sống theo các mô hình mà họ quyết định lựa chọn, để thành ra các thiết chế chính trị, luật pháp, tôn giáo, các nguyên tắc ứng xử, niềm tin, lễ nghi, phong tục tập quán, các sinh hoạt  văn nghệ và những sáng tạo phẩm của chúng... ấy chính là văn hóa. Học giả Phan Ngọc từng nhận định: “Văn hóa không phải là một cái gì cụ thể, nhưng tất cả những gì do con người làm ra cũng đều có phương diện văn hóa của chúng”, thì chính những cái như vừa liệt kê mới là những cái mang phương diện văn hóa đậm nhất, văn hóa “hình nhi thượng”. Và chúng đều xuất hiện trong các tiểu thuyết của hai nhà văn Cao Duy Sơn và Đoàn Hữu Nam, mỗi khi hai ông kể chuyện về các tộc người thiểu số miền núi phía Bbắc.

Sẽ là rất dài nếu tôi dẫn ra ở đây những ví dụ về lễ cấp sắc, việc tái hiện phiên tòa trên thiên đình trong các cuộc cúng tế, cầu đảo; những nghi thức khi lấy nhựa cây anh túc, khi gặt lúa mới hay những nghi thức trong lễ kết nghĩa anh em; các thực hành cơ bản và ý nghĩa của chúng trong đám cưới, đám tang, trong lễ tế cờ trước khi xuất binh; những nghi thức thanh tẩy tâm hồn và gửi đi niềm mong ước trên núi thiêng; trang phục của đàn ông đàn bà và những món ăn truyền thống; kiến trúc nhà ở và kiến trúc nhà cộng đồng; tiếng đàn môi, tiếng tiêu, tiếng sáo lan tỏa những điệu cảm xúc nhung nhớ yêu thương v.v... của người Dao, người Tày, người H’mông mà Cao Duy Sơn và Đoàn Hữu Nam từng mô tả trong các tiểu thuyết của mình.

 Vậy nên tôi sẽ tìm một con đường ngắn hơn, nói gọn lại là bỏ qua sự phong nhiêu đa sắc của các mảnh ghép để tiếp cận với một trong những biểu hiện rõ nhất của tâm tính con người và văn hóa tộc người: ứng xử của họ khi đối diện với quyền lực.

Ở trên tôi có nói đến nổi phỉ trong tiểu thuyết Thổ phỉ của Đoàn Hữu Nam như là sự phản kháng của quyền lực miền núi trước sức mạnh áp đặt của quyền lực miền xuôi (đồng bằng). Cần làm cho rõ hơn nữa: đây là phản kháng để khẳng định quyền lực miền núi, quyền lực truyền đời của các chúa đất, thổ hào - mà ngay cả triều đình trung ương hay chính quyền thực dân cũng không sao động chạm được - trước quyền lực của chính quyền cách mạng non trẻ.

Sự phản kháng dai dẳng, dập được phỉ chỗ này thì nơi khác phỉ bùng lên, tắt đi một thời gian ngắn rồi phỉ nổi trở lại. Sở dĩ như vậy là vì trùm của các nhóm phỉ - như Triệu Tá Sắn chẳng hạn - là thủ lĩnh thế tập của cả cộng đồng tộc người Dao một vùng. Hắn được dân tin tưởng, kính nể, khoác cho những giai thoại về các phẩm chất thể chất và tâm linh phi thường. Tất cả những điều ấy làm nên một ảo tưởng sức mạnh và sự sùng thượng quyền lực (tôi nhấn mạnh).  Đỉnh điểm là việc Triệu Tá Sắn xưng vương cho bằng được: rốt cuộc phải lên ngôi vua - vua của người Dao - thì mới tỏ rõ được cái uy quyền tuyệt đối.

Sự sùng thượng quyền lực ấy lặp lại với ít nhiều biến thể trong tiểu thuyết Bi khúc thiên di (2026) viết về người H’mông. Người H’mông làng Nà Cang Chải, một cái làng tưởng tượng và được giả định là nằm đâu đó trên dãy Hoàng Liên Sơn, biệt lập với thế giới bên ngoài. Họ biệt lập, nhưng không biệt lập tuyệt đối, vì vẫn biết đến các ông xã, ông huyện, ông tỉnh, vẫn thỉnh thoảng tiếp đón cán bộ nhà nước xuống làm việc rồi tiễn cán bộ về cùng với rất nhiều loại lâm sản cao cấp kèm theo làm quà tặng.

Yên ổn là thế, nhưng người dân cả làng Nà Cang Chải, nhất là bốn ông trưởng bốn họ lớn của làng (Giàng, Mã, Lý, Đào) vẫn cứ nuôi mộng lập quốc xưng vương, và họ đã âm thầm ráo riết chuẩn bị cho cái ngày trọng đại ấy. Cuối cùng cuộc lập quốc xưng vương đổ bể vì bị bà tổ năm đời của họ Giàng phá. (May mà đổ bể, vì nếu nó thành thì người ta sẽ không hiểu vương quốc H’mông Nà Cang Chải tồn tại ra sao trong hoàn cảnh một chính quyền trung ương không chấp nhận bất kỳ sự ly khai nào, mà người Nà Cang Chải thì chỉ có những phương tiện chiến tranh thời trung cổ để tự vệ: đao kiếm, cung tên, súng kíp, dây thừng và quả nổ tự tạo).

Tóm lại, cứ phải nhảy lên làm vua, để cân bằng lại cái tâm lý tự ti của di dân, dân lưu vong (gốc Quý Châu, Trung Quốc); cứ phải nhảy lên làm vua để sống trong cảm giác của kẻ sở hữu quyền lực tối thượng, để thỏa mãn sự sùng thượng quyền lực.

Các tiểu thuyết của Cao Duy Sơn lại khác. Khi đối diện với quyền lực thì các nhân vật của ông - chủ yếu là người Tày - không sùng thượng, mà là phản kháng. Họ phản kháng một quyền lực không phải để khẳng định một quyền lực khác, mà là để xóa bỏ ngược đãi, phục hồi một trật tự công bằng, hài hòa giữa người với người.

Đời sống quá khứ, hiện tại và văn hóa các tộc người miền núi phía Bắc trong một số tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam và Cao Duy Sơn - 4

Một số tác phẩm của Cao Duy Sơn. Ảnh: Thể thao văn hóa

Trong tiểu thuyết Chòm ba nhà, bọn trẻ con ở xóm Chòm ba nhà cùng với lão Thỉ chăn bò chống lão Chư mũi đỏ và đám tự vệ tay chân, giải cứu chị Lương khỏi giếng âm phủ, đưa chị sang Lạng Sơn lánh nạn, chính là sự phản kháng quyền lực. San đi bộ đội, bất tuân kỷ luật, đá vỡ mũi gã chỉ huy xấu tính cũng chính là phản kháng quyền lực.

Trong tiểu thuyết Đàn trời, cuộc đấu tranh của các nhà báo chân chính như Thức, Yến, Vương “văn thối” với đám lãnh đạo tỉnh thoái hóa biến chất và bọn đàn em lưu manh là một sự phản kháng quyền lực quyết liệt. Phản kháng vì công bằng xã hội và bảo vệ phẩm giá con người, dẫu có phải chịu bao nhiêu oan trái mất mát cũng cam lòng. Khi hành động phản kháng thất bại, kết quả “như muỗi đốt gỗ”, không đi đến đâu, họ sinh tâm lý uất ức, uất ức như một sự phản kháng tinh thần.

Như Thức, ra tù phải vào núi đào vàng kiếm sống, mỗi một nhát cuốc xuống đất của anh đều kèm một câu chửi thề, cả bọn nghe thấy làm theo: “Trong mưa gió ầm ầm, tiếng hò hét mới đầu còn thưa thớt, sau to dần và đồng thanh cất lên vang khắp các hang động. Tiếng chửi bới hò hét khiến núi Ngườm Kim như được hâm nóng. “Đ... mẹ mày nhá, thằng Đinh Xuân Ẩn nhá, vì mày mà chúng ông khổ nhá.  Nhả vàng cho ông đi nhá... Đ... mẹ mày thằng... nh...a.a.a.a...”. Rốt cuộc núi Ngườm Kim bị sập, đất đá tràn xuống như thác lũ, cuốn trôi phăng phăng mọi thứ trên đường. Không biết là núi nhão lở do mưa gió và đào bới hay là do lời nguyền rủa của Thức.

Thay lời kết

Văn học về miền núi và các tộc người thiểu số - ở đây chỉ nói phía Bắc - thật ra là những mỏ tác phẩm rất lớn và hứa hẹn sẽ còn lớn hơn nữa. Có những nhà văn viết về miền viết này như một người đồng cảm và chia sẻ bằng sự quan sát, ghi nhận từ bên ngoài. Lại có những nhà văn, thường là người con của các tộc người thiểu số miền núi, lại viết như một sự tự trình hiện, sự cất lên tiếng nói, tiếng lòng, tình cảnh của chính tộc người.

 Đã qua lâu lắm rồi giai đoạn mà các nhà văn của chúng ta viết về miền núi và các tộc người thiểu số theo kiểu kể chuyện đường rừng (Lan Khai, Thế Lữ, Tchya Đái Đức Tuấn, Lý Văn Sâm), hoặc theo kiểu tuyên truyền đường lối chính sách và ngợi ca ánh sáng soi rọi (Tô Hoài, Ma Văn Kháng, Nông Quốc Chấn).

Chỉ miền núi phía Bắc và các tộc người thiểu số ở đó thôi, qua tiểu thuyết của hai nhà văn Cao Duy Sơn (về Cao Bằng) và Đoàn Hữu Nam (về Lào Cai) chúng ta đã thấy bề bộn đủ người đủ việc, đủ các bút pháp khái quát hóa nghệ thuật. Sáng tác thì như thế, còn nghiên cứu phê bình - với sự chú tâm như hiện nay - chắc còn phải lâu nữa mới được như thế?

Nguyễn Hoài Nam

Tin liên quan

Tin mới nhất

Tái cấu trúc kinh tế du lịch bằng công nghệ thông minh

Tái cấu trúc kinh tế du lịch bằng công nghệ thông minh

Du lịch Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi quan trọng: từ phục hồi và mở rộng quy mô sang nâng cao chất lượng tăng trưởng. Trong giai đoạn trước, số lượt khách, tốc độ tăng trưởng và tổng thu thường được sử dụng như những thước đo nổi bật về thành công. Tuy nhiên, khi quy mô thị trường ngày càng lớn, câu hỏi chiến lược không còn đơn thuần là đón thêm bao nhiêu lượt

Không gian giao lưu và cơ hội nghề nghiệp thông qua triển lãm đồ án sản phẩm nội thất

Không gian giao lưu và cơ hội nghề nghiệp thông qua triển lãm đồ án sản phẩm nội thất

Ngày 28/10, tại Trường Đại học Văn Lang đã diễn ra Triển lãm đồ án tốt nghiệp và đồ án sản phẩm nội thất của sinh viên Bộ môn Thiết kế Nội thất và Bộ môn Thiết kế Trang thiết bị nội thất, Khoa Mỹ thuật và Thiết kế với chủ đề “FD 2026 - Future Design”. Triển lãm tạo cơ hội để sinh viên đưa những ý tưởng thiết kế đến gần hơn với thực tiễn nghề nghiệp.

Nhà ở xã hội Happy Home cất nóc thêm block mới - mang sứ mệnh an cư cho người lao động

Nhà ở xã hội Happy Home cất nóc thêm block mới - mang sứ mệnh an cư cho người lao động

Sáng 29/10, tại xã Phước An, TP Đồng Nai đã diễn ra Lễ cất nóc Block A4 (tổng 140 căn) thuộc dự án Nhà ở xã hội (NOXH) Happy Home, nằm trong cụm khu đô thị DTA, dự án do Công Ty Cổ Phần Đệ Tam làm chủ đầu tư, với sự mệnh an cư cho người lao động, thể hiện tinh thần quan tâm sâu sắc đến người lao động, người thu nhập thấp. 

Đào Tử A1J hợp tác với Mason Nguyễn trong MV “NERDY”, đưa văn hóa người Hoa tại Chợ Lớn vào âm nhạc

Đào Tử A1J hợp tác với Mason Nguyễn trong MV “NERDY”, đưa văn hóa người Hoa tại Chợ Lớn vào âm nhạc

Tối 29/10, nữ rapper, nhạc sĩ kiêm nhà sản xuất âm nhạc Đào Tử A1J phát hành ca khúc “NERDY” (Làm khó nhau hoài), đánh dấu sự hợp tác cùng nghệ sĩ trẻ Mason Nguyễn. Bên cạnh thông điệp về cá tính và sự tự tin của người trẻ, MV còn khai thác không gian văn hóa người Hoa tại Chợ Lớn (TP.HCM), kết nối những giá trị truyền thống với tinh thần sáng tạo đương đại.