Sông vua và tâm thức biển
Bảy giờ rưỡi sáng, ngày đầu tháng Bảy. Ga quốc tế sân bay Đà Nẵng thông thoáng với chuyến bay đến sớm và duy nhất trong ngày từ Bangkok. Khách của tôi cũng sẽ là nữ hành khách duy nhất xuất hiện ở lối ra trong trang phục Hồi giáo truyền thống, baju kurung. Nghĩ tới đó, tôi bất giác cười mỉm. Cười cô ấy chăng? Tất nhiên không. Cười mình chăng? Cũng không. Chỉ có thể là cái cảm giác vui vui từ một kỷ niệm bất thường trong nghề văn vốn trầm nhạt so với quãng đời phóng viên trước kia.
Rằng dẫu đã có thời gian làm quen thế giới Hồi giáo trong dịp tham gia đoàn nhà báo quốc tế cứu hộ nạn nhân động đất ở Ankara Thổ Nhĩ Kỳ năm 1999, thì mùa thu 2023 tôi vẫn “ngạc nhiên” nhận ra giữa biển người năm châu bốn bể tất bật ở sân bay Suvarnabhumi của thủ đô Bangkok Thái Lan có một cô gái mặc áo choàng trắng dài tay, trùm khăn cũng màu trắng vắt ngang mặt, chỉ để lộ đôi mắt, đứng rụt rè giương tấm biển nhỏ viết tên tôi không dấu. Còn lúc này ở sân bay Đà Nẵng, tôi bất đắc dĩ vào vai hướng dẫn khách hành hương Thánh địa Mỹ Sơn, và sau đó là sông Hương. Tấm biển trên tay tôi viết tên cô ấy, phiên âm la-tinh: Yasmin.
*
Nhớ năm ấy, gặp khách đón là tôi, Yasmin mừng như thể tìm được trẻ lạc, thật không chuyên nghiệp. Quả nhiên, ngay sau đó tôi được cô tự giới thiệu là người Malaysia, du học thạc sĩ ngành Phương Đông học tại ngôi trường danh tiếng và lâu đời nhất ở thủ đô Bangkok, Đại học Chulalongkorn, tình nguyện phục vụ sự kiện văn hóa của hoàng gia Thái Lan: Lễ trao Giải văn chương Đông Nam Á. Ban tổ chức phân công cô hỗ trợ đoàn Việt Nam, gồm nhà thơ Trần Quang Đạo giải năm 2019, ái nữ của nhà văn Võ Khắc Nghiêm đại diện cha đã qua đời trước đó nhận giải năm 2020. Và tôi, giải 2021. Đà Nẵng có sân bay quốc tế, nên tôi xuất phát một mình, trở thành khách đón đầu tiên của Yasmin. Chúng tôi vào một gian hàng gọi thức uống, chờ chuyến bay từ Hà Nội đến, rồi cùng về khách sạn Mandarin Oriental bên bờ sông Chao Phraya, hai cái tên đều là tước hiệu hoàng gia Thái Lan phong tặng: Đông Trấn Đại Thần và Sông Các Vì Vua.
Biết làm gì cho hết hai tiếng đồng hồ chờ đồng đội ngoài việc trò chuyện với cô tình nguyện viên? Đã mấy năm “ẩn dật”, vui thú rừng biển cùng chim muông nên giờ phải nói gì đó kiểu đối ngoại, lại bằng tiếng Anh, là một cực hình, mỗi lần định mở miệng cứ như bị sái quai hàm. Bỗng Yasmin gửi tôi cái cười bằng mắt trong lúc lấy từ túi xách ra một cuốn sách, đặt nghiêm ngắn lên bàn. Lập tức, một vụ nổ hạt nhân nguyên thủy xảy ra trong tôi. Đó là Debris of Debris, Mảnh vỡ của mảnh vỡ, tiểu thuyết Anh ngữ đầu tay của tôi, bản in lần hai tại London, 2014.

Tác giả Vĩnh Quyền.
Giọng nhỏ nhẹ phát ra sau tấm choàng giấu nửa mặt, Yasmin giải thích:
- Từ tháng trước, khi được tuyển tham gia sự kiện, em tìm thêm thông tin các vị khách liên quan, thì gặp sách này trên Amazon, nên em đã mua và đọc. Là lần đầu em đọc một tác phẩm văn chương Việt Nam, qua nhịp cầu Anh ngữ.
Rồi cô mỉm cười:
- Dịp này, sẽ rất vui nếu em nhận được chữ ký từ tác giả.
Tôi cảm kích:
- Em là bạn đọc nước ngoài đầu tiên muốn tôi ký sách. Thật vinh dự, thật hạnh phúc. Cảm ơn em…
Đúng vậy, ngoài lần ký tặng 30 cuốn trong tiết mục sắp sẵn của buổi ra mắt Debris of Debris do Đại học Saint Benedict tổ chức tại thành phố Minneapolis (Mỹ) vào cuối năm 2009, tôi chưa từng tiếp xúc trực tiếp người nước ngoài nào đã mua và đọc Debris of Debris. Bừng bừng như vừa cạn cốc rượu mạnh, tôi chuyển lại Yasmin cuốn sách đã có chữ ký. Một chữ ký mất quá nửa thần thái phóng túng tự nhiên như mọi khi.
Dẫu sao chính nó đã “khai khẩu” cho tôi. Một trong vài thói xấu của tôi là bia vào thì lời ra, liên tục hàng giờ xuất bản miệng cuốn tiểu thuyết viết nửa chừng là chuyện thường. Tuy nhiên, tại sân bay Suvarnabhumi hôm ấy, ngoài tình thế không thể bia bọt tùy tiện trước phái nữ Hồi giáo, tôi còn khổ với thứ tiếng Anh ngắc ngứ của mình, vừa nói vừa dịch trong đầu điều sắp nói. Vì vậy, cuộc giao lưu văn chương “quốc tế“ giữa tôi và Yasmin mang nét dáng trầm tư phương Đông. Thế nhưng vẫn không có điểm dừng, cho tới khi hệ thống thông tin trong sảnh loan báo chuyến bay từ Nội Bài đang đáp xuống đường băng.
Sáng sớm hôm sau, ngày 10 tháng Tám, Yasmin gọi điện để chắc rằng tôi không ngủ quên, và giục xuống nhà hàng dùng điểm tâm cho kịp giờ lên đường. Cô đã ở đó chờ tôi từ trước, chỉ nhấm nháp cà-phê sữa. Tôi đặt túi máy ảnh về phía cô, nói lát nữa nhờ Yasmin chụp cho tôi bộ ảnh thời sự.
Cô khẽ lắc đầu:
- Tình nguyện viên không được phép vào hoàng cung dự lễ, ở đó có các nhiếp ảnh gia của ban tổ chức, họ sẽ chuyển ảnh đến các vị khách qua email.
Nhận ra vẻ ngạc nhiên pha chút thất vọng của tôi, cô mỉm cười:
- Luật là luật. Nhưng tối nay em sẽ được chung vui với ông tại gala dinner. Lúc đó em sẽ chụp ảnh cho ông. Và chúng ta sẽ có một tấm ảnh chung làm kỷ niệm.
Yasmin đưa chúng tôi đến điểm đỗ xe. Cô nói trước đây, hàng năm vào dịp này, chỉ cần một ô-tô 14 chỗ là đủ cho mười nhà văn đến từ chín nước Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Việt Nam và nước chủ nhà. Nhưng năm nay, hoàng gia Thái tổ chức trao giải một lúc cho ba năm 2019, 2020 và 2021 bị trì hoãn do dịch Covid-19.
Nhắc đến Covid, tôi không thể quên chi tiết này: Khi những ngày rồng rắn xếp hàng tiêm vắc-xin và xét nghiệm Covid đã trở thành ký ức muốn quên đi, thì các nhà văn để có tên cập nhật trên danh sách vào hoàng cung phải vượt ải test RT-PCR từ chiều hôm trước và test ATK ngay trước lúc lên xe. Tôi hỏi đùa lễ trao giải Nobel năm nay liệu có tiết mục này không. Cô phụ trách đoàn cười bằng mắt, nói giải của chúng ta bé thôi, nhưng hoàng gia Thái chủ lễ, nên quý vị sẽ chứng kiến những tiết mục không nơi nào có! Nhiều tiếng cười đáp lại. Rồi lo ngại được hóa giải với thông báo kết quả: không khách nào bị nghi nhiễm Covid-19.
Sau ngày Hội Nhà văn Việt Nam thông báo tiểu thuyết Trong vô tận sẽ nhận Giải văn chương Đông Nam Á 2021, tôi tìm thông tin cần biết trước khi lên đường. Đây là giải thường niên, thành lập năm 1979, do hoàng gia Thái Lan chủ xướng và chủ trì, các nước tự đề cử nhà văn có tác phẩm xuất sắc hàng năm. Giải thưởng gồm biểu chương chứng nhận (token) của hoàng gia và 70.000 bath, tương đương 2.000 USD.
Việt Nam tham gia từ 1996, mở đầu với nhà thơ Tố Hữu. So với báo tiếng Anh, thông tin về giải này trên báo tiếng Việt quá sơ lược. Ngoài tên nhà văn Việt Nam, cùng đôi dòng khen ngợi đại khái tác phẩm được trao giải, thì tịnh không thông tin nào, điểm nhấn nào về một năm văn chương của Đông Nam Á, phần còn lại. Tầm nhìn ra chung quanh bị hạn chế đến tối đa, để chỉ còn mỗi ta với ta.
Ở lĩnh vực nghiên cứu cũng vắng vẻ, chỉ tìm thấy một cuốn duy nhất và đã cũ: Văn học các nước Đông Nam Á do Nguyễn Thế Đắc chủ biên, xuất bản năm 1983. Nhưng đó cũng là tình trạng chung của cả khu vực này. Trong công trình được cho là "quý hiếm" của giới nghiên cứu, Self and Society in Southeast Asian Fiction (Cái tôi và xã hội trong tiểu thuyết Đông Nam Á, của Thelma B. Kintanar, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á xuất bản, Singapore, 1988) không có chữ nào về tiểu thuyết Việt Nam.
Tôi đã đặt câu hỏi, và nhận được câu trả lời phản tinh thần nghiên cứu khoa học: Công trình này được thực hiện trước thời điểm Việt Nam trở thành thành viên ASEAN. Nếu bình chọn một dẫn chứng điển hình cho “vùng lõm” văn chương Đông Nam Á thì tôi đề cử mẩu thông báo sau đây, đã đăng trên tạp chí Archiv Orientalni/ Lưu trữ Phương Đông (của Viện Phương Đông thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Cộng hòa Czech, được xếp vào top 100 Viện uy tín nhất thế giới), số 81, năm 2021: “Như đã thông báo, Ban biên tập quyết định mở chuyên mục mới: Văn học Đông Nam Á trong không gian văn học thế giới. Tuy nhiên, sau một thời gian gửi lời mời viết bài khắp nơi, đến nay chúng tôi chỉ nhận được duy nhất một bài viết từ học giả người Australia về văn học Malaysia”.
Trở lại chuyện đặc thù. Tại Cung điện Dusit, vị trưởng ban nghi lễ hoàng gia ở tuổi 80 trang trọng thông báo bằng tiếng Thái, và được phiên dịch sang tiếng Anh. Đại ý, việc yết kiến hoàng gia sẽ được thực hiện riêng biệt: Thần dân Thái tuân thủ nghi thức truyền thống, còn khách quốc tế thì theo thông lệ ngoại giao.
Các nhà văn không khỏi nhìn nhau khi được biết họ phải diễn tập trong 30 phút. Nhưng rồi thời gian đó trôi khá nhanh với tiếng cười vui trước điệu bộ lúng túng, ngượng nghịu của một số nhà văn không thể nhớ nổi phải dừng bước chân đúng vào điểm nào trên thảm, phải xoay người thế nào sau khi nhận giải từ tay công chúa, và đi về hướng nào… Sau diễn tập, mọi người dự tiệc trà giải lao trước khi chính thức vào lễ. Như một lẽ tự nhiên và đầy cảm xúc chân thành, thần dân Thái cung kính quỳ phục trước công chúa Sirivannavari Nariratana của họ. Cánh “quốc tế” chúng tôi, nam cũng như nữ, chỉ cần đứng khép chân, cúi đầu đón biểu chương bằng hai tay. Đối lại, Công chúa khiêm cung nghiêng mình khi trao biểu chương, cũng bằng hai tay và với nụ cười… Tôi, và hẳn các nhà văn đến từ tám quốc gia khác cũng vậy, cảm thấy nhẹ nhàng, thậm chí thú vị, khi dự và chứng kiến một lễ trao giải đậm sắc truyền thống hoàng gia Thái, đồng thời tôn trọng tinh thần quốc tế.
Bảy giờ tối, Yasmin đưa chúng tôi đến Royal Ballroom dự đại tiệc hoàng gia. Đây là không gian ngoài hoàng cung được phép kiến trúc trang trí như một bản sao, dành đón quốc khách. Ở đó có thể thưởng thức vũ nhạc và ẩm thực cung đình. Lại là sân khấu lớn cho các tiết mục đọc thơ, giao lưu văn hóa, tạo cơ hội gặp gỡ, kết bạn giữa các nhà văn Đông Nam Á. Qua hai ngày tiếp xúc, tôi có thể biết người này đến từ Indonesia, người kia từ Malaysia và người kia nữa từ Singapore…, nên tôi lấy làm lạ khi họ trò chuyện với nhau không cần tiếng Anh.
Rosli, nhà thơ Malaysia, giải thích:
- Bạn đang chứng kiến hiện tượng địa-ngôn-ngữ/ geolinguistics. Chúng tôi đến từ các quốc gia thuộc nhóm ngôn ngữ Mã-lai, có những điểm khác, nhưng hiểu nhau khá dễ dàng.
Cạnh tôi là anh Simon Tay, nhà thơ Singapore, M.A luật khoa Đại học Harvard, đã du lịch Việt Nam ba lần, chia sẻ:
- Do đặc điểm hình thành đất nước, chúng tôi có đến bốn ngôn ngữ chính thức: tiếng Anh, tiếng Hoa, tiếng Mã-lai và tiếng Tamil. Kết quả là văn học Singapore được viết bằng cả bốn ngôn ngữ ấy như một phương sách vừa bảo tồn truyền thống vừa mở cửa. Do đó, dịch thuật đóng vai trò quan trọng trong việc thu hẹp sự phân chia ngôn ngữ và văn học. Những tác phẩm quan trọng đều có bản tiếng Anh. Thực tế là, nhà văn Singapore sáng tác bằng tiếng Anh ngày càng đông, số lượng nhà xuất bản Anh ngữ cũng tăng theo.
Một giáo sư người Úc gốc Anh, giảng dạy tại Đại học Chulalongkorn, tham gia câu chuyện:
- Hiến pháp Philippines và Singapore công nhận tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức, nhờ vậy, văn học của hai nước Đông Nam Á này gần như được đặt sẵn trên giao lộ thế giới nói tiếng Anh.
Ban tổ chức sắp xếp cho các cơ quan báo đài tiếp xúc nhà văn, lần lượt từng quốc gia, ngay trong thời gian diễn ra gala dinner, tại một phòng dành riêng trong khu vực Royal Ballroom. Chín giờ, đến lượt đoàn Việt Nam. Nhóm tình nguyện viên được bố trí bàn riêng, nhưng Yasmin liền có mặt bên chúng tôi, cùng đến phòng báo chí gần đó, dù cô phải một mình ngồi chờ ngoài hành lang. Nước mình vần V, tôi giải năm 2021, tên cũng vần V, trở thành khách cuối của buổi phỏng vấn. Trong thời gian chờ, nghe những câu hỏi về tác phẩm đoạt giải lặp lại đến chán. Tôi đề nghị được phép phát biểu điều suy nghĩ trong hai ngày qua. Thoáng bối rối, nhưng người phụ trách đồng ý. Ban tổ chức chu đáo bố trí phiên dịch tiếng Việt. Cô ấy khẽ nói trong khi nhìn tôi chỉnh cà-vạt:
- Anh à, đây không phải báo chí ngoài xã hội, là kênh truyền hình hoàng gia…
Tôi trấn an: - Cảm ơn em, anh biết. Và anh dùng tiếng Anh, không phải dịch.
Thời lượng phát biểu của tôi đúng một phút:
- Tôi tin đức Vua và hoàng gia Thái Lan, những nhà sáng lập đáng kính của giải văn chương quốc tế hàng năm này không dừng lại ở khích lệ những thành tựu cụ thể trong quá trình sáng tạo cá nhân, mà mục đích chính là xây dựng mối quan tâm, sự hiểu biết lẫn nhau giữa các quốc gia trong khu vực. Bởi văn học là phương tiện giao lưu văn hóa tuyệt vời. Điều này nhằm góp phần làm thay đổi một thực trạng đã tồn tại hàng thế kỷ: Người Đông Nam Á am hiểu lịch sử, văn hóa và thời sự của các nước phương Tây, cũng như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản hơn là các nước láng giềng gần gũi nhất của họ trong khu vực. Vì vậy, nhân kỷ niệm 45 năm ngày thành lập The S.E.A. Write Award, tôi hy vọng các nhà sáng lập sẽ tiếp tục phát huy sáng kiến khởi đầu quý giá này. Nhà văn Đông Nam Á đã ngồi lại bên nhau, tại đây. Nhưng hầu hết họ chưa có điều kiện đọc tác phẩm của nhau, thậm chí chưa từng nghe đến tên nhau. Ngoại trừ Philippines và Singapore đã có truyền thống sáng tác và xuất bản bằng tiếng Anh, ở các nước còn lại, số lượng tác phẩm được chuyển ngữ rất khiêm tốn. Các dịch giả, nhà xuất bản Đông Nam Á cho rằng văn học các nước trong khu vực của họ chưa đáng để dịch và giới thiệu, lại thêm thực tế thị phần này còn rất nhỏ trong thị trường sách. Điều đó khiến các nhà văn, nhà nghiên cứu văn học, và những bạn đọc Đông Nam Á nếu muốn tìm hiểu văn học của nhau cũng không dễ. Từ đó, tôi ao ước tác phẩm được trao giải từ 1979 đến nay sẽ được tổ chức thành một Tủ sách Văn chương Đông Nam Á, tuyển dịch sang Anh ngữ, xuất bản và giới thiệu trong cũng như ngoài khu vực.
Dẫu muộn, Yasmin vẫn chờ ở đó. Hai chúng tôi lặng lẽ, thư thả quay lại gala dinner, không biết câu chuyện ngôn ngữ - văn chương Đông Nam Á còn tiếp diễn hay đã vãn. Ngang một ô cửa vòm, tôi bất giác dừng lại, khẽ nhắm mắt nhận phần thưởng của thế giới tự nhiên: làn gió mát nhẹ từ Sông Các Vì Vua đang lấp lánh hồi quang ánh trăng thu.
- Em có thể mời ông dạo chơi trên sông? - Yasmin ngập ngừng.
Chủ thuyền vui lòng không nhận thêm khách theo yêu cầu của Yasmin. Lặng lờ theo dòng chảy thung dung tải phù sa vàng nâu ra biển, tôi thấy mình giữa một Bangkok khác. Lắng sâu, thư thoáng cùng những thuyền gỗ cổ phong chủ tâm thắp đèn dầu và đèn lồng. Tôi cũng đối diện một Yasmin khác dẫu vẫn áo dài baju kurung và khăn trùm vắt ngang mặt tinh thuần một màu trắng bởi tôi nhận ra thứ trang phục kín đáo ấy như để tôn vinh đôi mắt đen nhánh khác biệt của cô, vừa bí ẩn vừa thu hút như đang thực hành thuật thôi miên.
- Trước khi gặp, vì công việc, em đã đọc tiểu sử ông. Cha em kém ông hai tuổi, nhưng với bộ râu dài muối tiêu.
Yasmin cười khúc khích, tiếp:
- Em cũng biết ông sinh ra lớn lên ở Huế. Vào Google, thấy ảnh dòng sông chảy qua cố đô rất đẹp và hiền hòa. Hẳn sông cũng được các vua phong tặng tước hiệu như Chao Phraya?
Tôi lắc đầu:
- Nhưng được hầu hết các vua triều Nguyễn làm thơ ca tụng. Vua Thiệu Trị cho khắc bài thơ của ông về sông Hương lên bia đá đặt bên bờ, trong đó sông được ví với dải lụa mềm lấp lánh dưới ánh dương. Sông Hương là nguồn cảm hứng của thi ca Việt cổ điển và đương đại. Có lẽ tôi yêu nhất câu thơ của Cao Bá Quát, một thi sĩ nổi loạn. Ông ấy không giống ai, đã nhìn thấy sông Hương như một thanh kiếm dựng ngược giữa trời xanh.
- Ông có làm thơ về sông Hương không?
- Không. Nếu có thì sẽ là thơ về người sông Hương theo dòng lịch sử mải nổi trôi giữa đôi bờ dải lụa và thanh kiếm.
Yasmin lặng đi một lúc rồi trở lại:
- Em hỏi vậy vì lúc nãy ở hành lang phòng báo chí, để quên thời gian, em xem qua tập kỷ yếu, và đã gặp phần trích dẫn tiểu thuyết Inside Infinity, bản gốc lẫn bản dịch, cứ ngỡ thơ văn xuôi. Giờ, tự nhiên em muốn nghe những câu văn ấy trong tiếng Việt, với giọng đọc của chính ông, có được không?
Tôi mỉm cười trong lúc khẽ lắc đầu, nhưng rồi tay vẫn mở tập kỷ yếu, tìm đến trích đoạn bản gốc:
Vẳng tiếng khóc. Choàng thức nhận ra đó là phần sót lại của giấc mơ không thể phục hồi và tiếng khóc của chính tôi. Cũng không thể biết đã ngâm mình trong giếng trời này từ lúc nào và chợp mắt bao lâu.
Trăng thoát khỏi mây, lớp lớp đồi cát vàng hoang dại vùng tiểu sa mạc Bình Thuận hiện nguyên hình. Hôm nay là ngày lạ lùng, cứ như tập tin nén khổng lồ, nén không gian Huế-Sài Gòn, nén quá khứ vào hiện tại, nén chia ly vào hội ngộ. Rồi buông hết nằm đây một mình mà không nghĩ tại sao.
Sóng cát bốn bề cho phép phóng tầm mắt tận chân trời nhưng để chẳng thấy gì ngoài bản thân.
Các đám mây hỗn độn như bầy thú nguyên thủy lần nữa nuốt trọn mặt trăng. Chiếc máy bay thương mại xuất hiện đơn độc trên bầu trời và âm thanh động cơ không đến được chỗ tôi. Nhớ những lần từ máy bay nhìn xuống mặt đất tôi nhận ra đường biên ngày đêm khi bóng tối loang dần tới đâu đèn đóm phát sáng tới đó báo hiệu sự có mặt của con người.
Tôi tự hỏi có ai trên máy bay kia trông thấy mặt giếng trời này đang gửi tín hiệu kết giao cùng vũ trụ khi nó không ngừng tiếp nhận sáng trăng và phát đi ánh hồi quang.
Trăng lại tỏ. Tôi lại mơ hồ trông thấy hình hài của mình và cả lòng giếng dưới gợn sóng vàng óng. Nó nhắc tôi những giếng trời bán đảo Yucatan vịnh Mexico mà người Maya cổ gọi "cenote", cửa địa ngục, vì chúng ăn thông hệ thống nước ngầm lòng đất.
Giếng trời tôi nằm đây thì chẳng dẫn đến đâu, dẫu địa ngục thiên đường.
Yasmin thốt lên một từ tiếng Mã-lai nào đó. Không dịch, cô tiếp:
- Ước gì em có tiểu thuyết ấy trong tay, ngay bây giờ!
Tôi mở chiếc ba-lô con, lấy cuốn Inside Infinity, đặt lên bàn, khẽ đẩy về phía Yasmin:
- Của em đó, và đã ký.
Cô gái cúi đầu, hai tay bưng mặt, ngăn niềm phấn khích bất chợt. Sẽ không bao giờ em biết bản sách ấy vốn để tặng Công chúa Sirivannavari Nariratana, và tôi đã đổi ý.
Hai ngày sau, nhóm tình nguyện viên tiễn khách tại sảnh khách sạn Mandarin Oriental. Yasmin nói với tôi một câu mà những người đứng gần khó lòng hiểu thấu:
- 250 trang, gần 100 từ biển, Biển Đông, biển đảo, biển Tổ quốc. Ông biết không, tựa đề bài báo sắp tới của em sẽ là Tâm thức biển trong tiểu thuyết Inside Infinity.

Cái ông có bụng to ngồi cạnh ông có đôi lông mày bạc là người từng làm Giám đốc Nhà máy bia Suối Thần. Ông ấy thao...
Bình luận