Xã hội hóa văn học nghệ thuật vài quan sát, ghi nhận từ thực tế

Trong phát biểu chỉ đạo Hội nghị Văn hóa toàn quốc ngày 24 tháng 11 năm 2021, khi nói về những giải pháp cần tập trung thực hiện một cách quyết liệt và có hiệu quả để chấn hưng và phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam thời kỳ mới, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh một vài yêu cầu về công tác quản lý nhà nước: “Nâng mức đầu tư một cách hợp lý từ nguồn ngân sách nhà nước, đồng thời khơi thông các nguồn lực xã hội, nguồn lực trong nước và nước ngoài cho phát triển văn hóa”.

Những yêu cầu này của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, có thể nói, được dẫn chiếu từ một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề “xã hội hóa”. Cụ thể là Nghị quyết số 90-CP của Chính phủ, ra ngày 21 tháng 8 năm 1997, về “Phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa”. Đây chính là cơ sở để thực hiện chủ trương xã hội hóa các hoạt động văn hóa, trong đó có văn học nghệ thuật, lĩnh vực vẫn luôn được xem là quan trọng, tinh tế và nhạy cảm bậc nhất của văn hóa. Tính từ thời điểm Nghị quyết 90-CP được ban hành và đi vào thực tiễn đến nay, hơn ¼ thế kỷ trôi qua, có thể đưa ra một vài quan sát, ghi nhận về việc thực hiện xã hội hóa hoạt động văn học nghệ thuật, nhất là ở khâu “khơi thông các nguồn lực xã hội, nguồn lực trong nước và nước ngoài cho phát triển văn hóa” như ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư. Mặt khác, khi nhìn lại hơn mười lăm năm thực hiện Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị về tiếp tục phát triển Văn học nghệ thuật trong tình hình mới, thiển nghĩ, việc xem xét, phân tích, đánh giá, tổng kết về vấn đề xã hội hóa các hoạt động Văn học nghệ thuật thời gian qua càng cần phải được đặt ra một cách cấp thiết.

Trước hết, phải nhắc lại một thực tế: ngay sau khi chủ trương xã hội hóa được ban hành, đã xuất hiện và lan truyền một làn sóng lo lắng bất an tại nhiều đơn vị văn học nghệ thuật công lập, cả trung ương lẫn địa phương. Người ta hiểu xã hội hóa theo một nghĩa duy kinh tế cạn hẹp: kể từ bây giờ nhà nước chỉ giữ vai trò quản lý hành chính và tư tưởng đối với các đơn vị văn học nghệ thuật, còn nguồn ngân sách công - cái bầu sữa đã teo tóp quá mức sau một thời gian dài phải gánh trách nhiệm bao cấp ấy - thì sẽ bị rút giảm đến tối đa, các nghệ sĩ sẽ phải tự bươn trải để thực hành nghệ thuật và để sống.

Xã hội hóa văn học nghệ thuật vài quan sát, ghi nhận từ thực tế - 1

Ảnh minh họa.

Cũng xuất hiện một cách hiểu khác: xã hội hóa đồng nghĩa với tư nhân hóa; tức là, hoạt động văn học nghệ thuật trước đây vốn nằm trọn trong bàn tay độc quyền của nhà nước, thì nay sẽ được bung ra với tất cả trong một nền kinh tế nhiều thành phần, ai muốn tham gia cũng được. Những cách hiểu như vậy, dù ít nhiều cũng có phần sát hợp thực tế, song đều không đúng với mục đích bản chất của việc xã hội hóa hoạt động văn học nghệ thuật. Ở phương diện này, có thể tham khảo quan điểm khá đầy đủ của nhà nghiên cứu Trần Hoài Anh trong bài viết “Về xã hội hóa hoạt động văn học nghệ thuật trong bối cảnh hiện nay” : “Muốn cho văn học nghệ thuật phát triển, đòi hỏi phải xã hội hóa hoạt động văn học nghệ thuật, mà trước tiên là xã hội hóa quyền tổ chức và điều hành hệ thống sản xuất văn học nghệ thuật theo hướng đa dạng hóa chủ thể quản lý, nhằm thu hút đông đảo lực lượng xã hội, tập thể và cá nhân tham gia hoạt động văn học nghệ thuật... Xã hội hóa hoạt động văn học nghệ thuật là đánh thức các tiềm năng của xã hội, nghĩa là không chỉ huy động sự đóng góp về kinh phí mà còn phát huy tiềm năng sáng tạo của nhân dân, biến các hoạt động văn học nghệ thuật trở thành công việc, niềm quan tâm và nuôi dưỡng của toàn xã hội” (Tạp chí Cộng sản, tháng 11/ 2019). Theo cách hiểu như vậy thì xã hội hóa hoạt động văn học nghệ thuật không hề đồng nghĩa với sự “bớt đi” nguồn lực nhà nước, mà thực chất là mở ra để mời gọi sự “thêm vào” đầy tính năng động, tích cực của các nguồn lực ngoài nhà nước, cả về kinh phí và tiềm năng sáng tạo văn học nghệ thuật.

Thực tế của hơn ¼ thế kỷ thực hiện xã hội hóa các hoạt động văn hóa, trong đó có văn học nghệ thuật, về cơ bản đã diễn ra như dự kiến của những người kiến tạo chủ trương. Hãy nhìn trước hết từ chính các đơn vị văn học nghệ thuật công lập. Nhờ có chủ trương xã hội hóa như một sự “cởi trói” về cơ chế, nhiều đơn vị đã nhanh chóng từ mảnh ruộng phần trăm nhỏ bé mà nhà nước giao cho để vươn ra bên ngoài, tìm kiếm các quan hệ, dẫn dụ các nguồn lực đa dạng đổ về mình, tạo thêm nhiều khối lượng công việc mới, mạnh mẽ và giàu hiệu quả. Ví dụ, trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, ta thấy có Nhà hát Tuổi Trẻ, Nhà hát Nhạc vũ kịch Việt Nam, Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam, Nhà hát Giao hưởng và Vũ kịch Thành phố Hồ Chí Minh... là những đơn vị đã rất biết cách mời gọi, khai thác nguồn lực từ các tổ chức, các quỹ văn hóa, các dự án hỗ trợ nghệ thuật nước ngoài, cả về tiền bạc và con người, để làm phong phú thêm và nâng cao hơn chất lượng các chương trình, kịch mục biểu diễn của mình. Ví dụ, trong lĩnh vực văn học - xuất bản, ta thấy những đơn vị xuất bản năng động như NXB Trẻ, NXB Kim Đồng hay NXB Phụ Nữ... đã đẩy mạnh việc liên kết với các trung tâm văn hóa, các dự án quảng bá văn học nước ngoài, các sứ quán, các tập đoàn xuất bản quốc tế, để khai thác bản quyền dịch và in các tác phẩm văn học nước ngoài có giá trị nghệ thuật cao, hoặc các tác giả đang ăn khách trên thế giới. Dĩ nhiên ở đây cần lưu ý một  điểm: những đơn vị văn học nghệ thuật công lập được ví dụ như trên là những đơn vị biết cách lấy xã hội hóa làm bàn đạp để vượt lên mạnh mẽ, nhưng đó chỉ là số ít, số nhiều vẫn là những đơn vị “cử động” hơn là hoạt động, làm việc theo chỉ tiêu, thiếu sức sáng tạo, không hiệu quả, không có những đóng góp thiết thực cho xã hội và cho sự phát triển chung của văn học nghệ thuật. Trên ý nghĩa đó, có thể nói, xã hội hóa văn học nghệ thuật chính là một phép thử đối với năng lực của các đơn vị văn học nghệ thuật công lập.

Nhưng thành tựu nổi bật và đáng kể hơn cả của trên ¼ thế kỷ thực hiện xã hội hóa hoạt động văn học nghệ thuật lại nằm ở những nhân tố mới, ngoài công lập: các sân khấu xã hội hóa, các hãng phim tư nhân, các công ty sách tư nhân, các công ty tổ chức biểu diễn ca múa nhạc, các hãng băng đĩa nhạc tư nhân, các công ty tư vấn thiết kế kiến trúc... Hãy thử lấy vài ví dụ để thấy vai trò quan trọng của những nhân tố ngoài công lập này. Trong lĩnh vực sân khấu: nếu ở phía Bắc đất nước về cơ bản vẫn là “sàn diễn” của các đơn vị sân khấu công lập, thì ở phía Nam đất nước, cột trụ và linh hồn thực sự của sân khấu chính là các sân khấu xã hội hóa, tức sân khấu tư nhân. Sân khấu IDECAF, Kịch Sài Gòn, Kịch Phú Nhuận... những sân khấu của các ông bầu bà bầu, những sân khấu vận hành hoàn toàn bằng nguồn vốn của các tư nhân và bằng tiền mua vé vào rạp của công chúng đô thị, những sân khấu ấy mới đích xác là lựa chọn cho nhu cầu thưởng thức nghệ thuật sân khấu của khán giả miền Nam. Họ làm sân khấu nghiêng về tính giải trí, quy mô nhỏ gọn, song cũng không thiếu những vở diễn quy mô lớn, đẫm đặc sự mê dụ của tính chất hàn lâm. Và những nhà quản lý sân khấu xã hội hóa như Huỳnh Anh Tuấn, những đạo diễn, diễn viên “phù thủy” như Thành Lộc, rồi đây chắc chắn sẽ thuộc về những tên tuổi ghi dấu ấn nổi bật trên một chặng của lịch sử sân khấu Việt Nam. Trong lĩnh vực điện ảnh: kể từ nửa sau của chặng ¼ thế kỷ thực hiện xã hội hóa văn học nghệ thuật, tức từ khoảng 2010, về số lượng mỗi năm, phim do các hãng phim tư nhân sản xuất đã ngang bằng, rồi lấn lướt áp đảo phim do các hãng phim nhà nước sản xuất, và mấy năm gần đây, nói đến phim truyện điện ảnh Việt Nam tức là nói đến phim tư nhân, bởi vì các hãng phim nhà nước đã rơi vào tình trạng gần như tê liệt. Tất nhiên phim tư nhân làm ra thì có cả hay lẫn dở, phim dở thì có khi trở thành thảm họa điện ảnh hài nhảm, nhưng hay, thì hầu hết phim đoạt các giải thưởng điện ảnh trong nước hoặc giải thưởng ở các Liên hoan phim quốc tế đều là phim của các hãng tư nhân. Trong lĩnh vực văn học - xuất bản: chính các công ty sách tư nhân như Alpha Books, Nhã Nam, Đông A, Tao Đàn v.v... mới là lực lượng giữ vai trò chủ đạo trong việc in và phát hành các tác phẩm thuộc dòng sách văn học, nghệ thuật, tư tưởng, chính trị, tôn giáo. Bằng nguồn lực riêng có của mình, họ chủ động áp sát thị trường, chủ động khai thác bản quyền các sáng tác phẩm, dịch phẩm trong nước và nước ngoài, chủ động trong khâu biên tập, in ấn, phát hành. Nghĩa là, các nhà xuất bản nhà nước, nếu không mạnh mẽ và tích cực như NXB Kim Đồng, NXB Trẻ, NXB Phụ Nữ... thì chỉ còn thực hiện đúng một chức năng mà cái vị thế “nhà nước” đã cho họ: cấp giấy phép xuất bản cho các công ty sách tư nhân. Dù sao đi nữa thì công chúng vẫn được hưởng lợi lớn từ sự hiện diện của các công ty sách tư nhân này: chưa bao giờ sách ở Việt Nam lại phong phú, đa dạng và nhiều tác phẩm chất lượng cao đến thế.

Một lĩnh vực không thể không nhắc đến khi nói câu chuyện xã hội hóa văn học nghệ thuật, là lĩnh vực mỹ thuật. Các doanh nghiệp, các tư nhân đã tham gia hết sức tích cực, có nhiều đóng góp lớn vào sự phát triển của mỹ thuật Việt Nam trong những năm qua. Có thể lấy hai ví dụ. Thứ nhất: hoạt động của các phòng tranh (gallery). Đây chính là nhân tố giữ vai trò môi giới, kết nối giữa người sáng tác và công chúng mỹ thuật. Thị trường mỹ thuật được mở ra, phát triển sôi động, họa sỹ có thể bán được tranh, trước hết là nhờ các phòng tranh. Dĩ nhiên có không ít phòng tranh vì lợi nhuận đã tiếp tay cho nạn tranh giả, tranh chép, làm xấu đi hình ảnh của mỹ thuật Việt Nam. Nhưng vẫn có đó những phòng tranh đầy uy tín như Lotus Gallery của bà Xuân Phượng ở Thành phố Hồ Chí Minh, một địa chỉ không chỉ là buôn bán tranh bình thường, mà là tìm kiếm, phát hiện, nâng đỡ, giới thiệu các họa sỹ giàu tiềm năng nhưng chưa được ai biết đến ra với công chúng trong nước và nước ngoài. Tất cả các cuộc triển lãm, giới thiệu họa sỹ Việt Nam ở nhiều nước trên thế giới mà bà tổ chức trong suốt những năm qua (từ 1991) đều bằng tiền túi, không liên quan đến nhà nước, nhưng đã góp phần khiến cho mỹ thuật Việt Nam, văn hóa Việt Nam được thế giới biết đến và trân trọng. Thứ hai: hoạt động của các doanh nghiệp, thậm chí các tập đoàn kinh tế tư nhân. Dễ thấy nhất ở câu chuyện này là trường hợp của Flamingo Đại Lải Resort, với dự án “Nghệ thuật trong rừng” và “Bảo tàng mỹ thuật ngoài trời”. Đây là dự án được thực hiện trong nhiều năm, bằng việc người tổ chức mời các nhà điêu khắc Việt Nam và quốc tế tham gia, sau khi bản phác thảo của họ đã qua khâu sát hạch. Đến nơi, họ được bảo đảm chuyện ăn, ở một cách tốt nhất, được có tất cả các vật liệu và trang bị theo yêu cầu, được cấp những tốp thợ giỏi nghề nhất để hoàn thành tác phẩm như mong muốn. Kết quả là “Bảo tàng mỹ thuật ngoài trời” đã ra đời, là sự kết hợp hoàn hảo giữa các tác phẩm điêu khắc với phong cảnh thiên nhiên rộng lớn. Riêng các tác phẩm thì đa dạng về phong cách, những ngôn ngữ điêu khắc đều đầy tính hiện đại, và tất cả toát lên một tinh thần khai phóng, văn minh.

Nhưng chính ở lĩnh vực mỹ thuật, ta thấy đã phát lộ một vấn đề trong câu chuyện xã hội hóa văn học nghệ thuật, câu chuyện “khơi thông các nguồn lực xã hội, nguồn lực trong nước và nước ngoài cho phát triển văn hóa”, như ý kiến chỉ đạo của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Với những cá nhân, những doanh nghiệp như bà Xuân Phượng Lotus Gallery, như Flamingo Đại Lải Resort - mở rộng sang các lĩnh vực khác thì còn nhiều nữa - khi hoạt động của họ rất có ý nghĩa cho phát triển văn hóa đất nước, cho nhu cầu thụ hưởng nghệ thuật của toàn xã hội, thì họ có được hưởng một sự ưu đãi, một sự tạo điều kiện thuận lợi nào không - về thuế chẳng hạn - để có thể tiếp tục đầu tư một cách mạnh mẽ và hiệu quả cho văn học nghệ thuật? Dường như là không. Bởi vì cho đến bây giờ chúng ta vẫn chưa có một chính sách nào cụ thể, chi tiết cho hoạt động ấy. Chính vì thế, đây là một vấn đề thiếu, khi nhìn vào việc thực hiện xã hội hóa văn học nghệ thuật ở Việt Nam suốt hơn ¼ thế kỷ qua.

Hoài Nam

Tin liên quan

Tin mới nhất

Khúc hát gọi mùa xuân đại ngàn

Khúc hát gọi mùa xuân đại ngàn

Trong mạch nguồn sáng tác bền bỉ và giàu bản sắc của nhà báo – nhạc sĩ Tào Khánh Hưng, ca khúc “Bên em mùa xuân Tây Bắc” xuất hiện như một bông hoa ban nở đúng độ xuân về. Đây không chỉ là một tác phẩm viết về mùa xuân, về miền Tây Bắc, mà còn là một khúc tình ca đậm chất văn hóa dân tộc, nơi thiên nhiên, con người, âm nhạc và phong tục hòa quyện trong một không gian nghệ thuật

Việt Nam – Lào định hướng hợp tác văn hóa, du lịch trong giai đoạn mới

Việt Nam – Lào định hướng hợp tác văn hóa, du lịch trong giai đoạn mới

Ngày 10/01/2026 tại Thủ đô Viêng Chăn (Lào), nhân dịp tổ chức Chương trình nghệ thuật đặc biệt “Việt – Lào: Bản trường ca hữu nghị”, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam Nguyễn Văn Hùng đã có cuộc gặp, làm việc với Bộ trưởng Bộ Văn hoá và Du lịch Lào nhằm trao đổi, đánh giá kết quả phối hợp tổ chức chương trình và định hướng hợp tác trong thời gian tới, t