Âm nhạc Việt Nam từ 1975 đến nay - một góc nhìn
Xin giới hạn bài viết trong góc nhìn của một cá nhân cũng đã ngót 50 năm gắn bó với chuyên ngành lý luận âm nhạc. Thêm nữa, thay vì liệt kê thành tích theo truyền thống "tốt đẹp khoe ra, xấu xa đậy vào", xin được ưu tiên những vấn đề nổi cộm và nếu đôi chỗ thiên về tinh thần tự phê, thì cũng chỉ vì mong muốn chúng ta trở nên vững vàng hơn từ những bài học quá khứ để bớt sai tương tự thế trong tương lai. Mỗi lần có dịp nhìn lại cái dở cái sai thế này là cơ hội để giới nhạc cùng các nhà quản lý thấy rõ hơn vị trí của mình, hiệu quả tác động của mình trong đời sống văn hóa nghệ thuật đương đại.
Nhìn lại âm nhạc từ 1975 đến nay, nửa trước thuộc thế kỷ XX là giai đoạn hướng tới sự chuyển đổi và nửa sau thuộc thế kỷ XXI là giai đoạn hướng tới tính đa dạng. Để có được nền âm nhạc muôn màu muôn vẻ cần chấp nhận sự khác biệt. Muốn chấp nhận những khác biệt cần thay đổi trước hết từ nhận thức, cần thoát khỏi những quan niệm cứng nhắc phục vụ yêu cầu nhất thời để vươn tới tầm nhìn xa trông rộng hơn, nhân văn hơn.
25 năm cuối thế kỷ XX
Giai đoạn 1975-1986, đất nước thống nhất xóa bỏ ranh giới địa lý cũng như những khác biệt về chính trị và tổ chức xã hội. Tuy nhiên về nhận thức có nhiều điều không kịp thích ứng. Hơn 10 năm hậu chiến vẫn nhất quyết duy trì những quan niệm cực đoan chỉ phù hợp với thời chiến và chưa thể gỡ bỏ những nhận định hẹp hòi ấu trĩ trong đánh giá chất lượng nghệ thuật của tác phẩm âm nhạc. Âm nhạc vẫn tràn đầy tinh thần lạc quan cách mạng, tiếp tục triệt để phát huy chức năng ngợi ca những điều lớn lao và cổ động tuyên truyền chính trị. Nhạc sĩ vẫn tiếp tục gạt bỏ mọi nỗi niềm riêng tư để đồng nhất trong tiếng nói chung của đoàn thể.
Sự đơn điệu khô cứng của âm nhạc với thể loại chủ lực là ca khúc quần chúng không đủ xoa dịu những nỗi đau mất mát, không thể đáp ứng nhu cầu tinh thần của người dân trong cuộc mưu sinh chật vật sau chiến tranh. Phải chăng các nhạc sĩ không còn nhạy bén với thời cuộc như trong những năm chiến tranh vệ quốc?
Đâu phải! Trong cuộc khủng hoảng thiếu tình ca vẫn có những bài hát trữ tình mà sau này được tôn vinh là “bài ca đi cùng năm tháng”, nhưng ngay lúc ra đời đã bị khai tử. Tinh thần nhập cuộc của giới nhạc dù nhanh nhạy đến đâu cũng khó có được hiệu quả xã hội một khi vẫn còn đó những định kiến khắt khe của các nhà quản lý văn hóa.

Ảnh minh họa
Giai đoạn 1986-2000, sự chuyển đổi từ chế độ bao cấp sang kinh tế thị trường kéo theo hàng loạt đổi thay trong đời sống ca nhạc. Chính sách Đổi mới bắt đầu tháo gỡ dần những rào cản trong nhận thức. Quản lý văn hóa nghệ thuật thông thoáng hơn nhưng lại dễ rơi vào tình thế bị động: kiểm duyệt khắt khe không còn hiệu lực trong cơ chế thời mở cửa, quản không được đành thả nổi. Chức năng giải trí của âm nhạc bị gạt bỏ suốt mấy thập niên chiến tranh lúc này lại được đặt lên hàng đầu.
Cơn khát tình ca tích tụ trong nhiều năm tạo cơ hội cho sự trở lại của nhạc Sài Gòn trước 1975 và “nhạc tiền chiến” (thực chất là ca khúc trữ tình trước và trong kháng chiến), rồi tới cơn sốt nhạc nhẹ (pop-rock) cùng các ca khúc hải ngoại trước đó còn bị coi là nhạc đồi trụy. Nhạc nội thất thế trước nhạc ngoại với sự xâm nhập ào ạt của karaoke, của băng đĩa hải ngoại. Nhạc nhẹ từng bị lên án gay gắt dần dần được chấp nhận, được xếp bằng vai phải lứa với các loại nhạc theo phong cách thính phòng và dân gian trong ba hạng mục chính thức của các cuộc liên hoan ca nhạc.
Từ độc nhất một “mặt hàng” là ca khúc cách mạng - tức nhạc đỏ theo cách gọi của cánh báo chí, thị trường ca nhạc trở nên rôm rả dần, nào là nhạc trẻ và ca khúc chính trị, nào là nhạc xưa và nhạc tự tình quê hương, trong đó có cả những bài từng bị dán mác nhạc sến và nhạc vàng. Những tên gọi các “dòng nhạc” khác nhau kể trên (sang thế kỷ XXI còn thêm vài tên gọi mới: nhạc bolero, nhạc dân gian đương đại) được định hình chẳng phải từ các nhà lý luận âm nhạc chuyên nghiệp, mà bởi cánh truyền thông vẫn được giới nhạc coi là “dân ngoại đạo”. Thiếu chuẩn xác và không thống nhất về thuật ngữ trong bình luận ca nhạc đã tác động không nhỏ tới mặt bằng dân trí và phần nào cho thấy sự lép vế của lý luận phê bình âm nhạc chuyên nghiệp.
Nhiều khía cạnh tình cảm riêng tư trước đây cấm kỵ lúc này lại nở rộ.Tình ca nhanh chóng nhảy từ khủng hoảng thiếu sang khủng hoảng thừa. Dễ nghe và mãn nhãn, sản phẩm ca nhạc để nhìn hơn là nghe. Những sáng tạo thuần túy âm nhạc trong sáng tác và biểu diễn nhiều khi không quan trọng bằng những yếu tố “ngoài âm nhạc”: kỹ thuật âm thanh, thu âm, vũ đạo, ngoại hình, trang phục, ánh sáng, thiết kế sân khấu, quảng bá truyền thông… Yêu cầu kinh doanh ăn khách trở thành mục tiêu hàng đầu trong hoạt động ca nhạc.
Ca khúc thị trường ngày càng thịnh hành và lấn lướt nhạc hát chính thống cũng như nhạc đàn chuyên nghiệp. Khí nhạc đuối dần trong cuộc cạnh tranh khốc liệt với ca nhạc đại chúng thời mở cửa. Tình cảnh ảm đạm này còn kéo dài đến những năm cuối thế kỷ XX mới bắt đầu hé lên chút hi vọng về sự hồi sinh.
Với nhạc cổ truyền sự thể còn ảm đạm hơn nhiều. Ở thời điểm thống nhất đất nước nếu nhạc giao hưởng thính phòng vẫn đang bừng bừng khí thế thì nhạc cổ đã rơi vào tình trạng tổn thất nặng nề vì môi trường diễn xướng đã mất dần từ những năm 40 thế kỷ XX. Nhiều loại hình cổ truyền bị lãng quên không những do điều kiện chiến tranh liên tiếp, mà còn vì bị coi là sản phẩm của chế độ cũ, lạc hậu, đồi trụy, mê tín dị đoan. Cứ thế, sự thiếu hiểu biết trong ứng xử với tài sản tổ tiên còn kéo dài suốt những thập niên cuối thế kỷ trước. Tổng cộng hơn nửa thế kỷ đứt gánh khiến vốn cổ rơi vào nguy cơ thất truyền là cái giá chúng ta phải trả.
Một sự chuyển đổi vô cùng quan trọng trong lĩnh vực lý luận âm nhạc đã kịp thời níu giữ những gì còn sót lại của nhạc cổ truyền: đó là sự xuất hiện và mau chóng được củng cố của chuyên ngành dân tộc nhạc học (ethnomusicology) vào cuối những năm 90. Nhận thức được sai lầm trong hành xử với nhạc cổ, giới lý luận âm nhạc bắt đầu điều chỉnh việc sưu tầm nghiên cứu theo chuẩn quốc tế với hai phương thức song song tồn tại và không thể thay thế nhau: bảo tồn có phát huy và kế thừa để phát triển. Theo đó, nhạc cải biên nói trên được xếp vào kế thừa - phát triển, chứ không thể đại diện cho nhạc cổ, bởi vậy nó cần được ghi nhận, coi trọng và tiếp tục đầu tư như một trong những thành tựu của nhạc mới.
Sau nhiều thập niên suy xét giá trị nghệ thuật nhạc cổ theo quan điểm chính trị cứng nhắc và thiển cận, việc vớt vát lại những mảnh ghép quá khứ gặp rất nhiều khó khăn. Muộn còn hơn không, vẫn còn đó những “báu vật quốc gia”: những nghệ nhân âm thầm gìn giữ câu ca ngón đàn và những ký ức quý giá về di sản âm nhạc của tổ tiên.
Hơn 10 năm cuối thế kỷ có điều kiện tiếp cận thế giới bên ngoài, giới nhạc cùng các nhà quản lý văn hóa nghệ thuật đã gắng gỏi vượt qua những lúng túng trong quá trình chuyển đổi cả về nhận thức và thực tiễn, làm quen dần với xu thế chung, đặc biệt là tiếp cận kỹ thuật công nghệ thông tin, tạo bước đệm cho sự hòa nhập thế giới đầu thế kỷ XXI.
26 năm đầu thế kỷ XXI
Đây là thời kỳ thực sự chuyển mình để hướng tới tính đa dạng trong sáng tạo nghệ thuật và thưởng thức âm nhạc thông qua các nguồn: phục hồi những giá trị cũ mai một, phát triển những cái đang thịnh hành, đón nhận những cái mới từ thế giới bên ngoài.
Về nhạc cổ
Nhận thức được vốn cổ là cội nguồn cho bản sắc dân tộc, Nhà nước đã có những chính sách mới và động thái tích cực: tổ chức liên tiếp các cuộc liên hoan, hội nghị, hội thảo quốc gia và quốc tế về nhạc cổ; huy động các nhà khoa học tiến hành kiểm kê tài sản, đề xuất chuyển đổi chức năng sử dụng và truyền dạy; tiến hành các dự án lập hồ sơ di sản quốc gia và di sản nhân loại...
Sự chuyển đổi về nhận thức trong bảo tồn vốn cổ là cơ sở hòa nhập thế giới, giúp ta chứng minh một cách thuyết phục giá trị văn hóa nghệ thuật, cách thức trình diễn, phương pháp truyền dạy và sức sống của các loại hình nhạc cổ trong đời sống đương đại. Trong vòng chưa tới hai chục năm, Việt Nam đã được UNESCO phê duyệt hồ sơ, tôn vinh 10 loại hình nhạc cổ là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại: Nhã nhạc cung đình Huế (2003), không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên (2005), quan họ Bắc Ninh (2009), ca trù (2009), hát xoan Phú Thọ (2011), đờn ca tài tử Nam bộ (2011), dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh (2014), bài chòi Trung bộ (2017), hát then vùng núi phía Bắc (2019), nghệ thuật xòe Thái (2021). Danh sách này chắc chắn còn được bổ sung nếu ta thực hiện đúng cách trong công tác bảo tồn và quảng bá các loại hình nhạc cổ khác.
Thế nào là đúng cách, là hợp lý hợp tình để bảo vệ những giá trị vĩnh hằng của vốn cổ trong thời đại mới? Thực tế không hề dễ dàng, bởi vẫn có những cách nghĩ và cách làm khác nhau giữa các nhà quản lý với giới nhạc, thậm chí giữa các nhà lý luận âm nhạc với nhau. Những bất đồng có thể dẫn đến những bất ổn và bất cập trong hiệu quả thực hành. Thôi thì cứ mạnh ai nấy làm! Thoạt nhìn có vẻ trăm hoa đua nở trong quá trình chuyển đổi chức năng sử dụng vốn cổ, góp thêm vẻ đa dạng cho sinh hoạt ca nhạc. Song hồn cốt cổ truyền đang phai dần khi nhiều hình thức nghệ thuật trình diễn trong thực hành tín ngưỡng, lễ hội hoặc lao động luôn bị bứt ra khỏi không gian đặc thù để đưa lên sân khấu và tới các tụ điểm du lịch một cách bất cẩn. Vẻ đẹp độc đáo ngàn đời đang biến dạng trong những cố gắng hiện đại hóa cách thức trình diễn nhằm đáp ứng mục tiêu thương mại. Loại hình dân ca cổ xưa nhất từ thời Hùng Vương là xoan được ép duyên với chèo để đẻ ra sản phẩm đột biến gen có tên là “xoan mới”. Dàn nhạc cung đình Huế không ít lần được làm mới theo kiểu “giao hưởng hóa” và “nhạc nhẹ hóa”. Dàn cồng chiêng Tây Nguyên được khuếch trương lên tới hàng trăm người… Những hiện tượng tương tự thế cũng diễn ra với các loại hình nhạc cổ khác.
Rất nhiều thách thức trong bảo tồn vốn cổ, kể cả các loại hình đã được ghi danh di sản nhân loại hoặc quốc gia. Rất nhiều nỗi lo trong hiện trạng quá thiếu vắng đội ngũ nghiên cứu dân tộc nhạc học, thiếu các chuyên gia không những am hiểu sâu sắc về giá trị nghệ thuật nhạc cổ, mà còn đủ kinh nghiệm thực tiễn và tri thức khoa học về công tác bảo tồn - phát huy thông qua truyền dạy, giáo dục, quảng bá di sản.
Về nhạc mới, trước hết phải dành lời cho loại hình mang trọng trách đại diện cho nhạc mới Việt Nam trên diễn đàn quốc tế, đó là khí nhạc. Nổi bật ở giai đoạn này là tính đa dạng và xu hướng hội nhập thế giới về mọi mặt: sáng tác, biểu diễn, nghiên cứu và đào tạo. Sự hợp tác quốc tế mở rộng chưa từng có. Nghệ sĩ, nhạc sĩ và tác phẩm nội xuất ngoại, cũng như ngoại nhập nội không còn hiếm hoi. Đào tạo chuyên nghiệp được ghi nhận bằng các giải thưởng quốc tế của thế hệ trẻ. Các cuộc Liên hoan Âm nhạc mới Á - Âu đã góp phần ghi danh khí nhạc Việt Nam trên bản đồ âm nhạc chuyên nghiệp thế giới. Từ hai chục năm nay Viện Âm nhạc - tổ chức nghiên cứu âm nhạc lớn nhất Việt Nam đã là thành viên chính thức của Hội đồng Âm nhạc truyền thống quốc tế (ICTM), đã xuất bản nhiều ấn phẩm chuyên khảo nghiên cứu có giá trị lịch sử và khoa học.
Tinh thần hội nhập quốc tế là chất xúc tác cho sự phát triển đa dạng của khí nhạc, cũng như nhạc mới nói chung. Mặc dù các thể loại nhỏ gọn phù hợp xu thế thời đại được lựa chọn nhiều hơn, thì vẫn có sự đầu tư sáng tạo trong thể loại lớn. Cùng với sự trở lại của nhạc kịch (opera) quy mô và học thuật là hàng loạt kịch hát giải trí nhẹ nhàng (theo phong cách Broadway) dễ tiếp cận công chúng hơn.
Ngôn ngữ biểu hiện không còn chỉ giới hạn trong khuôn khổ giao hưởng thính phòng cổ điển, mà mở rộng tìm tòi theo các xu hướng nhạc hiện đại, nhạc điện tử, nhạc đương đại, nhạc thể nghiệm... Bên cạnh việc tiếp nhận phương thức biểu hiện của nhạc cổ điển thế giới và kế thừa hồn cốt Việt trong nhạc cổ truyền kết hợp với tư duy hiện đại, một số nhà soạn nhạc trẻ còn sử dụng kỹ thuật sáng tác và trình diễn phi truyền thống, pha trộn âm sắc nhạc cụ với âm thanh điện tử và cả tiếng động đơn thuần, tự do phá cách và ngẫu hứng trong không gian mở, kết hợp âm nhạc với hiệu ứng hình ảnh, ngôn ngữ hình thể và nghệ thuật sắp đặt…
Càng phá cách, càng rời xa truyền thống, càng kén người nghe. Không riêng nhạc đương đại và nhạc thể nghiệm quá ít khán giả, mà cả khí nhạc trong khuôn khổ truyền thống vẫn chỉ dành cho giới chuyên môn và thính giả có “gu” thưởng thức cao. Khí nhạc chưa thể có vị thế xứng đáng trong đời sống văn hóa nghệ thuật, bởi còn tồn đọng nhiều bài toán chưa được giới nhạc chuyên nghiệp và các nhà quản lý thực sự lưu tâm giải đáp.
Liệu chúng ta có dám đầu tư thích đáng để khích lệ sáng tạo và dàn dựng tác phẩm khí nhạc chuyên nghiệp? Vì đâu mà chất lượng biểu diễn ở ta dù đã nâng cao vẫn chưa thoát khỏi nguy cơ tụt hạng trước tốc độ tiến bộ quá nhanh của các nước châu Á? Làm sao để âm nhạc Việt Nam phát triển cân đối giữa khí nhạc với thanh nhạc, cũng như giữa ca khúc nghệ thuật với ca khúc phổ thông, giữa tác phẩm chính thống với ca nhạc giải trí? Lại lần nữa những “câu hỏi treo” về hiện trạng mất cân đối cho thấy lý luận phê bình âm nhạc chuyên nghiệp chưa thực sự nhập cuộc hoặc chưa có điều kiện thể hiện vai trò tham mưu cho các nhà quản lý.

MV “Bắc Bling” của ca sĩ Hòa Minzy là một sản phẩm âm nhạc được sáng tạo pha trộn giữa chất liệu hiện đại và dân gian.
Những điều đáng băn khoăn còn nhiều hơn trong lĩnh vực nhạc giải trí là nơi các cây bút báo chí gần như hoàn toàn thay thế phê bình âm nhạc chuyên nghiệp. Nói theo góc độ chủ quan, giới chuyên môn gần như tình nguyện đứng ngoài cuộc, còn nhìn từ góc độ khách quan thì rõ ràng họ bị gạt ra ngoài lề thị trường âm nhạc.
Với giới truyền thông và công chúng, thể loại ca khúc phổ thông được coi là đại diện duy nhất của nhạc mới với danh xưng “nhạc Việt”. Không ít bài hát sinh ra từ các cuộc thi ca khúc theo chủ đề hay các phong trào vận động sáng tác theo định hướng. Song những ca khúc theo con đường chính thống kiểu đó, kể cả những bài đoạt giải chưa chắc được công chúng biết đến và rất khó đi vào đời sống xã hội. Dường như công chúng, nhất là giới trẻ có cách lựa chọn khác. Họ đón nhận nhạc thịnh hành với những “hit, hot” liên tiếp thay nhau chiếm lĩnh các bảng xếp hạng tạo nên dòng chảy không ngừng của thị trường ca nhạc.
Có thể thấy gì ở thị trường ca nhạc có vẻ đa dạng này?
Tốc độ phủ sóng internet và công nghệ thông tin luôn cập nhật cho nhạc nội những hình mẫu từ thế giới bên ngoài, đưa các sản phẩm nhạc nội đến gần nhạc ngoại thông qua các yếu tố toàn cầu. Đáp ứng nhu cầu thưởng thức của giới trẻ, không ít bản sao rập khuôn từ giai điệu đến ngoại hình và vũ đạo của ca nhạc ngoại quốc, đặc biệt là K-pop. Chỉ mấy năm gần đây bắt đầu có vài MV chuyển hướng sử dụng yếu tố dân gian Việt Nam đã gây ấn tượng không nhỏ cho công chúng trẻ.
Từ pop-rock, giới trẻ nhanh chóng bắt nhịp với R&B, ballad, jaz, hiphop, rap, acoustic…; tiếp đến indie, mainstream, underground… Công nghệ đã thay đổi cách làm nhạc và nghe nhạc, từ analog sang digital, từ CD sang nhạc số (chuyển tải bằng định dạng MP3 hoặc WAV), rồi tới streaming (trực tuyến). Cách quảng bá và thưởng thức sản phẩm âm nhạc không còn giới hạn ở các phương tiện phát thanh truyền hình, mà thêm nhiều lựa chọn đến choáng ngợp trên các nền tảng số, từ miễn phí: YouTube, Zing MP3, Nhaccuatui… đến doanh thu: Spotify, Apple Music…
Sự phát triển công nghệ và truyền thông số tạo điều kiện cho nhạc sĩ và ca sĩ tự quảng bá sản phẩm, kiếm tiền trực tuyến không qua hệ thống phân phối truyền thống. Hình mẫu tổng hợp ca nhạc sĩ tự tung tự tác khá phổ biến trong quy trình độc lập: tự trình bày sáng tác của mình, tự sản xuất và phát hành chương trình hoặc MV, tự quảng cáo sản phẩm qua tương tác trực tiếp với đối tượng thưởng thức trên các nền tảng mạng xã hội (Youtube, Facebook, Tiktok) hoặc các cuộc họp mặt ngoại tuyến với fan-group. Vai trò mạng xã hội trở nên quan trọng trong sinh hoạt ca nhạc. Không chỉ các idol ảnh hưởng đến thị hiếu giới trẻ, mà cộng đồng mạng cũng có thể chi phối sự nghiệp của những người nổi tiếng, biến nghệ sĩ từ vô danh bỗng chốc trở thành hiện tượng và ngược lại. Các nhóm fan hoặc anti-fan tác động nhiều chiều cả tích cực lẫn tiêu cực đến các thần tượng của họ.

Theo đuổi dòng nhạc kết hợp truyền thống với điện tử bắt tai là "thương hiệu" riêng gắn liền với Hoàng Thùy Linh nhiều năm nay.
Hoạt động âm nhạc khởi sắc hơn còn nhờ sự có mặt của các tập đoàn tư nhân và các công ty giải trí tư nhân trong đào tạo và quản lý ca nhạc sĩ, trong sản xuất chương trình và quảng bá sản phẩm ca nhạc. Không chỉ trên các nền tảng số và sân khấu liveshow có được sự sôi động, các chương trình truyền hình thực tế về âm nhạc cũng thu hút đông đảo người xem, khuấy đảo nhất là mấy chương trình dài kỳ “anh trai”, “chị đẹp” gần đây. Trước sự cổ vũ cuồng nhiệt của công chúng, các nhà sản xuất liên tiếp tổ chức sự kiện với hàng loạt live concert “ăn theo” chương trình.
Môi trường và điều kiện làm nhạc nghe nhạc rộng mở giúp đời sống âm nhạc phong phú chưa từng thấy, nhưng cũng nảy sinh lắm hiện tượng gây tranh cãi liên quan đến đạo đức nghề nghiệp và giá trị sản phẩm. Ca sĩ hát nhép để che bớt khiếm khuyết giọng hát, dùng trang phục gây sốc để thu hút người xem, dựng scandal để quảng bá tên tuổi. Nhạc sĩ lạm dụng công nghệ điện tử, dựa vào hòa âm bản beat có sẵn để viết giai điệu, sao chép ý tưởng hoặc đạo nhạc của người khác, vi phạm bản quyền cả nhạc nội lẫn nhạc ngoại ngày càng tinh vi hơn. Các tiktoker lan truyền âm nhạc theo kiểu cắt xén, thậm chí chế lại lời với nội dung nhảm nhí, làm mất đi tính vẹn toàn và giảm giá trị nghệ thuật của tác phẩm. AI bắt đầu được sử dụng như một công cụ sáng tạo trong khi chưa có luật bản quyền về trí tuệ nhân tạo, nên khó tránh khỏi những chiêu trò gian lận như dùng sản phẩm AI dự thi sáng tác ca khúc.
Tất cả những điều kể trên, từ những hiện tượng mang tính tự phát ở thế hệ trẻ, cũng như những hoạt động có tổ chức nhằm xã hội hóa âm nhạc đến các mặt trái trong sinh hoạt ca nhạc đều được bàn luận sôi nổi trên mạng, song gần như chẳng liên quan gì đến giới lý luận âm nhạc chuyên nghiệp. Có thể vì nhạc đại chúng không thuộc mối quan tâm của các nhà chuyên môn, cũng có thể vì ở mảng này chẳng ai cần đến họ, đến cách nhìn nặng về học thuật hoàn toàn xa lạ với công chúng. Khoảng cách giữa nhạc giải trí với lý luận âm nhạc chuyên nghiệp quá lớn, quá khó để vượt qua.
Thực tế vẫn có những cảnh báo về chất lượng nghệ thuật và bản lĩnh sáng tạo từ các nhà chuyên môn, nhưng vài tiếng nói đơn lẻ còn xa mới đạt được hiệu quả mong muốn. Kể cả khi lý luận phê bình âm nhạc chuyên nghiệp vào cuộc cũng chưa chắc làm nên chuyện nếu như thiếu sự liên kết chặt chẽ với các lĩnh vực liên quan: báo chí truyền thông, công nghệ IT, giáo dục phổ thông… Có được bản lĩnh nghề nghiệp và chất lượng nghệ thuật hay không còn tùy thuộc vào quá trình giáo dục đào tạo và mặt bằng dân trí, vào môi trường văn hóa hướng thiện và nhân văn. Còn nữa, để cân bằng giữa quyền tự do sáng tạo (chủ thể) và môi trường sáng tạo (khách quan), giữa bản lĩnh làm nghề (cái tôi) và thị hiếu đại chúng (cái chung), giữa giá trị nghệ thuật và mục tiêu kinh doanh chắc chắn không thể thiếu sự hợp tác thiện chí giữa những người hoạt động âm nhạc với các doanh nghiệp ngành giải trí.
Đã nói đến sự liên kết làm nên sức mạnh tổng lực thì vai trò quyết định cuối cùng vẫn nằm trong tay các nhà chức trách. Sự tương tác giữa các chuyên ngành, trong đó có lý luận phê bình trong công cuộc phát triển âm nhạc Việt Nam thời đại mới có hiệu quả đến đâu còn phụ thuộc vào tài quản lý và chính sách văn hóa nghệ thuật, vào tầm nhìn và cái tâm của những người đứng mũi chịu sào lái con thuyền mang tên đất nước hướng tới tương lai.

Có thể khẳng định, những tác phẩm âm nhạc về chủ đề lực lượng vũ trang, đặc biệt trong thời kỳ chiến tranh, không...
Bình luận