Kỷ niệm một thời đi chăn bò rất “tự nhiên” và rất “làng”

Hồi những năm 50 của thế kỷ trước, nhà tôi nuôi hai con bò. Một con bò đực một con bò cái. Làng tôi ít nhà nuôi trâu. Chỉ có vài nhà giàu nhất làng họ nuôi trâu mà thôi. Trâu tuy cày khoẻ, nhưng nuôi trâu vất vả hơn nuôi bò, mua trâu đắt hơn mua bò. Phải có chuồng rộng, phải có nhiều rơm, nhiều cỏ cho trâu ăn… Nuôi bò là để cày ruộng. Nông dân làng tôi hồi đó không có khái niệm nuôi bò thịt. Người ta chỉ làm thịt bò khi con bò đã quá già, quá gầy yếu, không còn cày ruộng được nữa, hoặc những con bò bị đột quỵ do bị “cước” khi giá rét mùa đông.

Bố mẹ tôi giao cho tôi công việc chăn bò hàng ngày. Việc cắt cỏ mẹ tôi giao cho em gái tôi. Cho nên chẳng mấy khi tôi phải đi cắt cỏ. Tôi rất yêu quý đôi bò của mình. Sáng sáng tôi chăm lo quét dọn chuồng bò, chuồng càng sạch thì càng ít ruồi muỗi. Ruồi bò khác ruồi thông thường, chúng hút máu rất kinh khủng, rất hại sức khoẻ của bò. Mùa đông giá rét, bố tôi và tôi lấy gianh (gianh, còn gọi là tranh, làm từ thân rạ cây lúa - nhà tranh, vách đất) che chắn quanh chuồng để chống rét cho bò. Khi gió mùa đông bắc tràn về, trời giá lạnh, tôi thường khoác áo tơi lên lưng hai con bò khi dắt chúng ra bãi cỏ đi chăn.

Hồi đó, khi chưa có hợp tác xã nông nghiệp, trên cánh đồng làng tôi có rất nhiều bãi rậm hoang vu, cây cỏ mọc um tùm, hoặc những bãi tha ma lâu đời, nơi cỏ mọc xanh rì. Đó chính là những cồn, những bãi cỏ cho chúng tôi chăn thả. Ngoài việc lo cho bò no cỏ, tôi còn phải trông coi để bò nhà tôi không ăn lúa của nhà khác. Những bãi chăn thả trên cánh đồng làng tôi đều có hàng rào xương rồng hoặc dứa dại bao quanh. Nhưng lợi dụng khi tôi mải chơi, nhiều khi bò liều mạng nhảy qua bờ rào, ra ngoài ruộng ăn lúa của người ta. Bò rất thích ăn lúa non, nhất là lúa đang thì con gái, vừa ngon vừa chóng no bụng. Mỗi lần để bò ăn lúa là một lần tôi bị mẹ mắng, vì mẹ tôi sẽ gặp phiền toái với chủ ruộng. Nếu đám lúa bị bò ăn không thể mọc lại được nữa thì đến vụ gặt nhà tôi phải đền thóc cho gia chủ, nhiều ít tuỳ mức thiệt hại, còn nếu đám lúa này có khả năng mọc lại thì mẹ tôi có bổn phận vãi phân chuồng, chăm bón cho đám lúa này tốt tươi trở lại. Tôi vẫn còn nhớ như in tên gọi những cồn, những bãi rậm, những bãi tha ma, nói chung là những bãi chăn thả, nơi tôi và các bạn tôi chăn bò hàng ngày: Mả Nạy, Mả Sải, Nổ Quan, Cồn Tý, Quai, Căng Ban…

Kỷ niệm một thời đi chăn bò rất “tự nhiên” và rất “làng” - 1

Minh họa: Ngô Xuân Khôi

Như tôi đã nói ở trên, những bãi tôi chăn bò thường là những bãi rậm cỏ, rậm cây, cây cối mọc thành từng khóm, từng bụi, cao không quá đầu người. Những bụi rậm này là nơi chúng tôi chui vào tránh nắng khi mặt trời lên cao. Đây cũng là nguồn cung cấp cái ăn cho lũ trẻ chăn trâu chúng tôi vốn lúc nào cũng đói bụng. Tôi xin kể các bạn nghe những loại lá, cây, củ, quả… mà tôi cùng lũ trẻ chăn bò làng tôi thường tìm kiếm để ăn khi đói và những gì chúng tôi thường làm khi chăn bò.

*

Cây sim, cây mua

Cây sim, cây mua mọc thành từng bụi nhỏ, tản mát khắp bãi chăn trâu, chăn bò, hoa tím rực nở dưới nắng hè, chẳng khác gì một vườn hoa, trông rất đẹp mắt. Hoa mua và hoa sim cùng có màu tím na ná như nhau. Nhìn từ xa khó phân biệt. Lá mua có nhiều lông, còn lá sim trơn nhẵn như lá chè. Quả sim có màu tím đậm khi chín, vỏ quả mỏng và mọng, ăn ngọt và thơm đặc trưng, là món ăn tuyệt hảo cho lũ mục đồng chúng tôi. Hôm nào sim chín rộ, chúng tôi ăn thoả thích, ăn no bụng, miệng đứa nào cũng tím ngắt màu sim. Lại còn hái cho đầy hai túi áo mang về nhà. Bãi chăn bò có tên là Quai, ở gần mạn cuối làng, là nơi có nhiều sim nhất. Được gọi là đồi sim.

Quả mua chúng tôi không ăn. Nhưng ngọn cây mua thì chúng tôi ăn. Ngắt một đoạn ngọn cây mua, càng mập càng tốt, dài chừng 7-10cm, dùng đầu móng tay nhẹ nhàng bóc lớp vỏ của đoạn cây này rồi cho vào miệng nhai. Ngọn mua có vị chua dôn dốt, ăn cũng thấy thú vị, nhưng hiệu quả không cao, vì khối lượng không đáng kể. Tuy nhiên, chăn bò lúc gần trưa, đói, chẳng có gì cho vào bụng, thì chúng tôi ăn tuốt.

Quả mâm xôi 

Quả mâm xôi có màu đỏ tươi, chín mọng, nhiều múi tròn nhỏ bên ngoài, ăn ngọt và mát, là thứ quả tôi thích. Cây mâm xôi thường mọc lẫn với các loài cây khác trong bụi rậm, có gai nhỏ, cho nên tôi phải cẩn thận khi thò tay vào trong bụi hái thứ quả này. Viết đến đây tôi sực nhớ, hồi học ở Ba Lan, tôi về nông thôn đi thực tập, bỗng nhiên tôi phát hiện thấy trên cánh đồng nước bạn có bụi mâm xôi, quả chín đỏ, tôi bèn hái ăn, ngon và ngọt y hệt quả mâm xôi tôi ăn hồi đi chăn bò ở quê. Tôi trộm nghĩ, phải chăng, “mâm xôi” làng tôi đã “hội nhập” với thế giới, sang tận Ba Lan?!

Ở quê tôi, duối là loài cây mọc khắp mọi nơi, trong làng, ngoài cánh đồng. Cây duối rậm tán, cành đan chéo nhau, lá duối dạng trứng nhọn, mép có răng khía, mặt lá rất ráp (tôi thường dùng lá duối để “chuốt lươn”, làm cho da lươn mất nhớt).

Bờ rào ở làng tôi đa phần là bờ rào duối. Người ta trồng cây duối nọ cạnh cây duối kia, cành lá ken dày được xén tỉa cẩn thận, tạo thành bờ rào duối, đẹp mắt, rất “sinh thái” (ngôn ngữ bây giờ). Tháng giêng tháng hai duối ra hoa, hoa duối năm cánh, nhỏ li ti, màu vàng, phủ kín bờ rào, nom đẹp mắt, dễ chịu, về đêm hoa duối cho ta cảm giác những“ngôi sao xuống đậu”, như nhà thơ Trần Đăng Khoa mô tả:

Vườn xôn xao hoa nở

Năm cánh xòe vàng tươi

Ngôi sao đêm xuống đậu

Mải vui, quên về trời.

Trên cánh đồng làng tôi, tại bãi chăn thả, gọi là Cồn Tý, có ba cây duối già mà các cụ bảo phải tới trăm tuổi, toạ lạc sừng sững trên một gò đất. Đây là ba cây duối “chống đói” của lũ trẻ chăn bò chúng tôi. Trên cây, những cành duối trĩu quả, quả hình trứng, màu hổ phách, nhìn là thèm nhỏ dãi. Tôi trèo lên cây duối, hái từng quả cho vào miệng, nhai, ngọt lịm, sướng bụng. Cái ngọt đặc trưng của quả duối giúp tôi đỡ đói giữa buổi chăn bò, khi mặt trời đang dần dần lên cao. Chẳng những ăn ngay tại chỗ, mà tôi còn nhét đầy hai túi áo nâu những quả duối chín mọng, lại còn bẻ thêm mấy cành sai quả đem “tặng” mấy đứa bạn gái chăn bò không biết leo trèo. Tuy vậy, khi ăn quả duối chín tôi phải canh chừng, chọn những quả còn nguyên lành, nếu không cẩn thận thì dễ ăn phải nọc rắn, khỉ, cũng như tôi, rắn rất ưa thứ quả ngọt này.

Lá chua mắm

Có một thứ lá ăn được mà lũ trẻ chăn bò chúng tôi không bỏ qua khi đói. Đó là lá một loài cây được gọi là cây chua mắm. Cây chua mắm mọc lẫn trong các bụi cây, lá giống lá chè xanh, nhưng to hơn, dày bản hơn. Chỉ cần bứt lá, chùi sạch, cho vào miệng nhai, rồi nuốt cả nước lẫn bã. Lá chua mắm có vị chua, hơi ngọt, lắm khi hữu hiệu, góp phần chống đói cho lũ trẻ chăn bò chúng tôi, cho dù ăn vào có thể bị xót ruột, vì chua. Cây chua mắm có một đặc tính giúp ta dễ phát hiện ra loài cây này. Đó là, vào lúc chiều tối, lúc trời nhá nhem, lá chua mắm toát ra thứ mùi thơm, y như mùi nước mắm (Có lẽ vì vậy mà người ta gọi là chua mắm chăng?).

Quả sữa bò

Quả sữa bò còn gọi là quả vú bò cũng là thứ quả “ngon miệng” khi chúng tôi cần cái ăn. Cây sữa bò thường mọc trong bụi rậm, cao chừng một mét, lá mọc so le, phiến lá chia 3 - 5 thùy, có khía răng cưa. Mặt lá nháp, gân nổi rõ. Hoa mọc ở nách lá. Quả thường có màu xanh lá, khi chín mang màu đỏ tía, nom khá bắt mắt, cắn vào thì nhựa màu trắng sữa chảy ra, chắc vì thế mà người ta gọi là “quả sữa bò”. Quả sữa bò có vị chát như vị quả sung. Mỗi khi ăn quả sữa bò chúng tôi thường nói đùa với nhau: Đi chăn bò, ăn “sữa bò”, mấy thằng “cò” sướng bụng.

Đọt dứa dại

Thậm chí chúng tôi còn ăn cả đọt non cây dứa dại, thứ cây người ta thường trồng chung quanh cồn, bãi, vườn, ruộng, làm bờ rào. Để ăn món đọt non này tôi dùng hai tay nắm chặt mấy lá dứa ngọn, rồi kéo từ từ cho mấy lá này tuột khỏi thân cây dứa, phần dứa non ở cuối lá lòi ra, trắng hếu, mềm, cho vào miệng, cắn đoạn dứa non trắng này mà ăn, nhai kêu rau ráu, mát ruột. Đọt dứa dại ăn hơi ngọt, nhiều nước, chẳng béo bổ gì cho cam, nhưng đói thì phải kiếm cái tống vào bụng để có cảm giác là mình đã được ăn.

Cây bàng và quả bàng

Gần bãi chăn bò của chúng tôi, ngay bên vệ đường, có một cây bàng. Cây bàng này tán xòe rộng, cành nằm ngang, lá bàng to như cánh “quạt tai voi” của Liên Xô ngày trước, xanh trong mùa hè và đỏ lựng trong mùa đông. Đây là cây bàng cực kỳ hữu dụng đối với dân làng tôi. Cây bàng cho bóng mát. Là nơi tránh nắng, nghỉ chân cho người đi làm đồng trong những ngày nắng gắt. Với lũ trẻ chăn bò chúng tôi thì cây bàng này còn hữu dụng nhiều hơn thế. Quả bàng chín mọng màu vàng, cắn ngập răng, vị ngọt chát, là món ăn ưa chuộng của chúng tôi. Có thể ăn no bụng được. Cành bàng vừa dẻo vừa dai, cho nên mỗi khi leo lên cây bàng hái quả tôi thường không thèm leo theo đường gốc cây, mà đu người vào cành bàng là là gần mặt đất, rồi leo dần lên cây như một con khỉ. Mấy bà mấy chị ngồi tránh nắng dưới tán cây bàng trố mắt nhìn, chỉ sợ cành gẫy, tôi bị ngã.

Mà đâu chỉ có vậy. Có hôm tôi còn nằm ngủ trên cây bàng, nằm ngửa trên những cành bàng nằm ngang, đan vào nhau như tấm nan giường. Mấy người lớn sợ tôi bị ngã, quát to, gọi tôi xuống. “Thằng kia, khôn hồn xuống ngay, mày muốn xương tan thịt nát hay sao hả?”. Nhưng tôi đâu có chịu nghe, vì tôi đâu có sợ, vẫn nằm lỳ trên cây. Chỉ “lo bò trắng răng” - tôi thầm nghĩ - còn lâu thằng tôi mới bị ngã nhá.

Nằm ngủ trên cây bàng thì tôi không sợ, nhưng có một thứ trên cây bàng tôi phải sợ, thậm chí rất sợ. Đó là sâu róm. Sâu bàng lông lá xồm xoàm, màu sắc sặc sỡ, nom rất tởm, rất đáng sợ. Hễ trên cây bàng xuất hiện sâu róm là tôi cạch, không dám bén mảng đến đó nữa.

Vải

Hồi trước ven làng tôi có rất nhiều vườn vải. Những vườn vải của nhà ông Khanh Vanh, nhà ông Bạ Gương là những vườn vải to nhất làng. Toàn là những cây vải to cao, cành lá xum xuê. Khi thu hoạch vải quả người ta thường không tránh khỏi để sót. Nhất là những quả vải bị lá trên cành cao che khuất, hoặc những quả vải nằm xa chót vót, chới với tận đầu cành, khó hoặc không thể với tới. Đó chính là những quả vải dành cho tôi “mót”, cho tôi ăn và đem chia cho cả các bạn chăn bò khác. Trong những trường hợp như vậy, tôi leo lên cây, bò ra tận đầu cành, đung đưa người như một con khỉ, với tay hái quả vải bị bỏ sót cho vào túi áo. Rất nguy hiểm, tuột tay là bỏ mạng, chí ít cũng gãy xương. Nhưng tôi không sợ, nói đúng hơn là không biết sợ. Bây giờ nghĩ lại, lắm lúc tôi thấy “tôi” bây giờ phục lăn “tôi” ngày trước.

Mót khoai 

Chúng tôi có thể đi mót khoai, mót lạc (Ngôn ngữ làng tôi – tìm nhặt những củ bị bỏ sót) để ăn. Không bao giờ chúng tôi đào trộm khoai, đào trộm lạc của dân làng, dù bụng đói lép kẹp. Đó là đức tính tốt của lũ trẻ chăn bò hồi đó mà bây giờ nghĩ lại tôi thấy “phục”. Chúng tôi chỉ đi tìm (mót) để ăn những củ khoai củ lạc còn sót lại trên ruộng khi nông dân đã thu hoạch.

Tháng năm là tháng thu hoạch khoai lang ở làng tôi, tháng năm cũng là tháng hay có mưa rào, những trận mưa rào này làm lộ những củ khoai bị bỏ sót còn vùi trong đất. Chúng tôi đi tìm, phát hiện, nhặt khoai, lấy vạt áo lau sơ qua củ khoai cho sạch đất, cho khoai vào miệng ăn sống, miệng nhai kêu rau ráu. Vừa ngon miệng vừa sướng tai. Còn có một cách tìm khoai để “chống đói” nữa, cũng rất hiệu quả. Vài hôm sau khi thu hoạch, những củ khoai còn sót bị vùi trong đất bắt đầu mọc mầm, mầm chui lên mặt đất, và lộ diện, như thể “lạy ông tôi ở bụi này”. Chúng tôi chỉ việc phát hiện, nhổ khoai lên, chùi cho sạch đất, rồi cho vào miệng ăn. Nhai đôm đốp. Khoái khẩu. Sướng.

Mót lạc

Hồi trước làng tôi thường trồng hai giống lạc: lạc ba tháng và lạc sáu tháng. Lạc ba tháng nhanh cho thu hoạch và củ thường kết thành chùm ở ngay dưới gốc, rất dễ thu hoạch. Chỉ cần tóm chặt mấy nhành lạc, kéo mạnh, là toàn bộ cây cùng chùm củ bị lôi lên khỏi mặt đất. Lạc ba tháng ít khi bị sót khi thu hoạch, cho nên lũ trẻ chăn bò chẳng hy vọng gì nhiều. Nhưng lạc sáu tháng thì khác. Lạc sáu tháng với những nhành dài, nom như dây leo, mọc lan toả ra chung quanh gốc một bán kính khá rộng. Nhành lạc, hay dây lạc, lan tỏa rộng đến đâu thì hoa lạc và sau đó là củ lạc cắm sâu xuống đất tới đó.

Khác với lạc ba tháng, lạc sáu tháng cho rất nhiều củ, năng suất cao hơn hẳn so với lạc ba tháng. Do củ lạc cắm sâu dưới đất trong một bán kính rộng tới cả mét, cho nên khi thu hoạch không thể nhổ cây như lạc ba tháng đã nói ở trên. Người ta phải dùng những cái cào nhỏ, quê tôi gọi là “cào lạc” để thu hoạch. Đó là một loại cào, cán dài chừng 50cm, như cán búa đinh, răng cào ngắn chừng 4cm, bằng sắt hay bằng tre già. Người ta dùng loại cào này, cào đất, bới đất chung quanh cây lạc (giống như các nhà khảo cổ đào bới) để phát hiện những củ lạc náu mình trong đất. Tuy vậy vẫn có những củ lạc không bị phát hiện, bị bỏ sót, và đó là những củ lạc cho đám trẻ chăn bò chúng tôi cơ hội “tìm nhặt”.

Phát hiện ra những củ lạc loại này không đơn giản chút nào, rất khó, nếu không muốn nói là không thể phát hiện được chúng trong điều kiện bình thường. Mà phải đợi những trận mưa rào xối xả, mưa đào xới lớp đất bề mặt và làm lộ diện những củ lạc “cứng đầu”. Sau những cơn mưa như vậy chúng tôi rủ nhau đi mót lạc, hay “tìm nhặt” lạc như tôi đã nói. Lạc nhét đầy hai túi. Tha hồ ăn và tha hồ no. Lạc sáu tháng củ thường to hơn lạc ba tháng. Hạt lạc cũng chắc hơn. Đặc biệt, lạc sáu tháng cho nhiều củ ba hạt, điều hiếm gặp ở lạc ba tháng. Hãn hữu có củ lạc ba tháng bốn hạt. Đây được coi là củ lạc dị thường, còn gọi là “củ lạc độc đắc”. Hễ phát hiện được củ lạc độc đắc này là tôi đem giấu kỹ.

Hoa giẻ

Khi chăn bò chẳng những chúng tôi có ối thứ “lộc trời” để ăn, mà còn có nhiều loại “hoa trời” để ngửi, để chơi và để tặng nhau. Có nhiều loài hoa tuy là hoa dại, nhưng vẫn đẹp và kiêu sa, cho chúng tôi món ăn tinh thần. Hoa mua, hoa sim màu tím là những loài hoa như vậy. Tuy nhiên, có một loài hoa đã thành biểu tượng tình yêu đầu đời của tôi. Đó là hoa giẻ.

Giẻ là loài cây leo, lá hình bầu dục, cánh hoa giẻ dài và dày, màu vàng lục, hương thơm rất đặc trưng. Cũng như nhiều loài cây khác, cây giẻ thường mọc trong các bụi rậm. Hoa giẻ khi chín vàng tỏa hương rất thơm, hương thơm rất đặc trưng, nên rất dễ nhận ra. Ngửi thấy mùi thơm của hoa giẻ là biết ngay đâu đó quanh nơi ta đứng có cây hoa giẻ. Tìm là thấy ngay. Để ý các bạn sẽ thấy, hoa giẻ như một cô gái đẹp, khiêm nhường, nép mình sau phiến lá, không lộ diện, không khoe sắc, chỉ lặng lẽ lan toả hương thơm cho đời…

Chúng tôi thường hái hoa giẻ cài vào nón, nhất là bọn con gái, hương thơm hoa giẻ bám theo chúng tôi suốt ngày. Khi không đội nón thì cho hoa giẻ vào túi áo, người đi đâu hương thơm theo người đến đó. Kể cả khi ngủ trên giường. Hoa giẻ cho vào túi áo có thể thơm hai ba ngày liền. Lũ trẻ chăn bò chúng tôi có cả con trai lẫn con gái. Bọn con trai thường tìm hoa giẻ, hái tặng bạn gái của mình. Tôi cũng vậy. Và chính hoa giẻ thời chăn bò ở quê đã cho tôi cái tứ để sáng tác bài thơ Hoa giẻ mà nhạc sĩ Nguyễn Tiến đã phổ nhạc:

“Thuở còn đi chăn trâu

Bốn mùa mặc áo nâu

Tôi thích tìm hoa giẻ

Một loài hoa thơm lâu

Hoa giẻ đượm sắc vàng

Tôi hái hoa tặng nàng

Nàng cài hoa lên tóc

Nàng đẹp tôi ngỡ ngàng

Tóc nàng thơm hoa giẻ

Ngực nàng căng sức trẻ

Lòng tôi đầy xốn xang

Giữa nắng hè chói chang

Nàng cất giọng dịu dàng

Quê mình nhiều hoa giẻ

Nên chúng mình thương nhau

Như trầu vẫn thương cau

Nay chẳng đi chăn trâu

Nay chẳng mặc áo nâu

Về quê tìm hoa giẻ

Hoa ngát thơm vườn nhà

Bóng người không thấy đâu”.

Ngày trước cây giẻ chỉ mọc ở những nơi hoang vu, bờ rào, bãi rậm, bụi rậm, đồi, núi, chẳng mấy ai để ý, trừ lũ trẻ chăn trâu chăn bò. Bây giờ khác, cây giẻ, hoa giẻ đã lên ngôi, đổi đời, trở thành loại cây cảnh được ưa chuộng ngoài Bắc trong Nam, khắp nông thôn thành thị. Người ta lên rừng kiếm tìm những cây hoa giẻ hoang dại, bứng, đem về xuôi trồng, bán cho khách hàng ưa chuộng loài hoa thơm dễ thương này. Tôi thấy vui bụng khi nhận thấy, hoá ra mình là người đã góp phần phát hiện ra cái đẹp khiêm nhường của loài hoa này, thông qua bài thơ Hoa giẻ, bài thơ đong đầy kỉ niệm tình yêu thuở đầu đời của tôi. 

Nón lá và áo tơi

Hồi trước, đi chăn bò chúng tôi toàn đội nón lá và mặc áo tơi. Con trai cũng đội nón. Không bao giờ đội mũ. Có lẽ nón làm bằng lá cọ rẻ tiền hơn mũ, che mưa che nắng tốt hơn mũ. Áo tơi làm bằng lá cọ rất nhẹ và rất tiện dụng. Những người làm nón họ bảo rằng, nón làm bằng lá cọ tuy không đẹp như nón làm bằng lá nón, nhưng lại bền hơn nón làm bằng lá nón.

Khi trời mưa, kể cả mưa rào như trút nước hay giông bão, đầu đội nón lá, người khoác áo tơi che kín mít từ cổ đến chân, đảm bảo không thể bị ướt. Những hôm gió mùa đông bắc, trời lạnh, tôi chọn một góc khuất ở bãi chăn thả, ngồi xuống một mô đất, trùm kín áo tơi quanh người, đậy chiếc nón lá lên trên áo tơi, không còn sợ lạnh nữa. Đi cấy mùa đông mẹ tôi mà mặc áo tơi thì không còn sợ bị gió thổi thốc vào người nữa, kể cả lúc cúi gằm mặt xuống ruộng. Như tôi đã kể, tôi còn khoác áo tơi vào lưng bò để chống rét cho con vật. Thế mới biết áo tơi tiện dụng và hữu dụng như thế nào. Chính hình ảnh áo tơi trên cánh đồng làng đã cho tôi cảm hứng làm bài thơ Áo tơi:

Nhớ ngày tôi mặc áo tơi

Trời mưa như trút em phơi đầu trần

Em thẹn chẳng dám lại gần

Thương em lòng những phân vân với lòng

Tiếng tôi vang giữa cánh đồng

Áo tơi anh có sao không dám nhờ

Lại đây anh đứng anh chờ

Thôi đừng đội gió đội trời dầm mưa

Hai người sánh bước say sưa

Áo tơi chung một giữa trưa ngày hè.

“Ai bảo chăn trâu là khổ”, tôi chăn bò có sướng hay không? Những câu chuyện tôi vừa kể ở trên chắc đã giúp các bạn tự trả lời được câu hỏi này rồi. Tôi sinh năm Nhâm Ngọ (1942 - tuổi Ngọ), năm nay là năm Bính Ngọ (2026), tôi đã 84 tuổi. Đối với tôi, những kỷ niệm về thời đi chăn bò ở quê là những kỷ niệm giàu cảm xúc của tuổi thơ tôi ở một làng quê nghèo xứ Thanh hồi những năm 50 của thế kỷ trước. Đó là thời kỳ tôi sống lam lũ, rất hồn nhiên, rất “tự nhiên” và rất “làng”. Mỗi lần về thăm quê, tôi thường thích kể lại với bố mẹ tôi, các em tôi, các cháu tôi và với bạn bè cùng trang lứa những trải nghiệm của mình, những câu chuyện cũ mà tôi là người trong cuộc - những câu chuyện cũ không bao giờ cũ đối với tôi.

Lê Bá Thự

Ngụm chiều vàng óng
Ngụm chiều vàng óng

Những mùa hè thơ ấu, hôm nào nhìn thấy bóng bà ngoại đi chợ về từ đầu phố, một tay xách làn mây hình tròn có nắp...

Tin liên quan

Tin mới nhất

Đại hội Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam lần thứ VII: Khơi sức sáng tạo từ mạch nguồn văn hóa các dân tộc

Đại hội Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam lần thứ VII: Khơi sức sáng tạo từ mạch nguồn văn hóa các dân tộc

Từ những sắc thái văn hóa riêng có của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền, văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số góp phần làm nên sự phong phú của nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng. Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026–2031 đặt ra yêu cầu vừa gìn giữ bản sắc, vừa khơi dậy sức sáng tạo để nhá»

Góc nhìn nhân sinh quan từ một bài thơ

Góc nhìn nhân sinh quan từ một bài thơ

Trong cõi nhân gian, có hai ý niệm luôn đối đầu gay gắt đó là sự nghiệt ngã của dòng chảy thời gian và khát vọng bất tử của tâm hồn con người. Để đối ngẫu và hóa giải tấn bi kịch ngàn đời ấy, thi ca chính là chiếc cầu nối kỳ diệu nhất. Trên văn đàn xứ Thanh - vùng đất địa linh nhân kiệt với một bề dày truyền thống văn học đáng tự hào, người đọc luôn trân trọng những b

Hà Nội: Tập trung cao độ, hoàn thiện các tuyến Vành đai 1, Vành đai 2,5

Hà Nội: Tập trung cao độ, hoàn thiện các tuyến Vành đai 1, Vành đai 2,5

Cổng TTĐT UBND Thành phố Hà Nội thông tin, chiều 5/10, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Đỗ Anh Tuấn chủ trì cuộc họp nghe báo cáo tiến độ triển khai các dự án: Đường Vành đai 1, đoạn Hoàng Cầu - Voi Phục; dự án bãi đỗ xe - nhà để xe, cây xanh, vườn hoa, khớp nối đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, kiến trúc cảnh quan tại phần dải đất giữa đường Vàn

Chuỗi hoạt động văn hóa, nghệ thuật, du lịch đặc sắc chào mừng 72 năm Ngày Giải phóng Thủ đô

Chuỗi hoạt động văn hóa, nghệ thuật, du lịch đặc sắc chào mừng 72 năm Ngày Giải phóng Thủ đô

Chiều 5/10, tại họp báo thông tin về tình hình kinh tế - xã hội quý III/2026 do UBND thành phố Hà Nội tổ chức, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Thị Mai Hương thông tin về chuỗi hoạt động văn hóa, nghệ thuật, du lịch đặc sắc chào mừng kỷ niệm 72 năm Ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954 - 10/10/2026), Cổng TTĐT UBND Thành phố Hà Nội đưa tin.