Khai thác vốn văn hóa nghệ thuật các dân tộc vùng miền trong sáng tác văn học nghệ thuật

Bản sắc dân tộc – cội nguồn của mọi sáng tạo nghệ thuật

Trong dòng chảy thiên niên kỷ của lịch sử dựng nước và giữ nước, cộng đồng 54 dân tộc anh em trên dải đất hình chữ S đã cùng nhau dệt nên một tấm thảm văn hóa đa sắc màu, phong phú, độc đáo và vô cùng bền chặt. Mỗi một dân tộc, dù định cư nơi đỉnh núi mờ sương phía Bắc, dải đất miền Trung nắng gió, Tây Nguyên hùng vĩ hay bạt ngàn sông nước miền Tây Nam Bộ, đều sở hữu những kho tàng di sản văn hóa phi vật thể và vật thể vô giá. Đó là hệ thống sử thi vĩ đại, những làn điệu dân ca, dân vũ đắm say, những kiến trúc nhà sàn, nhà rông độc đáo, cùng triết lý nhân sinh quan sâu sắc về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên. Đối với nền văn học nghệ thuật  nước nhà, vốn văn hóa nghệ thuật của các dân tộc thiểu số không đơn thuần là những chất liệu trang trí bề ngoài, mà chính là nguồn mạch, là “mỏ vàng” trầm tích màu mỡ, nuôi dưỡng những sáng tạo nghệ thuật đích thực, mang đậm hồn cốt non sông.

Khai thác vốn văn hóa nghệ thuật các dân tộc vùng miền trong sáng tác văn học nghệ thuật - 1

Ảnh minh họa. Nguồn: Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam

Lịch sử phát triển của văn học nghệ thuật Việt Nam thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI đã chứng minh: những tác phẩm chạm được vào dòng chảy mạch ngầm văn hóa dân tộc luôn là những tác phẩm có sức sống bền bỉ nhất. Tuy nhiên, chúng ta đang sống trong một thời đại mà xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang diễn ra với một tốc độ vũ bão. Thế giới phẳng mang lại cơ hội giao lưu tuyệt vời nhưng cũng đi kèm với nguy cơ đồng hóa, hòa tan văn hóa vô cùng khắc nghiệt. Sự xâm nhập của lối sống đô thị, các xu hướng giải trí nghe nhìn hiện đại đang dần đẩy nhiều giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số vào nguy cơ mai một, đứt gãy giữa các thế hệ. Nghệ nhân dân gian – những “bách khoa toàn thư sống” của bản làng – đang ngày một thưa vắng theo quy luật thời gian.

Trước tình hình ấy, câu hỏi đặt ra cho giới văn nghệ sĩ hôm nay không chỉ là viết cái gì, sáng tác cái gì, mà là: Làm thế nào để khai thác một cách khoa học, nhân văn và có chiều sâu vốn văn hóa nghệ thuật của các dân tộc vùng miền, đặc biệt là đề tài dân tộc thiểu số, để biến di sản thành tài sản, biến những giá trị truyền thống thành sức mạnh nội sinh trong các tác phẩm nghệ thuật đương đại? Đây không chỉ là một bài toán về mặt học thuật hay phương pháp sáng tác, mà còn là mệnh lệnh từ trái tim, là trách nhiệm mang tính lịch sử của người nghệ sĩ trước dòng chảy văn hóa của dân tộc.

Thực trạng khai thác đề tài và vốn văn hóa dân tộc thiểu số trong văn học nghệ thuật hiện nay

Nhìn lại chặng đường đã qua, chúng ta không thể phủ nhận những đóng góp to lớn của các thế hệ văn nghệ sĩ trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số thông qua tác phẩm nghệ thuật. Ở mảng văn học, văn xuôi miền núi đã từng có một thời kỳ hoàng kim với những tên tuổi gạo cội như Tô Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Cao Duy Sơn, Ma Văn Kháng... Họ đã mang đến cho văn đàn những trang viết thấm đẫm hơi thở của đại ngàn, từ phong tục tập quán, tiếng nói cho đến tư duy tâm hồn của người Mông, người Tày, người Nùng. Giai đoạn sau này, sự xuất hiện của các nhà thơ, nhà văn chính gốc là người dân tộc thiểu số như Y Phương, Lò Ngân Sủn, Pờ Sảo Mìn, Ka Sô Liễng, Y Điêng... đã đem lại một cái nhìn từ “bên trong”, tự tin tự sự về bản sắc dân tộc mình bằng một thứ ngôn ngữ văn chương vừa hiện đại, vừa ngồn ngộn chất liệu dân gian.

Trong lĩnh vực âm nhạc và nghệ thuật biểu diễn, sự kết hợp giữa chất liệu ngũ cung, nhạc cụ truyền thống như cồng chiêng, đàn T'rưng, khèn Mông với âm nhạc điện tử, rock hay khí nhạc phương Tây đã tạo nên những tiếng vang lớn. Công chúng từng say đắm với những giai điệu Tây Nguyên đầy lửa của Nguyễn Cường, Phó Đức Phương, Trần Tiến, hay gần đây là các nghệ sĩ trẻ say mê tìm tòi lối hòa âm phối khí mới dựa trên làn điệu dân ca các dân tộc phía Bắc, Tây Nguyên.

Khai thác vốn văn hóa nghệ thuật các dân tộc vùng miền trong sáng tác văn học nghệ thuật - 2

Ảnh minh họa. Nguồn: Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam

Ở các mảng nghệ thuật thị giác như hội họa, nhiếp ảnh, điêu khắc, đề tài dân tộc thiểu số luôn là nguồn cảm hứng bất tận. Những bộ trang phục thổ cẩm rực rỡ, những khuôn mặt già làng khắc khổ nhưng kiên cường, nụ cười trong trẻo của trẻ thơ vùng cao dưới ống kính nhiếp ảnh và nét cọ hội họa luôn có một sức hút đặc biệt đối với cả công chúng trong nước và quốc tế. Tất cả những thành tựu ấy chứng minh rằng: vốn văn hóa dân tộc luôn có một hấp lực tự nhiên và mạnh mẽ, chỉ cần người nghệ sĩ biết cách khơi gợi, nó sẽ bùng cháy thành những tác phẩm có giá trị thẩm mỹ cao.

Bên cạnh những mảng sáng, thẳng thắn nhìn nhận vào thực tế sáng tác hiện nay, chúng ta thấy nổi lên không ít những điểm nghẽn và xu hướng đáng lo ngại.

Khuyết điểm lớn nhất trong nhiều sáng tác về đề tài dân tộc thiểu số hiện nay chính là hiện tượng “sân khấu hóa”, “bình dân hóa” hoặc tiếp cận văn hóa một cách hời hợt, mang tính hiếu kỳ, mang tính du lịch. Không ít tác giả khi viết về miền núi, về đồng bào thiểu số chỉ mới dừng lại ở việc miêu tả cảnh quan thiên nhiên kỳ vĩ, liệt kê vài món ăn lạ, mô tả vài bộ trang phục rực rỡ hay giật gân hóa những hủ tục lạc hậu đã lùi xa vào quá khứ. Đó là cái nhìn từ “bên ngoài nhìn vào”, cái nhìn của một khách du lịch “cưỡi ngựa xem hoa” chứ chưa phải là cái nhìn thấu cảm từ bên trong tâm hồn của một tộc người. Đằng sau nhịp điệu của tiếng cồng, tiếng chiêng là cả một hệ thống triết lý nhân sinh quan, một lịch sử sinh tồn đầy gian khổ và thiêng liêng của một tộc người.

Sự thiếu vắng vốn sống thực tế nghiêm trọng ở một bộ phận văn nghệ sĩ trẻ. Nhiều tác giả ngồi trong phòng máy lạnh, tra cứu tư liệu qua mạng Internet rồi nhào nặn ra những tác phẩm văn học có nhân vật nói năng như người thành thị, tư duy như người miền xuôi nhưng lại được khoác lên mình cái tên và bộ trang phục của người vùng cao. Sự giả tạo này làm mất đi tính chân thực – giá trị cốt lõi của văn học nghệ thuật.

Sự khan hiếm và mai một của nguồn chất liệu gốc. Khi các nghệ nhân dân gian qua đời, họ mang theo cả một kho tàng sử thi truyền khẩu, những bí quyết chơi nhạc cụ và những nghi lễ dân gian chưa kịp số hóa hay ghi chép lại. Trong khi đó, giới trẻ sáng tác hiện nay lại đang đối mặt với sự khủng hoảng về phương pháp tiếp cận: hoặc là rập khuôn, nương theo lối mòn cũ kỹ của các thế hệ đi trước dẫn đến sự đơn điệu, xơ cứng; hoặc là nhân danh “cách tân”, “đương đại” để nhào nặn chất liệu truyền thống một cách vô tội vạ, làm biến dạng, méo mó giá trị nguyên bản của văn hóa dân tộc.

Nâng tầm và khai thác chiều sâu vốn văn hóa các dân tộc trong sáng tác văn học nghệ thuật

Để đưa vốn văn hóa các dân tộc vùng miền từ những “quặng thô” trong đời sống trở thành những “viên ngọc quý” trong tác phẩm nghệ thuật, giới văn nghệ sĩ và các cơ quan quản lý cần thực hiện một hệ thống giải pháp đồng bộ, toàn diện, đi từ tư duy sáng tác đến phương pháp thể hiện.

Thay đổi tư duy: Từ “phản ánh bề nổi” đến “thấu cảm chiều sâu”

Giải pháp tiên quyết và mang tính nền tảng nằm ở chính nhận thức và thái độ của người nghệ sĩ đối với văn hóa dân tộc. Văn hóa của một tộc người không phải là một món hàng triển lãm để trưng bày, cũng không phải là thứ trang sức để vay mượn tạm thời. Muốn khai thác thành công, người nghệ sĩ phải chuyển đổi từ vị thế một “người quan sát” sang vị thế một “người trong cuộc”.

Sống cùng, thở cùng, thấu cảm cùng đồng bào: Không có bất kỳ một tư liệu mạng hay sách vở nào có thể thay thế được những trải nghiệm thực tế. Nghệ sĩ phải thực sự “ba cùng” (cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc) với đồng bào. Phải nghe tiếng gió hú qua mái nhà rông, phải ngửi thấy mùi khói bếp sàn, phải uống chén rượu cần bên bếp lửa hồng và lắng nghe những lời tâm sự của những già làng. Chỉ khi người nghệ sĩ cùng khóc, cùng cười, thấu hiểu được những nỗi lo toan cơm áo, những khát vọng tâm linh và cả những góc khuất trong đời sống tinh thần của đồng bào thiểu số, tác phẩm sinh ra mới có được hơi thở nồng nàn của sự sống, mới chạm đến trái tim người đọc.

Đi sâu vào thế giới tâm linh và tư duy triết học dân gian: Mỗi dân tộc đều có một cách giải thích riêng về vũ trụ, về cội nguồn con người và các hiện tượng tự nhiên. Ví dụ, người Tây Nguyên xem rừng là mẹ, là không gian thiêng liêng nơi thần linh (Giàng) ngự trị; người Mông xem cây khèn là cầu nối giữa cõi trần và cõi âm. Khi nắm bắt được những chiều kích tâm linh sâu thẳm này, người nghệ sĩ mới có thể xây dựng được những biểu tượng nghệ thuật đắt giá, nâng tầm tác phẩm từ tính tả thực cơ học lên tầm khái quát triết học sâu sắc.

Nghệ thuật hóa chất liệu truyền thống bằng ngôn ngữ đương đại

Truyền thống không phải là một khối đông cứng, bất biến của quá khứ. Truyền thống là một dòng chảy liên tục, cần phải được tiếp nối và bổ sung bằng những dưỡng chất của thời đại hôm nay. Nếu giữ nguyên xi cổ vật, nó chỉ có vị trí trong bảo tàng; nhưng nếu biết thổi vào đó hơi thở của ngôn ngữ nghệ thuật đương đại, di sản sẽ sống lại mãnh liệt trong lòng công chúng trẻ.

Cách tân hình thức, giữ vững hồn cốt: Người nghệ sĩ có quyền và cần thiết phải sử dụng những phương pháp sáng tác hiện đại, các kỹ thuật tân tiến của phương Tây (như chủ nghĩa hiện thực huyền ảo trong văn học, âm nhạc điện tử, nghệ thuật sắp đặt trong hội họa...) để làm bệ đỡ cho chất liệu dân tộc. Tuy nhiên, mọi sự cách tân phải dựa trên nguyên tắc tôn trọng và hiểu biết sâu sắc giá trị gốc. Sự kết hợp phải diễn ra một cách tự nhiên, tựa như dòng máu hòa vào cơ thể, chứ không phải là sự chắp vá khiên cưỡng. Một bản nhạc phối khí theo phong cách hiện đại nhưng khi vang lên, người nghe vẫn phải nhận ra cái chất hoang dại, khoáng đạt của núi rừng Tây Nguyên; một cuốn tiểu thuyết sử dụng kỹ thuật dòng ý thức nhưng cái lõi tinh thần vẫn là bản lĩnh, nghị lực vượt qua nghịch cảnh của người miền núi.

Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung: Chất liệu dân tộc độc đáo chính là “cái riêng”, nhưng thông điệp của tác phẩm phải hướng tới “cái chung” – tức là những giá trị nhân văn phổ quát của nhân loại: tình yêu thương, lòng vị tha, khát vọng tự do, cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác. Khi một tác phẩm giải quyết được mâu thuẫn này, nó không chỉ có chỗ đứng trong nền văn hóa quốc gia mà còn có cơ hội bước ra thế giới, bởi vì “cái gì càng mang tính dân tộc thì càng mang tính quốc tế”.

Phát huy sức mạnh của tính liên ngành và công nghệ số trong sáng tác

Trong kỷ nguyên số, ranh giới giữa các ngành nghệ thuật ngày càng mờ nhạt. Việc khai thác vốn văn hóa dân tộc thiểu số sẽ đạt hiệu quả tối ưu nếu chúng ta biết kết hợp sức mạnh tổng hợp của tính liên ngành và các thành tựu công nghệ hiện đại.

Sáng tác liên ngành, cộng hưởng nghệ thuật: Văn học có thể cung cấp kịch bản văn học giàu chất liệu cho điện ảnh, sân khấu; hội họa và nhiếp ảnh cung cấp bối cảnh, tạo hình nhân vật; âm nhạc làm thăng hoa cảm xúc. Cần có những dự án nghệ thuật lớn, quy tụ sự tham gia của nhiều chuyên gia văn hóa, nhà nhân học và văn nghệ sĩ thuộc các lĩnh vực khác nhau để tạo ra những tác phẩm tổng lực (như các bộ phim điện ảnh sử thi, các chương trình thực cảnh quy mô lớn về văn hóa vùng miền).

Ứng dụng công nghệ để bảo tồn và tái tạo không gian di sản: Công nghệ thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR) hay các phần mềm xử lý âm thanh, hình ảnh hiện đại hoàn toàn có thể giúp người nghệ sĩ tái dựng lại những không gian văn hóa đã mất hoặc đang mai một (như một lễ hội đâm trâu cổ xưa, một đám cưới của người Dao đỏ...). Đây vừa là nguồn tư liệu tham khảo tuyệt vời cho quá trình sáng tác, vừa là phương thức trực quan sinh động để đưa tác phẩm nghệ thuật đến gần hơn với công chúng trong môi trường số.

Phát huy vai trò của các Hội Văn học nghệ thuật và cơ chế chính sách hỗ trợ

Sáng tạo nghệ thuật là công việc của cá nhân nghệ sĩ, nhưng để định hướng và tạo nên một trào lưu sáng tác bền vững về đề tài dân tộc thiểu số thì vai trò của các tổ chức, đặc biệt là các Hội văn học nghệ thuật địa phương và Trung ương là vô cùng then chốt.

Đổi mới phương thức tổ chức trại sáng tác và thâm nhập thực tế: Cần chấm dứt tình trạng các trại sáng tác tổ chức theo kiểu “du lịch hành chính” ngắn ngày, cưỡi ngựa xem hoa. Thay vào đó, cần thiết kế các chuyến đi thực tế chuyên sâu, dài ngày, đưa nghệ sĩ về cắm bản tại những vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng nơi đồng bào thiểu số sinh sống. Tạo điều kiện để họ trực tiếp tham gia vào các sinh hoạt văn hóa thường nhật của người dân.

Phát hiện, bồi dưỡng các tài năng nghệ thuật là người dân tộc thiểu số: Không ai hiểu văn hóa dân tộc bằng chính người con của bản làng. Các Hội văn học nghệ thuật cần có chiến lược tìm kiếm, đỡ đầu và bồi dưỡng những cây bút, những nghệ sĩ trẻ người dân tộc thiểu số. Họ chính là những người sở hữu chiếc chìa khóa vạn năng để mở cánh cửa vào thế giới tinh thần của dân tộc mình, khi được trang bị thêm kỹ thuật sáng tác hiện đại, họ sẽ là lực lượng chủ lực làm nên diện mạo mới cho văn học nghệ thuật đề tài miền núi.

Chính sách đầu tư trọng điểm và quảng bá tác phẩm: Sáng tác về đề tài dân tộc thiểu số thường đòi hỏi nhiều công sức, thời gian và kinh phí đi lại hơn so với đề tài đô thị. Do đó, Nhà nước và các tổ chức hội cần có quỹ tài trợ riêng, đầu tư trọng điểm cho các dự án dài hơi về văn hóa các dân tộc. Đồng thời, phải có chiến lược dịch thuật, quảng bá các tác phẩm xuất sắc này ra thị trường quốc tế và đưa vào học đường để giáo dục lòng tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ.

Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn không gian văn hóa Tây Nguyên

Để minh chứng cho tính khả thi của các giải pháp trên, chúng ta hãy nhìn vào một ví dụ thực tiễn sinh động và đầy sức thuyết phục: Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên – kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Đây là một vùng đất có hệ thống di sản văn hóa cực kỳ đậm đặc với những sử thi (Ot Ndrong, Đăm Săn) đồ sộ, hệ thống luật tục nghiêm minh và một nền nghệ thuật tạo hình dân gian độc đáo thể hiện qua tượng nhà mồ.

Khai thác vốn văn hóa nghệ thuật các dân tộc vùng miền trong sáng tác văn học nghệ thuật - 3

Ảnh minh họa. Nguồn: Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam

Thực tế lịch sử sáng tác tại vùng đất này đã để lại cho chúng ta những bài học kinh nghiệm xương máu. Những tác phẩm đi cùng năm tháng như tiểu thuyết Đất nước đứng lên, Rừng xà nu của Nguyên Ngọc, hay những bài ca Ngọn lửa cao nguyên của Nguyễn Cường, Đôi mắt Pleiku của Nguyễn Cường... sở dĩ có sức sống mãnh liệt như vậy là bởi vì các tác giả đã thấu cảm sâu sắc cái “khí chất” Tây Nguyên. Nguyên Ngọc không viết về người Ba Na bằng con mắt của một người Kinh từ miền xuôi lên ban phát ánh sáng văn minh; ông viết với tâm thế của một người con được đại ngàn chở che, được đồng bào nuôi giấu, ông kinh ngạc và kính cẩn trước vẻ đẹp tâm hồn thuần khiết, bất khuất của cụ Mết, của anh hùng Núp.

Ngược lại, bài học thất bại cũng rất rõ ràng khi xuất hiện những chương trình biểu diễn nghệ thuật mang danh “phát huy cồng chiêng” nhưng lại mang chiêng ra khỏi không gian bến nước, không gian ngọn lửa nhà rông để đưa lên sân khấu hộp với ánh đèn neon và tiếng nhạc sập sình của dàn trống điện tử. Việc tách rời nhạc cụ khỏi không gian tâm linh thiêng liêng của nó đã biến một nghi lễ hiến tế thần linh thành một tiết mục tạp kỹ tầm thường. Đó chính là bài học đắt giá về việc: khai thác mà không thấu hiểu, cách tân mà không tôn trọng sẽ dẫn đến sự phá hoại di sản văn hóa.

Trách nhiệm và khát vọng của người nghệ sĩ

Nhìn một cách tổng thể, vốn văn hóa nghệ thuật của các dân tộc vùng miền nói chung và dân tộc thiểu số nói riêng chính là phần rễ sâu bám chặt vào lòng đất mẹ của cây đại thụ văn học nghệ thuật Việt Nam. Rễ có sâu, có hút được những dòng mạch tinh túy của lòng đất thì cành lá mới xanh tươi, hoa trái mới ngọt ngào và cây mới vững vàng trước những cơn bão giông của thời đại toàn cầu hóa. Khai thác vốn văn hóa dân tộc trong sáng tác nghệ thuật không phải là việc quay lưng lại với hiện đại, không phải là sự hoài cổ một cách mù quáng. Đó là hành trình tìm về bản ngã, tìm về cái gốc nhân bản nhất để từ đó làm bàn đạp hướng tới tương lai. Mỗi tác phẩm nghệ thuật thành công sẽ là một cột mốc chủ quyền văn hóa vững chãi, khẳng định sự tồn tại độc lập, tự chủ và giàu bản sắc của quốc gia trên bản đồ văn hóa thế giới. 

Hành trình ấy đòi hỏi người nghệ sĩ phải có một tình yêu lớn, một sự kiên trì bền bỉ, một vốn tri thức uyên bác và trên hết là một tấm lòng chân thành với đồng bào. Hy vọng rằng, với sự chuyển mình trong tư duy sáng tác, sự hỗ trợ kịp thời của các cơ chế chính sách và ngọn lửa đam mê luôn rực cháy trong tim giới văn nghệ sĩ, chúng ta sẽ được đón nhận thêm nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật đỉnh cao về đề tài dân tộc thiểu số – những tác phẩm không chỉ mang hơi thở của đại ngàn mà còn mang tầm vóc của thời đại, góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn hóa tinh thần của dân tộc Việt Nam vĩ đại.

Trần Ngọc Trác

Tin liên quan

Tin mới nhất

Lịch thi đấu tennis Paris Masters 2026 mới nhất

Lịch thi đấu tennis Paris Masters 2026 mới nhất

Paris Masters 2026 diễn ra từ ngày 2/11 tại La Défense Arena, Paris (Pháp), trên mặt sân cứng trong nhà. Giải ATP Masters 1000 quy tụ nhiều ngôi sao hàng đầu, hứa hẹn những cuộc đua hấp dẫn tới chức vô địch.