Hình tượng người lính biên phòng trong ca khúc Việt Nam hiện đại
Lịch sử Việt Nam thế kỷ XX gắn liền với những cuộc chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Sau hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp và chống Mỹ lại đến chiến tranh biên giới phía Bắc và chiến tranh biên giới Tây Nam. Những người lính, vì thế, có thể nói đã trở thành một trong những đề tài quan trọng của nền văn học nghệ thuật nước nhà. Trong số các sáng tác về người lính, có một bộ phận không nhỏ những ca khúc viết về người chiến sĩ biên phòng, một quân chủng vô cùng quan trọng cấu thành nên Quân đội nhân dân Việt Nam. Đó là lực lượng nòng cốt luôn túc trực nơi tuyến đầu, bảo vệ toàn bộ khu vực biên giới quốc gia và bờ biển trên cả nước.
1. Ngay từ kháng chiến chống Mỹ, người lính miền biên giới đã đi vào ca khúc Đêm trên Cha Lo của nhạc sĩ Phạm Tuyên: “Đêm nay ta về bên nhau vui tin thắng trận miền Nam. Biên giới sáng trong niềm vui mới vang vọng tiếng đoàn xe qua… Em có thấy góc trời biên giới như rực ánh hồng chân mây”. Khẩu hiệu của người lính biên phòng cũng được nhạc sĩ khéo léo đưa vào ca từ bài hát một cách rất mềm mại tự nhiên: “Biên giới cũng như quê hương. Đồn là nhà lòng dân mến thương”.

Ảnh minh họa/TTXVN
Nhưng có lẽ phải sang tới thời kỳ chiến tranh biên giới phía Bắc thì những tác phẩm viết về người chiến sĩ biên phòng mới nở rộ và tràn ngập. Vẫn là nhạc sĩ Phạm Tuyên, khi tiếng súng biên giới đầu tiên nổ ra, ông đã nhanh chóng viết ngay bài hát Chiến đấu cho độc lập tự do vào đêm 17/2/1979 và được dàn hợp xướng Đài Tiếng nói Việt Nam tổ chức thu thanh ngay sau đó. Ca khúc được xem là tác phẩm mở đầu cho dòng nhạc biên giới phía Bắc: “Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới/ Gọi toàn dân ta vào cuộc chiến đấu mới/ Quân xâm lược bành trướng dã man/ Đã giày xéo mảnh đất tiền phương/ Lửa đã cháy và máu đã đổ trên khắp dải biên cương”.
Nhạc sĩ Phạm Tuyên không chỉ viết một bài mà ông có cả một chùm ca khúc về cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc. Ngoài bài hát Chiến đấu cho độc lập tự do, còn phải kể đến ca khúc Chúng tôi là đồng đội của Lê Đình Chinh, viết về người chiến sĩ đầu tiên hy sinh trong chiến tranh biên giới.
Hình tượng người chiến sĩ hiện lên hào hùng quả cảm, luôn sẵn sàng băng mình lên tuyến đầu để bảo vệ quê hương: “Chúng tôi là đồng đội của Lê Đình Chinh/ Nghe đất nước gọi như tiếng gọi của chính mình/ Tuổi thanh xuân anh đẹp sao/ Vì Tổ quốc hiến dâng dòng máu/ Nguyện theo anh thề lập chiến công đầu/ Vì hòa bình ta không ngơi tay súng/ Từ trong đạn lửa bão bùng/ Chúng tôi thành những anh hùng Việt Nam”.
Cũng trong tháng 2/1979, nhà thơ Dương Soái khi ấy là phóng viên của Đài phát thanh Hoàng Liên Sơn được cử lên mặt trận để nắm bắt và phản ánh tình hình kịp thời. Chứng kiến sự hy sinh và lòng dũng cảm vô song của các chiến sĩ, nhận lời chuyển nhiều bức thư của những người lính về cho gia đình, Dương Soái đã có một phát hiện thú vị rằng các địa chỉ nhận thư đều nằm dọc con sông Hồng. Bài thơ Gửi em ở cuối sông Hồng đã nhanh chóng được ra đời: “Anh ở Lào Cai/ Nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt/ Tháng Hai, mùa này con nước/ Lắng phù sa in bóng đôi bờ”…
Bài thơ gồm 8 khổ với 32 câu thơ cứ thế trải ra như tâm sự của người lính với hậu phương, với người con gái mình yêu thương. Đó có thể là người vợ tảo tần, đó có thể là người yêu đang chờ đợi. Tình yêu ấy tiếp thêm sức mạnh cho các anh để chiến đấu và chiến thắng: “Biết là em năm ngóng tháng chờ/ Cứ chiều chiều ra sông gánh nước/ Nên ngày ngày cùng bạn bè trên chốt/ Anh lại xuống sông Hồng cho thỏa nỗi em mong/…Nhưng thơ ngây đâu còn ở chúng mình/ Khi tổ quốc trao anh lên tuyến đầu chặn giặc/ Khi biên cương trong anh đã trở thành máu thịt/ Đạn lên nòng anh giữ ngọn nguồn sông”.
Một năm sau khi bài thơ ra đời, nhạc sĩ Thuận Yến đã phổ bài thơ thành ca khúc cùng tên nổi tiếng. Ông đổi chữ Lào Cai mở đầu tác phẩm thành “biên cương” cho nâng tầm khái quát và viết thêm lời để tác phẩm có thể được trình diễn song ca nam nữ như một sự đối đáp: “Em ở phương xa, nơi con sông Hồng chảy về với biển/ Ở trên anh đầu nguồn biên giới, cuối dòng sông nơi ấy quê nhà/ Em ở phương xa, cách mười sông ba núi bốn đèo/ Cứ chiều chiều ra sông gánh nước/ Đem lòng mình gửi về miền biên giới/ Sông chẳng nói nên lời nhưng nặng tình yêu thương”.
Bài hát được ký âm ở giọng Đô thứ mềm mại, tâm tình, thiết tha như một khúc giao duyên đằm thắm. Ca khúc nhanh chóng được lan tỏa và đón nhận nhiệt liệt, thường xuyên vang lên trên làn sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam. 20 năm sau ngày ca khúc ra đời, năm 1999, tác phẩm được Bộ Tư lệnh biên phòng trao giải thưởng “Bài hát được các chiến sĩ bộ đội biên phòng bình chọn là hay nhất”.
***
2. Mối lương duyên từ thơ đến nhạc trong đề tài biên giới và người lính còn được tiếp tục với bài thơ Chiều biên giới của nhà thơ Lò Ngân Sủn và ca khúc cùng tên của nhạc sĩ Trần Chung.
Ra đời năm 1980, bài thơ được viết theo thể 5 chữ chia làm 6 khổ với 35 câu thơ. Vẫn là tình yêu đôi lứa của người lính giữa đất trời biên giới được hòa chung vào tình yêu quê hương xứ sở và vẻ đẹp của thiên nhiên vùng cao. Lúc này, miền biên giới đã tạm yên, thế nên những câu thơ đầu mở ra khung cảnh thật trong sáng yên bình: "Chiều biên giới em ơi/ Có nơi nào xanh hơn/ Như tiếng chim hót gọi/ Như chồi non cỏ biếc/ Như rừng cây của lá/ Như tình yêu đôi ta. Cảm xúc tự hào dâng trào trong những câu thơ tiếp theo: Chiều biên giới em ơi/ Có nơi nào cao hơn/ Như đầu sông đầu suối/ Như đầu mây đầu gió/ Như quê ta – ngọn núi/ Như đất trời biên cương".
Tuy tiếng súng đã tạm ngưng nhưng chúng ta vẫn luôn ở trong tư thế sẵn sàng để bảo vệ từng tấc đất của tổ quốc: "Chiều biên giới em ơi/ Đôi ta cùng chiến hào/ Gần nhau thêm bền chí/ Tình yêu là vũ khí/ Giữ đất trời quê hương". Ca khúc được viết ở giọng Si trưởng tươi sáng, khỏe khoắn, mang đậm âm hưởng phóng khoáng của núi rừng Tây Bắc. Cũng giống như ca khúc của Thuận Yến, bài hát Chiều biên giới sau khi nhạc sĩ Trần Chung phổ nhạc thường được hát với hình thức song ca nam nữ và được đông đảo thính giả cả nước yêu mến.
3. Hình tượng người lính biên phòng còn hiện lên qua những bài hát nổi tiếng khác với tâm hồn lãng mạn, thơ mộng, lạc quan, luôn nhắc nhở mình về lòng thủy chung son sắt: “Nếu em lên biên giới, em sẽ gặp bạt ngàn hoa. Hoa sim giữa đồi nắng gió, tím như ai chờ mong. Sắc hoa sim yêu thương trong lòng người lính trẻ. Chờ em nên tím ngát bồi hồi. Hoa sim, hoa sim, ta yêu từ ấu thơ, trong trang sách học trò trong những câu hẹn hò. Hoa sim hoa sim nơi đây dù bão giông không phai màu trong ta. Sắc lá vẫn xanh cánh tím nhớ mong hoa sim. Ơi màu tím quê hương ơi màu tím yêu thương” (Hoa sim biên giới - Nhạc và lời: Minh Quang).
Có thể cảm nhận người lính trong bài hát như vừa rời khỏi mái trường chưa lâu, trong lòng vẫn còn vấn vương nhiều cảm xúc của một thời đi học. Nếu người lính của thời chống Mỹ xếp bút nghiên lên đường ra trận thì người lính trong ca khúc của Minh Quang vừa xếp bút nghiên để đi lên tuyến đầu nơi biên giới, trở thành những anh bộ đội biên phòng.
Trong một ca khúc khác, tình yêu tuyệt đẹp của người lính với người con gái nơi núi rừng đã được kết se, vừa là tình yêu lứa đôi ấy vừa như thiên duyên vừa là tình quân dân gắn kết khăng khít: “Bản em lưng chừng núi lưng chừng đèo. Từng bậc thang lên xuống như cung đàn ngân dài. Một lần đi tuần tra anh tới. Gặp em bên suối hát gì. Mà rừng ban nở trắng xinh. Cùng lặng nghe em hát những yêu thương cuộc đời. Để lại bao thương nhớ trong lòng. Một cô gái miền núi đã thắp ngọn lửa tình. Rồi một hôm anh ghé qua thăm bản. Tìm gặp em cô gái nhen ngọn lửa tim mình. Bản làng vui điệu xòe hoa náo nức. Nhịp trầm thanh ru con lấp đất rung. Từ xa em đã thấy tôi. Rời cuộc vui em tới. Em trao tôi vòng nhỏ. Và từ ấy người lính có thơ tình. Tìm người yêu thì hãy qua thác ghềnh sẽ gặp. Một rừng ban nở trắng xinh. Một tình yêu tôi có nơi núi rừng mờ xa” (Thơ tình của núi - Nhạc và lời: An Thuyên). Người lính trở nên đẹp hơn, gần gũi hơn trong những câu chuyện rất thực của đời thường như thế.
Như vậy, người lính biên phòng đã trở thành một nguồn cảm hứng dồi dào cho nhiều ca khúc Việt Nam suốt hơn nửa thế kỷ qua, từ thời kháng chiến chống Mỹ cho đến giai đoạn sau 1975. Ở bất kỳ khoảng thời gian nào, những người lính biên phòng đều hiện lên với tinh thần hiên ngang, quả cảm, anh dũng, không bao giờ lùi bước trước khó khăn. Đồng thời tâm hồn các anh vẫn luôn giữ được vẻ đẹp trong trẻo, lãng mạn, luôn mở ra trước cuộc đời, hòa quyện tình yêu lứa đôi trong tình yêu quê hương đất nước.
Trong nhiều trường hợp, mối lương duyên giữa thơ và nhạc đã làm cho mỗi tác phẩm có thêm đời sống mới và ngày càng lan tỏa rộng rãi trong đời sống công chúng yêu văn nghệ. Hai ca khúc phổ nhạc điển hình Gửi em ở cuối sông Hồng (Nhạc Thuận Yến, thơ Dương Soái) và Chiều biên giới (Nhạc Trần Chung, thơ Lò Ngân Sủn) mà chúng tôi đã nhắc đến bên trên đã khẳng định được sức sống vượt thời gian của mình. Những ca khúc về người lính biên phòng góp thêm những vẻ đẹp đặc sắc vào dòng chảy các sáng tác viết về người chiến sĩ trong văn học nghệ thuật Việt Nam từ xưa đến nay.
Bình luận