Ngôi nhà Lưu niệm văn chương ở làng Điền Trì, một trầm tích văn hóa

Ngày xuân, người thì trải hội cầu may, giới văn nghệ sĩ lại có thú vui khám phá trầm tích văn hóa cổ xưa. Theo chân nhà thơ lớn Trần Nhuận Minh, tôi và nhà văn Dương Hướng đến một vùng đất, nơi quần cư lâu đời của nhà nông bên dòng sông Kinh Thầy, đất “địa linh nhân kiệt”.

Chúng tôi đã đứng trước thửa đất cổ, rộng khoảng 800m2, theo nhà thơ Trần Nhuận Minh, là đã có từ thời Trần, khi cụ Đại thượng tổ, thuộc dòng Chiêu Minh Đại vương, Thái sư Trần Quang Khải, ở Tức Mặc - Nam Định - để tránh sự truy sát của Hồ Quý Ly đã trốn về đây. Sát tường phía Bắc là nhà thờ của dòng họ Trần Điền Trì (con cháu trải qua 24 - 25 đời), đã được Nhà nước công nhận, cùng với phần mộ của 3 vị Tiến sĩ có công lớn với đất nước, là Di tích Lịch sử cấp Quốc gia.

Căn nhà của cha ông để lại, chỉ rộng khoảng hơn 60m2, cấp 4, xây dựng từ xưa, nay được Trần Nhuận Minh sửa sang lại, nới thêm 2 gian và hàng hiên, chỉ để lưu giữ những đồ gia dụng cũ của chủ nhân có niên đại trên nửa thế kỷ, cùng không gian trưng bày các tác phẩm được vinh danh, đồ lưu niệm, tượng nghệ thuật và tranh ảnh có giá trị về hai nhà thơ lớn của Việt Nam là Trần Nhuận Minh và Trần Đăng Khoa.

Ngôi nhà Lưu niệm văn chương ở làng Điền Trì, một trầm tích văn hóa - 1

Căn nhà, nơi sinh ra hai nhà thơ Trần Nhuận Minh và Trần Đăng Khoa, ở thôn Điền Trì, nay là Trực Trì, xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách (Hải Dương) được dùng làm nơi bảo tồn hiện vật cổ và không gian văn hóa, trưng bày tác phẩm văn học thành đạt của hai anh em nhà thơ.

Trần Nhuận Minh rời làng từ năm 1959, khi ấy Trần Đăng Khoa mới có 1 tuổi. Năm 1962, ông về Khu mỏ Hồng Quảng dạy học cấp 2, rồi đi học tiếp Khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Ông thành đạt trong sự nghiệp văn chương, trực tiếp tham gia thành lập Hội Văn nghệ Quảng Ninh và sau đó nhiều năm làm Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Ninh, ủy viên Hội đồng thơ Hội Nhà văn Việt Nam. Nay ở tuổi đại thọ, nhà thơ Trần Nhuận Minh vẫn sung sức trong sáng tác, có năm, như năm 2024 này, với sự tham gia của Hội đồng dịch thuật châu Âu, cùng một số dịch giả Việt Nam, ông đã được xuất bản đến 6 tác phẩm, trong đó có 3 tác phẩm  xuất bản và phát hành ở Canada, Hoa Kỳ và Hàn Quốc. 

Nhà thơ Trần Nhuận Minh có một gia sản văn chương đồ sộ, mới đây (12/2024) Nhà thơ Iakovos của Hy Lạp giới thiệu Nhà thơ Trần Nhuận Minh trên tạp chí văn chương Santorini (Hy Lạp): “Trần Nhuận Minh đã xuất bản 65 cuốn sách tại Việt Nam và quốc tế, trong đó có 49 tập thơ. Các tác phẩm của ông được nhiều người yêu thích, một số tác phẩm được tái bản từ 5 đến 34 lần chỉ riêng tại Việt Nam, giúp ông giành được Giải thưởng Kỷ lục Việt Nam cho nhà thơ được tái bản nhiều nhất trong thời kỳ Đổi mới kể từ năm 1986. Thơ và tiểu luận của ông đã được đưa vào sách giáo khoa trung học từ năm 1980 đến nay”. 

Thơ của Trần Nhuận Minh có nét khác biệt, chạm vào những nỗi trắc ẩn trong tâm hồn con người theo lối phá cách, không ủy mị, đắm đuối, cũng không tung hô gân guốc, mà đi vào lòng người, vừa giản dị hồn nhiên như văn hóa dân gian, vừa sâu sắc uyên bác của tư duy hiện đại. Trần Nhuận Minh còn được người hâm mộ văn hóa biết đến như một nhà thơ có tâm, có tầm trong lý luận phê bình văn học, trong nghiên cứu sử học ở Quảng Ninh và Hải Dương, một nhà hùng biện chân chính, bảo vệ khách quan các giá trị văn hóa và lịch sử. Vì thế 3 tác phẩm của ông ở thể loại này, đã được trao giải  Đào Tấn năm 2023.

Ngôi nhà Lưu niệm văn chương ở làng Điền Trì, một trầm tích văn hóa - 2

Nhà thơ Trần Nhuận Minh, bên giàn trầu ( trồng lại trên nền cũ) đã vào trang thơ của Trần Đăng Khoa năm 8 tuổi. 

Người em của Trần Nhuận Minh là Trần Đăng Khoa, hồn thơ và cây bút nổi danh “thần đồng” từ khi 8 tuổi, thì đài nói, báo đăng đã nhiều, nay càng kể càng như thấy thiếu. Nhưng không thể không nhắc lại người xưa cảnh cũ, với nỗi nhọc nhằn của cậu học trò nghèo, mà theo hồi ức của Trần Đăng Khoa thì lúc nào cũng đói. 

Khoa nói, “Tôi xung phong vào bộ đội, một phần vì ý thức bảo vệ Tổ quốc, một phần vì nghĩ rằng, ở đó, mình sẽ được ăn vã cơm” (nghĩa là được ăn no cơm mà cơm không phải độn ngô hay gốc rau muống già phơi khô, và hoàn toàn không cần thêm thức ăn gì).

Trần Nhuận Minh thuật lại trong Đối thoại văn chương, năm hơn 1 tuổi, Khoa đã chết đói, đã bó chiếu đem đi chôn, may mà có một thầy thuốc của làng còn kịp đến cứu chữa. Trần Đăng Khoa đang học lớp cuối cấp 10/10 (mùa xuân 1975) thì xung phong đi bộ đội, tham gia chiến đấu ở mặt trận Tây Nam và Campuchia, rồi lên biên giới phía Bắc, ra đảo Trường Sa. Khoa là nhà thơ Việt Nam duy nhất cầm súng ở Trường Sa với tư cách là một người lính.

Ngôi nhà Lưu niệm văn chương ở làng Điền Trì, một trầm tích văn hóa - 3

Không gian văn chương trưng bày kỷ niệm và các tác phẩm, tư liệu văn học, thư từ của nhà thơ Trần Đăng Khoa từ năm lên 8 tuổi đến nay.

Sau khi học ở Học viện Văn học thế giới Maxi Goocki ở Liên Xô, Khoa về Tạp chí Văn nghệ Quân đội, rồi sang làm Giám đốc Hệ phát thanh có hình, rồi làm Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Đài Tiếng nói Việt Nam, rồi sang làm Bí thư Đảng ủy, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, Tổng biên tập Tạp chí Nhà văn và Cuộc sống. Ở đâu Khoa cũng làm việc hết mình và luôn giữ được sự trong trẻo hồn nhiên mà ông có từ tuổi thơ.

Ngày xuân lòng người thanh thản, đặt chân vào căn nhà nhỏ nơi phát tích hai nhà thơ lớn, căn nhà nay làm mái nhà chung, trưng bày di tích gia tiên, không gian văn hóa khoa cử hậu duệ. Sắc xuân ấm lại những kỷ niệm thăng trầm của lịch sử, khi nhà văn Dương Hướng ngắm nghía một hồi, rồi hỏi nhà thơ Trần Nhuận Minh về chiếc chum nước cũ, vết nứt chằng chịt, vít bằng xi măng đặt ngay ngắn ở góc nhà. Trần Nhuận Minh nghẹn lòng bảo, đây là quả thực được chia cho gia đình ông - bần nông - vốn là tài sản của một bà địa chủ trong xóm, có con là liệt sĩ. Bà ấy nghèo đến mức có cái chum vỡ như thế này, đội cải cách cũng tịch thu để chia cho gia đình ông. Khi bà xuống thành phần trung nông lớp dưới, chính ông Minh đã khuân cái chum này đến trả lại, nhưng bà dứt khoát không nhận lại. Do đó ông Minh giữ làm kỉ niệm. 

Trong nhà trưng bày nhiều hiện vật quý giá, cũng rất hiếm có, trong đó có chiếc tràng kỷ bằng tre đã gẫy hết nan tre, mà như vẫn còn ấm hơi người, nhiều vị lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước, nhiều nhà thơ lớn Việt Nam, nhiều quan khách, nhà văn hóa lớn quốc tế ở Liên Xô (cũ), Cu Ba, Pháp… và các đoàn nhà văn, nhà thơ nổi tiếng của Mỹ, Canada, Pháp, Đài Loan đã ngồi tràng kỷ này. Bộ tràng kỷ nhỏ, căn nhà nông nhỏ, nhưng từng diễn ra những sự kiện văn hóa lớn.

Khi thăm gian trưng bày truyền thống gia đình, chúng tôi thấy trong tủ, ngoài các tác phẩm kinh điển về lịch sử, có những đóng góp đặc sắc của các cụ tổ nhà Trần Nhuận Minh được ghi lại từ thời Lê, thời Nguyễn, còn có các trước tác cũng có tính kinh điển của 4 đời nhà văn là các cụ tổ nhà Trần Nhuận Minh, các tác phẩm sử học, truyện và kí của Phó đô Ngự sử - Thương thư Trần Tiến, trong đó có Đăng khoa lục sưu giảngNiên phả lục - Trần Khiêm Đường niên phả lục. Với tác phẩm này, Trần Tiến đã khai sinh ra thể kí tự thuật trong văn xuôi Việt Nam từ 1764… 

Vì là gia đình có truyền thống khoa bảng, khi vua Hàm Nghi phát Hịch Cần Vương kêu gọi con cháu các quan triều, cùng các sĩ phu, hãy theo vua chống Pháp, cụ nội Trần Nhuận Minh là Trần Tấn đã đi theo Nguyễn Thiện Thuật. Khi cụ Tán Thuật sang Trung Quốc cầu cứu nhà Thanh, trao quyền chỉ huy cho con trai, Trần Tấn là tiểu tướng của vị chỉ huy mới này và đã hi sinh trong trận chống càn cuối cùng của giặc Pháp vào căn cứ Bãi Sậy. Điều này có ghi trong sách Địa chí Hải Dương. Chính vì lẽ đó, khi sang thăm Trung Quốc, Trần Nhuận Minh đã tìm đến bằng được gian phòng cụ Tán Thuật đã sống những ngày cuối cùng và chết ở đó… Trần Nhuận Minh có ghi lại sự kiện này trong Đối thoại văn chương.

Nhà Lưu niệm còn có một giường sách (đúng chữ ngày xưa gọi là Thư tịch) gồm các tác phẩm của 2 anh em nhà thơ và các nhà văn, nhà thơ khác, làm thư viện nhỏ để mở, cho các thầy cô giáo và các cháu học sinh địa phương đến đọc…

Lại nhớ trước đây, nhà thơ lớn Xuân Diệu đã đi lại nhiều lần trên cái sân này mà ông coi là sân khấu của bài thơ Mưa rất “xuất sáo” của Khoa  (chữ của Xuân Diệu, ông coi là cao hơn “xuất sắc”) nay tôi và Dương Hướng cùng đi trên sân này và hình dung trước đây, đã từng qua đây vua Lê Hiển Tông, các danh nhân lớn, như Nguyễn Nghiễm, thân phụ đại thi hào Nguyễn Du, Lê Hữu Kiều, phu quân nhà thơ Đoàn Thị Điểm, Lê Trọng Thứ, thân phụ nhà bác học Lê Quí Đôn… cùng 45 nhà thơ khác của triều đình còn để lại thơ trong Niên phả lục của Trần Tiến đã 2 lần xuất bản, mà lần đầu trên báo Nam Phong của cụ Phạm Quỳnh… mà hình dung tại đây, khi Thái bảo Trần Cảnh mất, vua Lê viết điều văn, triều đình nghỉ việc 3 ngày… khi Phó đô Trần Tiến mất, vua sai tể tướng Nguyễn Khản, anh ruột Nguyên Du, Công bộ hữu thị lang Lê Quí Đôn về lo Lễ tang… Trần Quí Nha đã ghi những sự kiện đó trong cuối cuốn Niên phả lục… mà nghĩ đến những giá trị trường tồn của một vùng văn hóa xứ Đông…

Bên phải ngôi Nhà Lưu niệm này, Trần Nhuận Minh xây ngôi nhà mới làm nơi ăn nghỉ của anh em con cháu gia đình ngày giỗ Tết,  cũng là nơi tụ tập nghỉ ngơi sáng tác của một số nhà thơ bạn bè thân thuộc. Nhiều nhà thơ từ Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Nguyên, Thái Bình… đến xa hơn như TP Hồ Chí Minh, Vũng Tàu,  Đồng Nai… và một vài đoàn nhà văn nước ngoài như Pháp, Hoa Kì. Đài Loan… đã ghé qua thăm, trên đường đến với Côn Sơn, Kiếp Bạc… 

Nhà văn Dương Hướng cùng nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà văn hóa đã qua đây, đều có chung nhận xét: Những hiện vật rất có giá trị bảo tồn - bảo tàng, nghiên cứu khoa học và văn chương… được trưng bày tại Nhà Lưu niệm Văn chương Điền Trì cùng những âm hưởng của nó, hiển nhiên là một góc bảo tàng nhân dân, thêm điểm nhấn về Điền Trì làng cổ, trầm tích lịch sử văn hóa, không những của xứ Đông mà còn của cả Việt Nam.

Vũ Phong Cầm

Tin liên quan

Tin mới nhất

Tôi vẽ “sư phụ” Tề Bạch Thạch

Tôi vẽ “sư phụ” Tề Bạch Thạch

Hai họa sỹ cự phách có tầm ảnh hưởng lớn đến cuộc đời cầm cọ của tôi, một là người Việt – Nam Sơn Hoạ gia - Nguyễn Vạn Thọ (1890 - 1973) và hai là Tề Bạch Thạch (1864 - 1957), tên thật là Tề Thuần Chi, một Danh họa, triện khắc gia nổi tiếng và kiệt xuất người Trung Quốc. Ông còn có biệt hiệu là Tề Hoàng và Tề Vị Thanh. Ông nổi tiếng với bút pháp đại tả ý, nét vẽ thâm hậu,

Người lĩnh xướng “Tổ quốc gọi tên mình” trong dàn đồng ca Hoa hậu Việt Nam

Người lĩnh xướng “Tổ quốc gọi tên mình” trong dàn đồng ca Hoa hậu Việt Nam

Những ngày ở Vinpearl Phú Quốc tham gia tổ chức Cuộc thi Hoa hậu Việt Nam 2014, tôi thường cùng nhà báo Hồng Vĩnh dậy sớm đón minh ló rạng từ phía biển xa, nhấp nhô trên những con sóng xanh vỗ về đảo ngọc. Các thí sinh sẽ cùng ca sĩ Tạ Minh Tâm lên tàu ra đảo Đồi Mồi, một hòn nhỏ gần Phú Quốc để thực hiện cảnh quay trong MV “Tổ quốc gọi tên mình”. Đã nhiều ngày qua, ca sĩ Tạ Minh T