Kiến tạo sức mạnh mềm từ nguồn lực văn hóa
Bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam không chỉ là sự cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW, mà còn gợi mở một cách tiếp cận mới về vai trò của văn hóa, mà điểm nổi bật nhất chính là việc đặt văn hóa vào vị trí của một nguồn lực nội sinh, một sức mạnh mềm quốc gia và một động lực trực tiếp của phát triển bền vững.Đó là sự chuyển dịch từ tư duy coi văn hóa là lĩnh vực cần bảo tồn, gìn giữ sang tư duy xem văn hóa là nguồn lực có khả năng tạo ra giá trị mới, thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Khi thế giới bước vào kỷ nguyên kinh tế sáng tạo và chuyển đổi số, sức mạnh của một quốc gia không chỉ được đo bằng quy mô nền kinh tế hay tiềm lực khoa học - công nghệ, mà còn bằng khả năng tạo dựng hình ảnh và tầm ảnh hưởng thông qua bản sắc, giá trị và năng lực sáng tạo. Trong bối cảnh hiện nay, những chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm mang ý nghĩa đặc biệt, một định hướng chiến lược cho quá trình phát triển văn hóa Việt Nam trong giai đoạn mới.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại Phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam - Ảnh: TTXVN
Điều đáng suy ngẫm là bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm không chỉ khẳng định tiềm năng, mà đã thẳng thắn chỉ ra những khoảng trống đang cản trở sự phát triển của văn hóa. Đây là cách tiếp cận rất thực tiễn. Việt Nam không thiếu di sản, không thiếu truyền thống và cũng không thiếu những con người tâm huyết với văn hóa. Tuy nhiên, giữa tiềm năng và khả năng chuyển hóa những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển vẫn còn một khoảng cách đáng kể. Chúng ta có nhiều giá trị văn hóa đặc sắc, nhưng số lượng sản phẩm văn hóa có sức cạnh tranh trong khu vực và quốc tế còn hạn chế. Chúng ta có đội ngũ sáng tạo giàu năng lực, nhưng môi trường để khuyến khích tài năng, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hình thành các sản phẩm có giá trị gia tăng cao vẫn còn nhiều rào cản. Khoảng cách ấy cho thấy vấn đề không còn nằm ở việc có hay không có nguồn lực văn hóa, mà ở năng lực chuyển hóa nguồn lực ấy thành sức mạnh phát triển.
Việt Nam là quốc gia giàu bản sắc văn hoá với một kho tàng di sản phong phú nhưng những giá trị làm nên sức mạnh mềm ấy còn chưa thật sự được khai mở tối đa, chưa được hiện đại hóa và còn hạn chế trong việc hình thành những sản phẩm sáng tạo và chưa tạo được ảnh hưởng đối với xã hội. Chính vì thế, các sản phẩm văn hoá còn chưa đóng góp thiết thực vào nền kinh tế của đất nước và hội nhập quốc tế.
Đó cũng là lý do tôi đặc biệt tâm đắc với yêu cầu đặt ra của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về việc chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển. Trong nhiều năm, chúng ta vẫn quen tiếp cận văn hóa dưới góc độ quản lý hành chính, tập trung vào việc bảo tồn, cấp phép, kiểm soát hay tổ chức hoạt động. Cách tiếp cận này không đủ để đưa văn hoá trở thành ngành công nghiệp có sức cạnh tranh trên trường quốc tế để có thể gia tăng sức mạnh mềm quốc gia.
Kiến tạo phát triển đòi hỏi Nhà nước không chỉ dừng lại ở vai trò quản lý mà phải trở thành chủ thể tạo lập môi trường. Điều này cần được cụ thể hóa bằng những công cụ thể chế đột phá: tháo gỡ các rào cản tài chính để thu hút đầu tư theo mô hình hợp tác công - tư (PPP) trong lĩnh vực nghệ thuật, thành lập các quỹ hỗ trợ sáng tạo độc lập, thực thi chính sách ưu đãi thuế cho doanh nghiệp đầu tư vào văn hóa, và đặc biệt là hoàn thiện khung khổ bảo hộ sở hữu trí tuệ - “xương sống” của nền kinh tế sáng tạo.

Ảnh minh họa
Một hệ sinh thái văn hóa hiện đại phải là nơi các nhà quản lý hiểu văn hóa, nghệ sĩ có điều kiện cống hiến, doanh nghiệp nhìn thấy giá trị thương mại lẫn giá trị xã hội của văn hóa để sẵn sàng đầu tư, đồng hành. Chỉ khi các chủ thể ấy được kết nối bằng một thể chế linh hoạt, văn hóa mới có môi trường rộng mở để phát triển.
Trong tư duy phát triển mới, công nghiệp văn hóa giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Công nghiệp văn hóa không chỉ là câu chuyện của điện ảnh, âm nhạc hay nghệ thuật biểu diễn, mà là khả năng chuyển hóa vốn văn hóa thành giá trị kinh tế và sức ảnh hưởng quốc gia.
Thực tiễn tại Việt Nam thời gian qua từ các kỳ Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội, Lễ hội Pháo hoa Đà Nẵng, Ký ức Hội An, Về miền Di sản… đến sự bùng nổ của các quy mô concert âm nhạc mang tầm quốc gia, hay những chương trình biểu diễn quốc tế diễn ra trong các nhà hát với sự xuất hiện của nhiều nhà hát, Dàn nhạc danh tiếng toàn cầu với mức đầu tư lên tới vài chục tỷ đồng; những bộ phim điện ảnh phá kỷ lục doanh thu - cho thấy thị trường văn hóa Việt Nam đang sở hữu dồi dào sức hút và dư địa phát triển, tiệm cận gần tới công nghiệp văn hoá.
Một điểm nhấn mang tính bước ngoặt khác trong bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là yêu cầu xây dựng chủ quyền văn hóa trên không gian số.
Trong kỷ nguyên công nghệ số và Trí tuệ nhân tạo (AI), không gian văn hóa đã vượt ra khỏi phạm vi nhà hát, thư viện hay bảo tàng để mở rộng lên các nền tảng xuyên biên giới. Xây dựng chủ quyền văn hóa trong bối cảnh này không đơn thuần là số hóa tài liệu hay bảo vệ dữ liệu di sản, mà là khả năng ứng dụng AI, thực tế ảo (VR/AR) và Big Data để nâng cao chất lượng sáng tạo, cá nhân hóa trải nghiệm và chủ động lan tỏa giá trị của văn hoá Việt Nam ra toàn cầu.
Đồng thời, đó còn là năng lực tạo lập một "màng lọc văn hóa" đủ sức đề kháng trước các nguy cơ xâm lăng văn hóa, sự phai nhạt bản sắc hay thông tin sai lệch từ các thuật toán nền tảng. Một quốc gia không thể có sức mạnh mềm nếu hình ảnh và giá trị văn hóa của mình vắng bóng hoặc bị lấn át trên môi trường số.
Để hiện thực hóa những định hướng đó, điều then chốt vẫn là đổi mới thể chế và phân bổ lại nguồn lực. Trong bối cảnh toàn hệ thống chính trị đang đẩy mạnh tinh gọn tổ chức bộ máy, lĩnh vực văn hóa cần thực hiện tinh gọn theo hướng tối ưu hóa chi phí vận hành hành chính. Khơi thông nguồn lực từ chính các tổ chức không sử dụng ngân sách nhà nước, hoạt động có hiệu quả để thúc đẩy xã hội hoá trong lĩnh vực văn hoá. Tinh gọn không có nghĩa là cắt giảm ngân sách cho văn hóa, mà là chuyển dịch nguồn lực: giảm chi tiêu bộ máy để dồn ngân sách trực tiếp cho các Quỹ phát triển nghệ thuật, đặt hàng các tác phẩm tầm vóc, tài trợ cho các tài năng trẻ và hạ tầng sáng tạo.
Tóm lại, văn hóa không thể phát triển nếu thiếu nhân tố con người. Sức mạnh mềm của một quốc gia không chỉ kết tinh ở các sản phẩm nghệ thuật mà hiện hữu trực tiếp qua hình ảnh đất nước, con người Việt Nam. Mọi thể chế hay nguồn lực tài chính chỉ thực sự phát huy tác dụng khi hướng đến việc giải phóng sức sáng tạo, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể sáng tạo (sở hữu trí tuệ) từ đó nuôi dưỡng và thúc đẩy người nghệ sĩ dấn thân cho lao động nghệ thuật với tâm huyết và một tâm thế đủ mạnh để góp phần hiện thực hóa chiến lược phát triển văn hoá Việt Nam trong thời đại mới.
Và cuối cùng, điều tôi muốn nhấn mạnh chính là thông điệp mà bài phát biểu của Tổng Bí thư gửi gắm - Đó chính là yêu cầu chuyển hóa toàn diện: chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo; từ bảo tồn thụ động sang bảo tồn gắn liền với sáng tạo; từ tiềm năng ẩn giấu thành sức mạnh thực tế; và từ bản sắc văn hóa thành sức mạnh mềm quốc gia. Một dân tộc chỉ thực sự mạnh khi biết biến ký ức thành năng lực sáng tạo, biến di sản thành nguồn lực phát triển và đưa văn hóa trở thành tấm hộ chiếu định danh vị thế đất nước trên bản đồ thế giới trong kỷ nguyên mới.
Bình luận