Long mạch của Thăng Long

Hà Nội xa xưa là làng Long Đỗ nhưng thường được gọi với cái tên Tô Lịch. Theo sách Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, Tô Lịch là tên của vị trưởng làng.

Vì có nhiều công lao nên khi ông mất, người dân lấy tên ông đặt tên làng, sau đó ông được phong là Long Đỗ thần hay Tô Lịch giang thần. Trải qua các giai đoạn lịch sử, Tô Lịch còn có nhiều tên khác như: Lai Tô, Hương Bài, Địa Bảo nhưng dân chúng Thăng Long thường gọi là sông Tô.

Long mạch của Thăng Long - 1

Sông Tô Lịch đoạn chảy qua quận Cầu Giấy. 

Ảnh: Khánh Huy

Tô Lịch được coi là long mạch của thành Thăng Long. Con sông này lấy nước sông Thiên Phù (chi lưu của sông Hồng) ở ngã ba Giang Tân (nay là khu vực chợ Bưởi) rồi chia làm hai nhánh. Một nhánh chảy xuống phía nam, qua huyện Thanh Trì, một nhánh chảy qua các làng Yên Thái, Hồ Khẩu, Thụy Khuê, qua phố Quán Thánh, Hàng Lược, ngoặt lại qua chợ Đồng Xuân xuống Ngõ Gạch chạy ra Hàng Buồm, nối với sông Hồng gọi là Giang Khẩu (sau kiêng húy chúa Trịnh Giang đổi thành Hà Khẩu). Vì đoạn cửa sông Thiên Phù chỗ tiếp giáp với sông Hồng ở Nhật Tân cao hơn so với Giang Khẩu nên nước ở Tô Lịch lại chảy ra sông Hồng, người phương Bắc thấy vậy cho rằng sông Tô là “nghịch thủy”. Lo sợ sự không bình thường ấy, họ tổ chức tế lễ Tô Lịch giang thần ở đền Bạch Mã và phong ông là “Đô Phủ Thành hoàng thần quân”.

Từ đầu Công nguyên về sau này, trên sông Tô Lịch diễn ra nhiều sự kiện mang tính dấu mốc. Sau khi Lý Nam Đế khởi nghĩa chống quân Tống giành thắng lợi đã thành lập nhà nước Vạn Xuân năm 544. Năm 545, ông cho dựng tòa thành sơ sài bằng tre ở cửa sông gọi là “Tô Lịch giang khẩu mộc sách”. Đây là sự khai mở đầu tiên cho việc xây thành đắp lũy và cũng là tiền đề hình thành đô thị Thăng Long - Hà Nội. Nhiều thế kỷ sau, ở “Tô Lịch giang khẩu mộc sách”, khi Lý Công Uẩn rời Hoa Lư dừng thuyền ở đây đã “thấy rồng vàng bay lên ở thuyền ngự, nhân đó đổi tên gọi thành Thăng Long”. Cái tên Thăng Long có xuất xứ từ sông Tô Lịch.

Sông Tô đẹp và hiền dịu trong thơ ca nhưng cũng hung dữ khi sông Hồng, sông Thiên Phù nổi giận. Năm 824, chính quyền đô hộ nhà Đường dời phủ từ Long Biên về huyện Tống Bình gần sông Tô Lịch. Cao Biền huy động 25.000 dân để lập lũy và cũng là đê quanh thành Đại La. Năm 886, nhà Đường cho sửa lại bốn mặt lũy, dài 1982 trượng 5 thước (7.930m), cao 2 trượng 6 thước (10,4m). Nhưng ít năm sau, nước sông Tô Lịch dâng cao và tràn vào phủ trị, nhà Đường lại cho đắp đê bao bọc ngoài phủ dài 2.125 trượng (8.500m) gọi là Đại La thành. Một phần của lũy này là đường Hoàng Hoa Thám ngày nay.

Sông Tô là đường giao thông quan trọng nối từ đông sang tây kinh thành nên nhiều đoạn trên bến dưới thuyền bán buôn tấp nập. Chợ nổi tiếng nhất thời Lý là chợ Bạch Mã, tức chợ Đông ở gần Giang Khẩu. Thời Lý, Trần, các vua thường đi thuyền rồng dạo chơi trên sông Tô, đến cầu Mọc thì dừng lại vì ở đây có đình Lý Thôn, quanh đình có phong cảnh đẹp.

Dọc theo sông Tô xưa có nhiều cầu. Đoạn qua Thụy Khuê có cầu Cau, gần đền Đồng Cổ có cầu Thái Hà, cầu Tây Dương (nay là Cầu Giấy), cầu Cót, cầu Mọc. Thế kỷ XVIII, đời chúa Trịnh Doanh, ông Nguyễn Hữu Thiêm người làng Mọc là Thảo chính sứ Tuyên Quang - Hưng Hóa đã bỏ tiền làm 7 cây cầu trên sông Tô bắt đầu từ cầu Cót, tiếp đó là cầu Trung Kính, Mọc, Giát (bị phá thay bằng cầu mới), Lủ, Minh Kính (từ Định Công sang Lủ) và cầu Quang (từ làng Bằng sang làng Quang).

Sông Tô đoạn chảy qua nam hồ Tây còn là con sông của trai thanh gái lịch trong những đêm trăng trong gió mát: “Biết nhà cô ở đâu đây/ Hỡi trăng Tô Lịch hỡi mây Tây Hồ?”.

Xưa làng Hồ Khẩu và Yên Thái làm giấy đều ngâm dó và đổ bọt giấy ra sông Tô. Nửa đầu thế kỷ XVIII, sông Hồng đổi dòng, cát bồi lấp cửa sông Thiên Phù nên sông này thành “sông chết”, vì thế Tô Lịch mất nguồn cấp nước. Mùa khô, nước sông Hồng cạn, không thể cấp cho Tô Lịch và hồ Tây. Nhưng mùa mưa, nước sông Hồng dâng cao lại qua Giang Khẩu chảy vào Tô Lịch. Khi sông Hồng đổi dòng, cát bồi lấp Giang Khẩu, nước không thể chảy vào nên Tô Lịch trở thành “sông chết”. Năm 1889, người Pháp cho lấp khúc sông gần Hàng Chiếu làm chợ Đồng Xuân, sau đó làm cống ra đến tận trường Bưởi (nay là Trường THPT Chu Văn An) rồi lấp tiếp ra đến chợ Bưởi.

Hiện nay sông Tô Lịch vẫn còn, bắt đầu từ đường Hoàng Quốc Việt chảy qua Cầu Giấy xuống phía nam thành phố, tuy nhiên từ lâu, con sông lịch sử này bị ô nhiễm và có chức năng như cống thoát nước lộ thiên. Hiện Hà Nội đã có dự án xử lý nước thải trước khi đổ xuống sông Tô để có lại làn nước trong xanh xa xưa.

Theo Hà Nội mới

Nguồn hanoimoi.com.vn

Tin liên quan

Tin mới nhất

“Chiến Nam: Ve sầu thoát xác”: Hành trình bền bỉ và kỳ vọng bứt phá của phim võ thuật Việt

“Chiến Nam: Ve sầu thoát xác”: Hành trình bền bỉ và kỳ vọng bứt phá của phim võ thuật Việt

Ngày 10/1, tại Hà Nội, Thời báo Văn học nghệ thuật phối hợp Hãng phim Kunva tổ chức giới thiệu bộ phim điện ảnh “Chiến Nam: Ve sầu thoát xác”. Sự kiện không chỉ đánh dấu cột mốc ra mắt dự án phim hành động – võ thuật được đầu tư công phu, mà còn là lần đầu tiên môn phái Votado được đưa lên màn ảnh rộng, mở ra một cách tiếp cận mới cho dòng phim thực chiến tại Việt Nam.

Chương trình “Tụ hội Sáng tạo” - Hành trình đến Lễ hội Thiết kế Sáng tạo 2026

Chương trình “Tụ hội Sáng tạo” - Hành trình đến Lễ hội Thiết kế Sáng tạo 2026

Trong hai ngày 10 và 11 tháng 1 năm 2026, tại không gian phố đi bộ hồ Hoàn Kiếm (Hoàn Kiếm - Hà Nội), Thành phố Hà Nội tổ chức chương trình “Tụ hội Sáng tạo”, nhằm kết nối các nguồn lực sáng tạo, khơi gợi các ý tưởng, mở đầu cho hành trình hướng tới Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội diễn ra vào tháng 11/2026.

Ấn bản “Kim Vân Kiều”: Tôn vinh di sản Nguyễn Du qua lăng kính quốc ngữ và hội họa

Ấn bản “Kim Vân Kiều”: Tôn vinh di sản Nguyễn Du qua lăng kính quốc ngữ và hội họa

“Kim Vân Kiều” vừa được Nhã Nam phát hành là ấn bản đầu tiên có sự hội tụ hiếm có của ba di sản lớn là di sản văn chương của Nguyễn Du, di sản quốc ngữ của Nguyễn Văn Vĩnh và di sản hội họa của Nguyễn Tư Nghiêm. Tất cả tạo nên một không gian thẩm mỹ, tôn vinh giá trị trường tồn của kiệt tác văn chương dân tộc, đồng thời nhìn lại lịch sử phiên âm, chú giải ra quốc ngữ

Sông vua và tâm thức biển

Sông vua và tâm thức biển

Bảy giờ rưỡi sáng, ngày đầu tháng Bảy. Ga quốc tế sân bay Đà Nẵng thông thoáng với chuyến bay đến sớm và duy nhất trong ngày từ Bangkok. Khách của tôi cũng sẽ là nữ hành khách duy nhất xuất hiện ở lối ra trong trang phục Hồi giáo truyền thống, baju kurung. Nghĩ tới đó, tôi bất giác cười mỉm. Cười cô ấy chăng? Tất nhiên không. Cười mình chăng? Cũng không. Chỉ có thể là cái cảm giác vu